Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

DÁNG DẤP MỘT SẮC HƯƠNG, bài viết của Nguyễn Thị Phụng.

 

DÁNG DẤP MỘT SẮC HƯƠNG


(Đọc Bóng hoa-Tập truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng- NXB.HNV.2024).

                         (Đọc Bóng hoa-Tập truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng- NXB.HNV.2024).

         Thể minh chứng đặt tựa đề cho tập truyện ngắn của mỗi tác giả, không là sự trùng lặp thông qua cốt truyện nhằm nêu bật chủ đề khai thác đặc điểm nhân vật. Nếu như trên vùng đất văn chương Bình Định, Bóng Rồng (2020) tập truyện ngắn đầu tay viết về đề tài lịch sử của Nhà văn Triều La Vỹ rất đậm chất thơ, ở Phạm Hữu Hoàng lại đậm chất văn: Bóng hoa (2024) là tập truyện thứ tư, sau Vương pháp (2009), Đêm ảo huyền (2015), Nguyệt cầm (2020) tất cả phảng phất thông điệp nhẹ nhàng mà trăn trở về các nhân vật lịch sử thời quá khứ, cùng với góc nhìn về những con người thời hiện đại. Với thể tài truyện ngắn, anh được vinh danh ba lần Giải B, Giải thưởng VHNT. Đào Tấn - Xuân Diệu cho ba tập truyện ngắn của mình.

           Dáng dấp Bóng hoa. Không là đối chiếu nhưng tiếp nối phần nào cái hay trong truyện lịch sử há thể vin vào uy quyền chế độ quân chủ làm mất đi những ứng xử văn hóa tự lòng người rất nhân hậu. Cũng như nội dung mượn tên các nhân vật lịch sử nói chung, cách Phạm Hữu Hoàng đưa nhân vật chính vào tình huống thử thách đối với bậc trung quân, khi đứng trước nguy cơ vận mệnh của dân tộc trong cuộc nội chiến thời Trịnh- Nguyễn, Tây Sơn, … cần chọn lựa việc bảo vệ vương triều và tình riêng gia đình, lưu lại hậu thế về một góc nhìn giữa tham vọng quyền lực đã có từ xa xưa. Bên cạnh vẫn duy trì cái đẹp kiên trinh, thuần khiết.

           Con người thời cuộc trong truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng.

           Đó là truyện Hoàng hoa tiên tử, viết về Trương Văn Đa- con thầy giáo Trương Văn Hiến là một tuấn kiệt đa mưu túc trí, từ buổi đầu theo Nguyễn Nhạc, được trọng dụng và cân nhắc làm phò mã, gã con gái Nguyệt Hương cho Trương Văn Đa. Khi tình hình phía Nam, Gia Định rơi vào tay Nguyễn Ánh, Trương Văn Đa xin được chinh Nam cùng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ. Hình ảnh Trương Văn Đa với vườn hoa tiên tử trong ba thời điểm: đó là sự ra đời của Nguyệt Hương và gắn với tình yêu với nàng; Thứ nữa, Trương Văn Đa thể là võ tướng, gắn bó với thiên nhiên, đưa Nguyệt Hương thăm thú vườn cây, kênh rạch,… và vườn hoa tiên tử trồng sau ngày dẹp yên giặc ở phía nam. Nhưng sau đó nội bộ bất hòa, thế cờ đảo ngược Trương Văn Đa bị giam và được thoát thân là nhờ vào quản ngục là người nhà với Nguyệt Hương. Sau cùng, từ nơi ẩn mình, Trương Văn Đa cũng bị phát hiện ra tình yêu vườn hoa tiên tử mà Vua Gia Long phát lệnh truy tìm. Trong mối giao lưu thâm tình, quan tri huyện sở tại thanh liêm hiền đức ứng xử rất nhân văn, cũng là cơ hộiTrương Văn Đa thỏa nguyện ra đi kết liễu đời mình về tình yêu bất tử đầy thăng hoa cảm xúc.

            Nói đến tựa truyện Én liệng truông mây, lại nhớ đến câu ca dao: “Chiều chiều én liệng truông mây/ Cảm thương chú Lía bị vây trong thành” phần nào giữa hai hình ảnh đối lập cánh chim và con người từ góc nhìn đâu chỉ thời kì ở Đàng trong chúa Nguyễn Phúc Khoát ăn chơi hưởng lạc. Quốc cữu Trương Phúc Loan chuyên quyền, quan lại bất chấp thủ đoạn vơ vét, luồn lách, riêng Lía ngỡ sức mạnh phi thường mà há thắng được bản ngã. Từ mối thâm tình đón nhận Vi Thượng ở Truông Mây, mà trước đó đã hàm ơn Vi Thượng- giàu nghị lực, văn võ song toàn, che chở cứu nguy hai mẹ con Lía. Để rồi hiểu được sự tình, Vi Thượng khuyên Lía giương cao cờ nghĩa, chống lại triều đình, được các nạn nhân theo về một mối. Nhân cơ hội cuộc thi võ nghệ mà tiến công vào phủ thành Quy Nhơn diệt Đinh Phiệt, tên quan Tuần phủ ấy đi kinh lí đã cho thuộc hạ cướp Trúc Nhã, cô gái đẹp nhất làng đang chờ ngày đại hỉ cùng Vi Thượng. Lía chấp nhận kế sách của Vi Thượng cứu Trúc Nhã. Ngược lại, tình đời khó đoán, Trúc Nhã rơi vào tay Lía, khi về Sơn trại bắt giam Vi Thượng với ý đồ: “Hay là giết phắt nó đi, Trúc Nhã không còn gì tơ tưởng, mình dễ dàng đạt mục đích”. Nhưng bất chợt lại nhớ tới ơn tri ngộ… nên không thể. Ân nghĩa tình đời cũng là thử thách lớn trong Lía lúc này. Lía bị rơi vào kế sách của quân triều đình đột ngột rút lui kết hợp với Trúc Nhã trong bữa tiệc khao quân. Khi tỉnh ra, biết mình bị lừa đành bất lực vùng dậy mang cả tấm phản bị trói vào thân chạy về bóng đêm mịt mùng… Âm thanh tiếng sáo Vi Thượng bên mỏm đá nơi Truông mây, đàn én bay về chỉ có được lúc này thể như chắp cánh cho tình yêu Vi Thượng và Trúc Nhã. Những rắp tâm phản nghịch mong chiếm đoạt đều bị thất bại, đớn đau. Nếu đề cao sức mạnh thể lực chưa kết luận được về người anh hùng, nếu thiếu dũng khí, ân tình. Cái kết Én liệng Truông Mây đã phần nào cảm thương chú Lía từ dân gian lưu lại trong cách xây dựng nhân vật của Nhà văn Phạm Hữu Hoàng đủ tường minh thể như bộ phim tình sử.

              Còn đối với bậc cao nhân Cao Bá Quát trong Man mác bên đời trọng hiền tài biết bài thi Lê Bân bị phạm húy trong khoa thi Hương năm Tân Sửu(1841) đã bất chấp dùng son hòa muội đèn chữa lại trong bài sơ khảo. Nên khi đang trong ngục, Cao Bá Quát được Lê Bân xin làm học trò, hiếu trọng khâm phục và ngưỡng mộ Cao Bá Quát. Bởi hiểu được Cao Bá Quát căm ghét bọn Tây Dương, gần gũi với dân cùng bảo vệ mùa màng, vận động thổ hào, sĩ phu,… quyên góp tiền của thóc gạo cứu đói cho dân. Từ bài hịch đầy nghĩa khí của Cao Bá Quát, để rồi trong tình thế nguy cấp lúc chống lại quân triều đình nhu nhược, Lê Bân toàn tâm khí khái hiệu lệnh: “Nghiệp lớn thành bại ở trong tay Quốc sư. Vì đại cục, hãy đưa áo choàng cho học trò và đi mau”.   Thanh ấm tiếng địch và những bài thơ Cao Bá Quát bên đời giữa núi rừng lúc ấy còn vọng lại đến hôm nay.

          Những nhân vật như Lê Sơn trong Huyết Lệ Chi thời Lê đã dụng mưu thua kế đàn bà, bị cuốn vào cuộc tranh chấp quyền lực chốn cung đình, thành tội nhân mà phụ lòng ân sư Nguyễn Trãi. Sự trăn trở của Lê Sơn không chỉ vì tình riêng mà còn nói đến tính cách con người khi bàn tay lỡ nhúng chàm thì không tẩy sạch. Cũng là tiếng nói của lương tri không vì mình mà hại người.

            Còn trong Ngun ngút cờ lau viết thời Đinh Tiên Hoàng thế kỉ thứ VIII, một Đinh Quốc Công- Nguyễn Bặc cùng bề tôi trung thành nhà Đinh chống lại Lê Hoàn đã thất bại, đầy trăn trở cho cái kết ngậm ngùi. Khi không lo mối nguy dã tâm nhà Tống xâm lược mà lại vướng vào chốn hậu cung.

           Hình ảnh từ  hoàng cung, khuê các trong truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng. Nói đến nơi khuê các, hoàng cung ở đây là dáng dấp vẻ đẹp về người phụ nữ có là vai trò quyết định vương triều thành bại hay không. Nhưng sự đối lập vốn có ở mỗi người.

            Nếu như vẻ đẹp tâm hồn của một Nguyệt Hương trong Hoàng hoa tiên tử đâu chỉ là sức mạnh từ một tình yêu chân chính mà còn là niềm tin cho Trương Văn Đa quyết chí lập công.

            Hay một Trúc Nhã đoan trang biết tự bảo vệ mình, khi bị bắt vào biệt phủ biết phối hợp kế bày để trói được Lía, vì háo sắc quên nghĩa nhân trong Én liệng Truông Mây.

             Hay một Giọt lệ nàng An Nhiên thời chúa Nguyễn Phuc Xuân, không ngại gian nguy, “nằng nặc: - Xin được theo chàng, gian lao đến mấy thiếp cũng chịu được” từ đón nhận không gian núi rừng thiên nhiên tráng lệ đẹp đẽ hiện ra trước mắt khác hoàn toàn dinh thự nguy nga gò bó tâm hồn khoáng đãng, để tháp tùng Tôn Thất Quyền, khuyên chàng tận trung báo quốc. Rồi, gặp hiểm nguy Tôn Thất Quyền tử trận, dẫn đến đau xót cho nàng An Nhiên, mà luận ra thắng thua thành bại thì đời ta biến hòa theo mây trời. Chỉ vẻ đẹp tình người mãi lưu giữ bền lâu.

           Đến truyện Duyên nợ trùng sinh, vẫn là nội chiến thời Trịnh – Nguyễn, nhà Tây Sơn, viết về Lê Văn Hưng với Ngọc Bích, chờ ngày nên vợ nên chồng, nàng bị Hắc Liệt dùng uy quyền cho người cướp về với dã tâm chiếm đoạt, nhưng nàng tự vẩn, để rồi trong giấc mơ tái hiện, trong hiện thực cảm xúc dạt dào sau thanh âm của người ca kỹ: “Lời thề xưa luôn nhớ/ Tha thiết nỗi mong chờ/ Long riêng ai thấu tỏ/ Đến bao giờ đoàn viên…”. Sự tái hiện một Ngọc Bích trong tiếng đàn lời ca ai oán là hình tượng khí tiết trung trinh cho tình tiết cái kết siêu thực ám ảnh, đó là phải thay đổi nhận thức lấy chữ nhân làm trọng.

         Giá trị văn chương truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng vừa là thông điệp thẩm mĩ cho người tiếp nhận, đồng cảm luôn mở rộng trái tim chân tình duy trì sự sống đầy ý nghĩa hơn.

        Bóng hoa, là một trong sáu truyện hiện đại lại tiếp nối dẫn dắt niềm đam mê hướng đến cái đẹp trong cuộc sống. Đứng trước sự lựa chọn cho lối thoát tâm hồn đối chiếu. Mở ra nhân vật ông Nguyện, người ba đã nhờ “gã” dưa đến cuộc họp mặt bạn bè… Nếu cuộc đời là bức tranh vẽ, “gã” chọn bức tranh vẻ đẹp Bóng hoa là cách sẻ chia đời “gã” va vấp thực tế không mong muốn. Cũng là chủ ý nhà văn sắp xếp Duyên nợ trùng sinh (truyện lịch sử) tiếp đến Bóng hoa (truyện hiện đại) đều mang tính siêu thực thể như lời cảnh báo, thời gian luôn là sự tiếp diễn, về một phương châm: nếu không tử tế với mình dẫn đến nhiều hệ lụy cho người khác quanh ta.

               Với truyện hiện đại đầy trăn trở, nội tâm và thử thách hoàn cảnh của các nhân vật: Như Phương Anh trong Như mây ngàn trôi, một y sĩ được tăng cường vào vùng dịch Covid- 19, còn là vẻ đẹp của một điều dưỡng cũng như đội ngũ y- bác sĩ bệnh viện. Như gã và Hải hoàn toàn đối lập tính cách trong Tiếng gõ cửa cuối cùng, chốt cái kết thanh âm hi vọng thể ân huệ cuối cùng của đời người. Một sự cám dỗ trong Cầu vồng tình yêu viết về Lan Phương bị Trần Huy lợi dụng công việc chiếm đoạt thể xác và Thân- chồng nàng,  nhân vật xuất thân từ cô nhi viện, tìm về lối cũ thể như cuộc phiêu lưu truyện cổ tích thời nay. Cả Tiếng gọi đò trong sương, mô tiếp viết về người lính trong kháng chiến trở về, vẻ đẹp của sự hi sinh luôn có sẵn, còn tình yêu đôi lứa khó mà sẻ chia. Đến truyện Mino của tôi, với nhân vật xưng tôi- từ mối quan hệ người cháu trong gia đình có hai anh em hòa thuận, cô em gái dù ở ngước ngoài vẫn giữ được phong tục gia đình, yêu quý loài vật. Tôi- tự dằn vặt nội tâm khi người cô tin tưởng gửi gắm cháu chăm sóc dẫu chỉ là con Mino giữ nhà, khi một con chó còn biết nhớ chủ.

          Có thể nói tập Bóng hoa của Phạm Hữu Hoàng đã vẽ ra phép thử đối lập tính cách xoay quanh các nhân vật phản diện gò bó trong bức tường tù túng sân si, cuối cùng dẫn đến tang thương; Bên cạnh là đời sống tâm hồn luôn được chăm chút nâng niu, cả một không gian sắc hương hoa lá, núi đồi trùng điệp không thể thiếu, duy trì giá trị nhân văn trong cuộc sống, nên truyện ngắn vừa đủ dung lượng chuyển tải cảm xúc sâu lắng cho người đọc hôm nay./.

                                   10.12.2024 / Nguyễn Thị Phụng

 

 

 

 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2025

CÁNH DIỀU BẨY MỘT VẦNG TRĂNG. Nguyễn Thị Phụng

CÁNH DIỀU BẨY MỘT VẦNG TRĂNG.

          Thể loại: - Lý luận phê bình.
           Tác giả: - Nguyễn Thị Phụng

 (Đọc tập thơ Cồn- NXB. HNV. 2024 của Duyên An – Khổng Trường Chiến – Lê Trọng Nghĩa – Vân Phi – Hồ Minh Tâm – My Tiên – Trần Quốc Toàn –  Nguyễn Đặng Thùy Trang)

           Cũng từ trong cách bộc bạch, thơ mong tìm đến thi nhân làm điểm tựa. Thể cánh diều tựa lưng chừng trời đâu chỉ biết ơn sức gió, mà ơn tay người điều khiển. Cũng chẳng dài dòng khi đọc tập thơ đồng nhóm nổi Cồn chung 160 trang (NXB. HNV. 2024) dậy mùi men không kì hạn ngay từ lời bạt trang đầu “Cồn nhưng uống được”của Hồ Minh Tâm chuốt say từng trang chữ. Nếu trời chiều lỡ dần lặng xuống, kịp thời những Cánh diều bẩy một vầng trăng lên sáng cả trời xuân trong Cồn

          Quả Bình Định thơ ca ngoài những tác phẩm của riêng tác giả. Thì mười năm lại đây, từ nhóm đôi- Ký tự nàng(Mẫu Đơn và My Tiên), nhóm ba- Ba bờ nắng(Triều La Vỹ, Trần Hoa Khá, Lê Trọng Nghĩa). Lê Trọng Nghĩa duy trì kết nối với bạn đọc trên facebook của mình: “Cồn!” - Lời mời gọi say đắm từ 8 hương vị nồng nàn. Tập thơ này tựa như từng ly rượu thơ, đậm đà và để lại dư vị khó quên. Góp mặt là 7 “người con” từ xứ Bàn Thành Tứ Hữu, mang theo niềm đam mê cháy bỏng và năng lượng “cồn cào,” cùng một gã phong trần bạc trắng mái đầu vì thơ đã tìm về Bình Định…”   

        1.Chạm vào Cồn, hiện rõ đôi cánh vươn thỏa “khát” đời của một gã phong trần Hồ Minh Tâm dè sẻn từ câu chữ vun đắp, biết là trăng đến rằm trăng tròn, thế mà thèm viên mãn: “chúng ta lẹm vào nhau/ lẹm vào nhau mà tròn trịa với nhau” mà có được đâu: “thế rồi đêm/ đêm lưng chừng một mình vụng hát/ nghe lặng thầm nghiêng trở ngân nga” (Bài cho trăng đầu tháng), thử tiếp cách ví mình đối chiếu tinh tế: “khi con chuồn chuồn bay đi/ nó để lại đằng sau vết rách mềm lụa gió/…/tôi hơn chuồn chuồn nhiều thứ… // tưởng dễ mà bay!” (Bay). Từ đó từng nốt nhạc rung rung lên trong một hình hài: “giữa nó và cái thằng thơ/ một tia nắng gãy/ nó nằm ngay đơ như cái thước trời/ thằng thơ rón rén đắp đêm lên nó/ nỗi buồn bình minh” (cái thằng thơ) trỗi dậy hào hứng hơn “nó” hài hòa nhau.

           Giá yêu cái đẹp hình thể như yêu trí tuệ tâm hồn thì trái đất làm gì mỗi ngày phải nặng hơn: “thơ sinh ra chỉ để hoàn thiện hơn về định nghĩa cái đẹp, … trám vào sự thiếu vắng bằng nguyên bản cô độc của mình” (sống – có thể gọi nó là một bài thơ được không?). Rồi anh thỏa thích dự đoán “ứng trước đời mình hàng chục năm/…/ mỗi mặt – một đêm trắng/ bôi gì cho qua…” (Vẽ).” quá nhiều đêm trăn trở. Cuối cùng từ một vuông buồn đầy đặn ấy, an lòng (Cỏ thay em nằm xuống cạnh anh)*. Làm tròn chủ đề Quê nhà ở phía cơn mưa tươi mát nảy mầm tỏa hương. Không bi lụy, lí giải thơ là một nhu cầu tận hiến trong sự sống.


           2.Tha thiết lắm cõi trần mà dệt thêu biểu tượng ngôn ngữ thơ ca trên từng dấu chỉ tay ba cây bút nữ trẻ trung: Duyên An – Nguyễn Đặng Thùy Trang – My Tiên đồng hành trong Cồn.

          a. Theo chân chủ đề Thắp của Duyên An lần lượt bật mí trong lòng bàn tay nữ sĩ. Lắm lúc rối rắm chằng chịt đường vân ngỡ con kiến mà leo cành đào… trên chỉ dấu hoa tay khó trộn lẫn: “Giá mà bỏ Quy Nhơn vào túi/ Anh mang theo trên những dặm dài/ Như bỏ chiếc vỏ sò ngậm trăng chiều Phương Mai viên sỏi âm vang tiếng chuông Minh Tịnh/ Hơi gió mặn mòi xanh sóng trùng khơi.” (Chẳng thể bỏ vào túi mang theo). Dùng giả định để khẳng định dễ gì những sở hữu ngỡ thuộc về mình cố gồng lên, chỉ làm tổn thương vết cứa từng nếm trải chua xót an ủi. Chúng ta đã từng đón Ánh sáng và phù sa của thế kỉ hai mươi đầy cảm xúc thẩm mĩ: “Ta vì ai?” Khẽ xoay chiều ngọn bấc/ Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh” (Hai câu hỏi, Chế Lan Viên). Nhiên liệu thắp triệu chồi xanh là khơi mạch nguồn giá trị cuộc sống đón nhận (Tôi đi tìm mùa thu, Trên dấu môi kỷ niệm)* nhắn nhủ yêu vô cùng hạt gạo ngọt lành mà vô cùng vất vả, đón cái kết: “Bến nối bờ bằng câu ca dao mang màu xanh biển/ Biết thương về nguồn thành mưa” (Những dòng sông như đường chỉ tay), để nhận ra sự tự giác lặp lại thành thói quen định hướng(Chiếc đồng hồ sai lệch, Thắp) * dấu hiệu la bàn cho sự tất nhiên bung nở: “…mùi hương là cách đóa hoa tự thắp/ quỳnh sẽ kể chuyện đời mình bằng thời khắc/ loài chim sẽ gõ vào ánh sáng/ nhạc bay.” (Thắp). Không cần lí giải. Hương thơm, là cung đàn nốt nhạc lung linh tỏa sáng lan tỏa là biểu tượng ngôn ngữ thi ca.

           b. Còn Nguyễn Đặng Thùy Trang với Cõi mộng. Mà rất thực khoảnh khắc hối hả vào đời thể một cuộc dấn thân làm mới thơ mình: “Thành phố rượt đuổi chiếc nơ của người con gái/ tuổi trẻ nở những nụ cười không biết khi nào quay lại/…/ rực rỡ em/ chân sáo quần hồng/ rồi hàng cây xoay xoay điệu múa…” (Em và…). Những bước đi đầu tiên đẹp đẽ gửi lại sau lưng là khung trời kỉ niệm dấu yêu, sức trẻ náo nức thể cánh chim bay vào không gian thoáng đãng. Mà tình yêu duy trì bền vững, thoảng lời ca bắt nhịp: “…ai cũng một thời trẻ trai cũng từng nghĩ về đời mình…” (Trần Long Ẩn). Cách liên tưởng đời cây đời người cho sự cố định và di động, hẳn bóng cây và bóng người ám ảnh từ một “Miền xanh đậm/ Có trái tim mù mờ về những khoảng trời/…/ …/ Một lần nữa chào mời/ Sự mờ phai của số phận” (Cây). Hay sự chọn lựa được mở ra đánh đố giữa thực và mộng. Không nên kì vọng vào những hoài bão đam mê khuất lấp tất cả giá trị vốn có chính mình (Ở đâu đó con đường, Tự tình, …) *. Cõi mộng trong thơ Nguyễn Đặng Thùy Trang nghiêng về khơi gợi đầy hoan ca không tì vết: “… bông cải vàng ở lại mê mãi một điều gì/ chở về những chân tình”. Đáng yêu.              

           c. Rót đầy mùa nhớ là chủ đề thơ My Tiên tạc nên không gian bừng tỉnh vẻ đẹp bàn tay con người vốn có, chăm chút vun vén và khát khao tận hưởng. Đó là cái đẹp ban sơ không kiềm nén theo vòng tuần hoàn trời đất. Sắc hương hoa lan tỏa quyến rũ thật tự nhiên khi đón ánh sáng thường ngày, và con người cũng vậy, thật viên mãn: “Cứ xuân về/ em trở lại thanh tân” (Cánh hoa thanh tân). Em thỏa thuê bung nở cảm xúc trong từng câu chữ, không ràng buộc thuần túy Á đông, nề nếp khuôn khổ (Cánh hoa nhật thực) *. “Em” đã là chủ thể khát vọng hạnh phúc lứa đôi, sao “em” bị hà khắt thân phận giới khi con người sinh ra vốn mang danh con người (Cởi trói)*. Lời tự tình rất “em” dịu dàng và bay bổng thả mình: “Vô tư phơi thân thể trên đồng/ Anh hãy hôn như mây vờn trên núi/ Và hãy nằm xuống bên em” (Chiếc túi mùa thu), khẩn cầu mặc định từ một Vùng da thiêng* nghi lễ. Nếu như nói thơ My Tiên nghiêng về bản thể, thì bản thể ấy không thuộc về cá nhân, tồn tại rất hiếm duy trì cảm xúc phá vỡ cả khuôn mẫu tù túng rất riêng cho một chút lắng đọng yêu thương. 

         3.Từ chốn nhân sinh làm nên tâm thế bốn cây bút trẻ nam chững chạc phong cách sáng tác, duy trì cảm hứng thi ca, mạch nguồn nhịp thở.

         -. Nếu ở tập thơ Ba bờ nắng in chung trước đây, Lê Trọng Nghĩa rọi chiếu những cầu vồng lấp lánh, thì chủ đề Nồng nàn ly đắng trong Cồn hẳn bù đắp cá cược khoảnh khắc mà lực bất tòng tâm bởi những tác động khách quan bám riết.  Cho cách an nhiên bung tỏa cảm xúc, về giá trị sự sống vĩnh hằng tiếp nối, đối lập đời người hữu hạn kia: “Đôi khi/ Ta còn nhận ra những nếp nhăn giày vò kia/ Sự thản nhiên.../.../ Trong hơi thở yếu mềm.../.../ Những khóm non xanh vẫn xanh lên nhún nhẩy.../...” (Đôi khi). Hiện hữu nếp nhăn không còn là tuổi tác mà là vết cứa đớn đau khi va vấp tình đời, băn khoăn chất vấn đến cùng: “Khi ngắm bầu trời rộng lớn/ Em đã mơ điều gì khác/ Em có nghĩ đến anh không/...” (Em có mơ điều gì khác). Có lẽ cách độc thoại mãi thăng hoa khi chưa được đáp lại. Một trái tim yêu nồng cháy, không phân định bến bờ, rồi ví ngầm mọi vận động trong vũ trụ từ cánh rừng, trên trái đất, gió, mây, ... cho anh cách chọn lựa: “Chớp mắt bão bùng/ Phải xoay phía nào để được gặp em trong điều mới mẻ...”(Xoay phía nào).

             Điều mới mẻ chính là cung và cầu không thể thiếu năng nổ và dấng thân, không thể chấp nhận lặp lại ấu trĩ hẹp hòi, ích kỉ hay nhu nhược, trong nhận thức mọi mặt cũng khó tìm sự đồng thuận hướng đi tích cực, bởi chính thi nhân đang sở hữu từ “.. vệt sáng dài cô đơn”. Theo một hệ quy chiếu đối lập tương đồng với “một tia nắng gãy” của Hồ Minh Tâm từng vấp váp là vậy.  Thơ Lê Trọng Nghĩa đâu chỉ gợi hình, có thanh âm í ới gọi về từ trên cành xanh, của vị thơm môi ngọt mời mọc, cả ánh sáng vỗ lên cây ghita, nốt ruồi giấu trong hình nốt nhạc, ... (Tản mạn mùa đông, Điều gì đã trôi đi)*. Ừ thì, nào ai hôn được lên gương mặt mình, dẫu tầm tay ta với hụt chập chờn thực mộng (Anh không nắm bắt được gì)*, và một khi cảm hứng thăng hoa thì nỗi buồn nén sau con chữ bất tận ùa về trong thơ anh.    

         -.  Khổng Trường Chiến với Bóng tăm thầm lặng là thế mạnh về sự hồi tưởng năm tháng chiến tranh đã qua, đã lùi dần… đã không còn là nỗi ám ảnh dấu ấn riêng nỗi đau người con trong gia đình, cả làng xóm, hay cả trên da thịt đất đai dân tộc mình: “Nghe vết sẹo quê hương trăn trối dưới chân mình”.(Vết sẹo), minh chứng thông điệp từ một công dân, nhà thơ Khổng Trường Chiến nhận ra sự vun đắp tô bồi của thực tại, cũng thể là nhắc nhở tri ân cha ông chúng ta đã sống và cống hiến không hổ thẹn tuổi đời mình.

          Thơ Khổng trường Chiến khi thiên về thời gian thực tại thì hình ảnh những người lao động cần cù bao gian lao với dụng cụ búa rựa thô sơ cũng bị khép lại nhường cho máy móc khai thác tài nguyên rừng ào ạc mở ra, đến hốt hoảng bất ngờ như những (Dấu chân của làng, Người ngủ trên vai núi)*. Rồi trong cách sẻ chia với ngư dân đi biển, không còn là ngọn hải đăng chiếu sáng la bàn mà anh nhắn nhủ một điều ngược lại: “Những tấm bản đồ vẽ từ máu/ mồ hôi/ và/ muối/ hóa thành ngọn hải đăng/ cho ngàn giấc mơ tha phương lập nghiệp/ cho tiếng sóng du dương đánh thức câu hò bá trạo/ cho những ngày/ biển rơi mất yêu thương”(Tấm bản đồ trên lưng người đi biển). Cơ hồ trong kế sinh nhai đối diện với phong ba, họ còn là tấm bản đồ trọng trách nhân chứng xác định hải phận quê mình. Hẳn nhà thơ có góc nhìn thấu đáo về diện mạo đất nước dân tộc. Bên cạnh những bài thơ: Gốm vỡ, Lại nhớ mùi mắm cua đã là đặc trưng làng nghề cho đến văn hóa ẩm thực mà chăm chút, sao quên được từ quê nhà ra đi. Chủ đề Bóng tăm thầm lặng hiện hữu chùm sáu bài thơ nuôi dưỡng cốt cách niềm tin cuộc sống đáng trân quý.



          - . Trần Quốc Toàn với Phương trời gió loạn mà đằm sâu những tứ thơ như bài: Mộng Côn Giang, thể trường ca bến bờ con nước từ đầu nguồn ra đầm Thị Nại. Vẫn là nét riêng đầy tự hào lịch sử văn hóa trầm tích bao đời quê nhà Bình Định, bên những đau đáu mất còn không nguôi, cũng được khép lại. Tên núi, tên làng, tên sông, tháp cổ, ... gắn với di tích, thành quách còn kia, câu thơ truyền lại... mà sẻ chia, đùm bọc, từ đó ra đi để nhớ thương mà trưởng thành(Mộng Côn Giang, Những đỉnh đêm cát và gió, Ký ức tôi.)*. Ngỡ Phương trời gió loạn mà vô cùng bình yên, sâu lắng tiếp nối sau những kí ức biết mở ra, biết dối diện và chấp nhận từ trong sinh hoạt thật tự nhiên vốn có, cho cái kết ấm áp tin tưởng dốc tâm đường cày mỗi ngày, dẫu nắng mưa khô hạn không thể nào bỏ lửng công việc: “Theo dấu chân trâu vung ngọn roi trên cánh đồng khô hạn/… / và bếp lửa là bài thơ thắp sáng giấc mơ tôi..”(Đảnh lễ mùa màng).

          Thơ Trần Quốc Toàn không chỉ là thời gian của quá khứ ghi nhận, và sự tồn tại trong chừng mực hôm nay, đã là vẻ đẹp nghệ thuật thơ ca lưu trữ trong mỗi tứ thơ anh... tựa thong thả tận hưởng thiên nhiên ban tặng, lặng lẽ chút hương nhài hòa quyện cả không gian mở ra: “...con chữ hóa cánh chim bay về rừng/ sau cơn mưa/ trăng ló dạng/ những bông hoa ánh sáng rơi xuống con đường ngoài ô cửa khuya...”(Ngã lưng vào ghế). Cũng không nhập nhằng ngày và đêm. Có đêm có sắc trăng vàng, có ngày cũng có sắc vàng lúa thơm vào mùa bội thu thiết thực, hình ảnh ngầm đối chiếu những dấu chân trên đường kia với những bàn chân của mẹ cha nơi đồng sâu ruộng cạn tinh tế vô cùng(Nằm mơ giữa ngày). Thơ Trần Quốc Toàn chảy dài mạch cảm xúc không nguôi thể bất tận khai sinh mây trời sông nước rồi tụ về cái kết rất nhân văn.

           -. Còn Vân Phi với Trọ những cơn say, ngỡ chếnh choáng của gã lãng tử quên người, quên đời. Thực ra cái say duy trì tiếp nối từ đồng làng quê với dáng cha bên bếp lửa, bóng mẹ khói hương cuối đồng làng đủ gợi nhớ thương từ nơi xa thẳm. Mất còn lẽ tồn sinh, vẫn buốt lòng bấu víu vào không gian há riêng biệt của anh. Trong thâm tâm, lớp người trẻ luôn trăn trở hoài vọng về chốn bình yên quê nhà trú ngụ(Từ nơi ấy mẹ nằm, Đường về)*, bởi nơi ấy dấy lên ấm nồng của lửa, cay cay đụn khói chiều, bóng trăng đồng lúa chín tự tình: “Thăm thẳm vọng về trong khuya khoắt/ em gặt lúa dưới trăng/ lưỡi liềm cong như mí mắt/ cứa vào anh ran rát nụ yêu đầu”(Đường về). “Em”, hiện hữu cái nhìn từ bức tranh lao động chân chất, thuần thục đức hạnh nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân ấp ủ lên men tự lúc nào(Điều không định nghĩa)*.

              Rồi thoảng đó đây lưu đày cảm xúc vô tận, sao giấu được cái say khướt với trăng thanh. Phải chăng ánh trăng từ hai thời điểm khác nhau, cái say trăng hay say người hay một tình yêu đầu đời thơ mộng, với Vân Phi trở lại sự tĩnh tâm, nhận ra cái khát khao vô cùng chới với lắm không: “ta ngồi lại với ta thêm chút nữa/ nghe giọng mình/ khản đặc phía khơi vơi...”(Trọ những cơn say), chất ngất đời người cho cuộc di dân mưu sinh tồn tại như lửa thử vàng, gian nan thử sức trong đôi tay nghệ nhân khéo léo làng nghề truyền thống được mở rộng sẻ chia(Gốm lưu lạc)*, trong thử thách tâm hồn yêu thương thanh lọc chính mình(Sông ly hương)*. Cái say trong thơ Vân Phi sâu lắng bung chảy cảm xúc tự bên đời.  


       
            Cồn- kế thừa thể thơ tự do, thể như những cánh diều bẩy vầng trăng quê thơ mộng muôn đời mang sứ mệnh vị thần tình yêu cuộc sống bền vững, nhập vào thế giới tâm hồn tồn tại cõi nhân sinh. Nên chẳng thể điên rồ gọi tên Cồn cho một tập thơ rất “nẫu” đang độ nồng say, chếnh choáng từng bậc thềm ánh sáng lên trang sách, đầy dấu ấn duy trì thơ ca đương đại ./.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2024

MỘT ĐỜI THANH XUÂN,(Đọc Tuyển tập thơ Nguyễn Thanh Xuân) Nguyễn Thị Phụng

 

MỘT ĐỜI THANH XUÂN
(Đọc Tuyển tập thơ Nguyễn Thanh Xuân(NXB. HNV 2023)

             Bên cạnh trình tự dấu mốc đời người, thì đời thơ với Nguyễn Thanh Xuân sẽ mãi Một Đời Thanh Xuân. Và dẫu chọn Hạt Cát- bút danh của anh, thì đó là sự biến hóa của đất trời núi non để làm nên bãi bờ nâng đỡ dấu chân cho một lần đi qua lưu lại. Cũng như trong cách sẻ chia: “Mai kia mốt nọ tôi ngồi/ Lượm từng nỗi nhớ kết đôi… nỗi buồn/ Mùa xuân từ đó mưa tuôn/ Rơi ngàn thảng thốt lên ngồn ngộn xanh!” (Thảng thốt xuân) cho sự tái sinh bất ngờ luân lưu ắp đầy năm tháng. Trân quý nhà thơ đã cống hiến hết mình cho văn học tỉnh nhà, đã được sự đồng thuận của gia đình, Hội VHNT Bình Định sưu tầm gom góp mà trực tiếp là nhà văn Trần Như Luận chọn 80 bài đưa vào Tuyển tập thơ Nguyễn Thanh Xuân(NXB. HNV 2023). Lúc sinh thời anh chưa xuất bản được. Nguyễn Thanh Xuân không chỉ sáng tác thơ, mà còn viết điểm bình tác phấm, tản văn, truyện ngắn in trên trang báo, tạp chí, tuyển tập,… Từ các Giải thưởng như Giải khuyến khích truyện ngắn Tuổi hồng(NXB Trẻ, 1992), Giải nhất Thơ Gia đình Áo Trắng-NXB Trẻ 1995, đến Giải Khuyến khích Thơ Chân dung tuổi mới lớn- Báo Mực Tím 2002, rồi tới Giải ba Cuộc thi Truyện ngắn Người phụ nữ trong cuộc sống hôm nay do Báo Phụ nữ Th.p HCM tổ chức trao giải năm 2009. Nhưng ấm áp hơn là đi vào lòng bạn đọc yêu quý cái tình thơ anh.

        1/.Đời người, đời thơ.

       Đời người, đời thơ với Nguyễn Thanh Xuân mang tính kế thừa và cống hiến. Hay đó là cái duyên thơ ca của đất trời Bình Định đã “chọn” anh là người đỡ đầu cho bút nhóm Biển Xanh năm 1992, đó là từ tập hợp các cây bút trẻ lớp 11C trường Quốc học Quy Nhơn. Bút nhóm ấy là trụ cột Gia đình Áo Trắng sau này, mà anh là “Gia đình trưởng” dìu dắt, nâng đỡ, chăm chút các cây bút trẻ ở Bình Định thành danh rất nhiều.

         Biết rằng trên đường đời, những năm tháng tuổi thiếu niên tu học tại Tiểu Chủng viện Quy Nhơn(1970-1974), năm học 1974-1975, anh thi vào lớp 10 Ban C(Ban Văn chương) trường Cường Để Quy Nhơn, với tình yêu thơ văn thì không một ràng buộc khuôn khổ nào níu giữ anh lại. Rồi nghề đã chọn anh vào trường Trung cấp Lâm nghiệp, năm 1984 Nguyễn Thanh Xuân lập gia đình, cùng song thân lập nghiệp tại khu kinh tế mới ở Bình Thành Tây Sơn. Sáu năm sau, anh trở lại Quy Nhơn.

            Quy Nhơn là nơi anh sinh ra và lớn lên, vẫn mang trong mình cốt cách người Hà Tĩnh quê cha và ngọt ngào quê mẹ Thừa Thiên- Huế. Nhưng có lẽ hòa trong tiếng sóng biển Quy Nhơn mãi trào dâng tâm hồn thi ca theo mùa không ngừng thăng hoa trên đất trời Bình Định… Rồi, sau bốn tháng vật vã trong căn bệnh hiểm nghèo, anh về với Nước Chúa trong ngày 07.11.2022 tại tư gia ở Xuân Lộc- Đồng Nai. Hưởng thọ 65 tuổi.

          Nhưng lưu tuổi thọ của anh là thời gian niên viễn trên các trang sách báo, đã từng cộng tác như Tập san Áo Trắng, Mực Tím, Khăn Quàng Đỏ, Nhi Đồng, Tạp chí Văn nghệ Bình Định, Văn nghệ An Nhơn, Văn hóa Phật giáo, Báo Bình Định,… và gần đây là Mục Đồng. Cũng như lưu dấu ấn khó quên khi đọc một bài thơ đã in trên tạp chí, trang báo của bạn bè nào đó, thì anh liền gắn tên họ lên facebook kèm theo bức chân dung, hay trực tiếp xe máy chở một tâm hồn “Gia đình Áo Trắng” bên cạnh cầm cả tạp chí và nhuận bút đem đến giao tận tay bạn bè không quản đường dài dù xăng khan hiếm với anh, kể cả An Nhơn, Tây Sơn, Hoài Nhơn,… Chỉ cùng bù khú với nhau, khề khà chén nước, hay vị bầu đá mà thường nhắc nhiều trong thơ anh là vậy. Đó phải chăng món nợ văn chương anh yêu thích được trả thường ngày đến lúc này chỉ là kỉ niệm.

          Trên đường biên hiện thực tâm tưởng, Nguyễn Thanh Xuân duy trì cảm xúc mãnh liệt qua các tứ thơ với nhiều chủ đề khác nhau, bằng nhiều thể thơ tự do, lục bát,… đó là tiếng vọng tâm hồn thi sĩ xao xuyến không nguôi cho sự bứt phá ngôn từ. Thơ Nguyễn Thanh xuân không tiết chế cảm xúc, bởi khi mưa về, khi nắng ấm là sắc hương hoa đón ánh mặt trời. Và lúc này thể như dự đoán cũng tàn phai theo mùa mà đời mình cũng vậy. Tuyển tập thơ Nguyễn Thanh Xuân đón nhận sự chuyển dịch của mưa và mùa xuân đối với con người cần mẫn thường ngày. Cái tình ăm ắp không nguôi.

 

         2/. Mưa và mùa xuân ngự trị trong trái tim thi nhân.

         Mưa là hiện tượng của trời đất, nhưng là món nợ của cỏ cây hoa lá và muôn loài. Mùa xuân không chỉ là khởi đầu của năm, mà xuân tràn đầy sức sống, cho một tình yêu đẹp đẽ muôn đời, và là báu vật của người, của thi nhân từng ngày khao khát nâng niu, ôm ấp. Hình hài mưa và mùa xuân chập chờn níu kéo thử thách:

       Tôi đi cuối một cơn mưa   
         Mùa xuân lún phún lưa thưa ướt buồn
         Có con gió ngược bên đường
         Đưa tôi về với cội nguồn… tìm tôi                                                                         (Đi tìm mùa xuân)

         Con đường đi tìm mùa xuân hẳn về với cội nguồn… tìm tôi có là sự khẳng định, cái tôi muôn nỗi đánh thức chính mình. Sự sống và lẽ đời đủ chất chứa tháng ngày qua để đồng cảm, tri ân. Như bao trăn trở, suy tư còn và mất cho sự tồn tại nào đó, duy trì và tiếp nối: “Con đường/ Chồng chất những dấu chân đi không lạc lối/ Lầm lụi mưu sinh/ Rong rủi lang bạt/ Líu ríu tình thân/ Tung tăng thơ dại/ Thời gian cũng tự uốn mình vươn vai/…”(Nghĩ vẩn vơ về con đường). Nào dễ lãng quên khi cái mới vồ vập làm xơ cứng tâm hồn, với anh chính là nhắc nhở trân quý những dấu chân không lạc lối xưa nay, kế thừa điểm tô mùa xuân hiện hữu lòng người.

          Cảm hứng sáng tác trong thơ Nguyễn Thanh Xuân thường nồng cháy, còn bối rối khi đi trong Mưa bụi ngày xuân*: “Có thể mưa không trĩu bước/ Chỉ phơn phớt lạnh bình minh/ Lại Giang bao lần ngập gió/ Mà sao lập cập riêng mình// Sau lưng phố phường rộn rã/ Cánh đồng kể chuyện ngày mai/ Mồ hôi nảy mầm xanh lúa/ Em gánh nụ cười trên vai/…” Thi nhân đã tạc bức họa ngôn từ tươi tắn trẻ trung trong thể thơ sáu chữ thu hút thị giác, bạn đọc nhận ra để đón nhận hạnh phúc lắm gian nan, từ những khó khăn cơm áo của một thời đã gửi lại dáng hình, chăm chút: “Cha đốt đời mình trong nhọc nhằn lam lũ/ Những ngọn lửa tượng hình những giọt mồ hôi/ Nồng cháy tàn tro bón đất ân tình/ Giấc mơ xanh đâm chồi nảy lộc”(Thắp lửa). Bao quát không gian và ước vọng thăng hoa của Nguyễn Thanh Xuân ngỡ chừng đối lập, bất ngờ bởi mầm xanh nhận ra sự sống, tin yêu. Cái đẹp ngôn ngữ dung hòa con người từ bàn tay lao động và đất trời mưa nắng tạo nên sinh khí mới mẻ ấm áp vươn lên.

            Từ trong mối lương duyên giữa vũ trụ và con người với thi nhân. Không gian mùa xuân đất trời tuần hoàn, đã thành mùa xuân tâm tưởng cùng hạt mưa kia tắm mát tâm hồn đâu riêng nhà thơ, của mọi nhà mọi người trong một tứ thơ đầy âm điệu và tiết tấu trăn trở mà bao dung, ray rức mà ấm nồng làm sao khi còn Mắc nợ mùa xuân*:

           Tôi mắc nợ mùa xuân một nụ cười
        Với người hàng xóm chưa một lần bắt chuyện
        Cuộc sống bây giờ bếp ga, nồi điện
        Đâu còn nhớ câu “tối lửa tắt đèn”
        Chỉ có gió cứ rộng lòng thổi suốt
        Mùa xuân ai đóng cửa cài then?

        Tôi mắc nợ mùa xuân một bầu trời xanh trong mắt
        Tầm nhìn xa không vượt khỏi lòng mình…

         ……..
         Tôi mắc nợ tuổi thơ đồng tiền mừng tuổi
          Phân vân với đứa trẻ không nhà
         Phân vân trước rủi may những tờ vé dạo
         Mùa xuân nhiều khi ngơ ngác lạ
         Mãi xinh tươi như chuyện thường tình…”

             Biết rằng cái đẹp câu thơ là cội nguồn ngôn ngữ, nâng cao giá trị thuần khiết tâm hồn cho một trường liên tưởng nào đó. Nhưng với Nguyễn Thanh Xuân lại vô cùng ám ảnh suy tư trong cái kết vay trả đời mình thể linh ứng lựa chọn: “Tôi mắc nợ Chúa tôi một trái tim rỉ máu/ Gieo yêu thương trên từng bước chân người/ Mùa xuân đâu bừng nở những bông hoa giả?/ Đợi một mùa xuân rất thật ở quê Trời…”.

         Với chủ đề Mưa và Mùa xuân có đến mười bảy bài trong tuyển tập cứ hòa quyện nhau, thể như ma lực cuốn hút thi nhân khó lòng bức ra được. Biết rằng, tuổi đời Đi Qua* như chuyển dịch của tự nhiên. Tự nhiên chuyển dịch tồn tại vĩnh hằng, còn đời người không dừng lại mà nhắc nhở duy trì cho Tiếng Cười Tự Do* ghi tạc: “Con đường dắt ánh mắt vào mùa xưa xa/…/ Bên cánh đồng Cô Hầu/ Gió vẫn rền vang tiếng cồng chiêng tập trận/ Thời gian không xóa lấp được những hạt vàng nuôi quân/ Bật lên những mầm xanh tươi mới/ Lũ hậu sinh chúng tôi đu dây vào quá khứ/ Bằng sợi dây kiên cường của nghìn năm giữ nước/ Vỡ những niềm vui khải hoàn/ Vỡ những tiếng cười/ Tự do  hân hoan sảng khoái vô cùng.

 

          Hành trình thơ Nguyễn Thanh Xuân luôn mang tính sáng tạo kế thừa thể lưu trữ lịch sử trên mỗi điểm dừng chân. Rất thiết thực bởi đi vào đời sống tâm hồn là sự cộng hưởng nhịp đập trái tim của một tình yêu chân chính. Luôn là sự vận chuyển không ngừng như mưa và mùa xuân. Như khi Cả nghĩ về Đà Lạt*, lúc Chạm tay vào Huế*, Quê ngoại* những Hun hút Tây Nguyên*, chút xao xuyến Qua Kon Tum nhớ bạn*, Người lên rừng nhớ biển*,… dù đau đáu vẫn dặn lòng mình: “Mặt trời đến đây từ biển/ Có mang theo nắng quê mình/ Một chút long lanh mắt lá/ Giữ làm sao biển trong tim”. Để chuốt cái say vào cái tỉnh mà trân quý tình đất tình người đã đùm bọc mình từ văn hóa phong tục tập quán,.. biết bao khoảnh khắc dấu yêu đi vào tứ thơ làm nên tựa đề: từ Bóng Tháp* đến Thần Thoại Tình*, Cây Me Cổ Thụ Ở Bảo Tàng Quang Trung*, Lỗi Hẹn Sông Côn*, Chiều Trên Mộ Hàn Mặc Tử, Trên Đồi Trăng*,… Có lẽ lịch sử văn hóa Bình Định nuôi dưỡng tâm hồn trái tim thi nhân chân tình ấm áp:

           Rượu còn trong vắt nghĩa tình
            Còn say Bàu Đá gọi… “Bình Định ơi!”
            Dốc ly… “trót” một cuộc người
           Rượu gì rượu ấm lòng tôi thế này!”.
                                             (Rượu tình)

            Với một tấm lòng thiện lương giữa xô bồ nghiêng ngã, bên cạnh những vụ lợi cá nhân, những thiệt giả lẫn lộn, Nguyễn Thanh Xuân dặn lòng mình trong những vần thơ chân tình, giá trị sự sống công bằng không thể đánh mất được trái tim nhân hậu, khi thơ vẫn còn tồn tại với người cầm bút. Trên từng bậc thềm mùa xuân vươn tới, cận cảnh hay xa mút tầm tay, thì đất trời an nhiên gieo mưa tắm gội, dẫu nỗi buồn xâm nhập thì cái buồn vẫn đẹp: “Lòng ôm lòng chếnh choáng/ Say với trời lặng thinh”(Chiếc lá mùa xuân), mượn thơ giải tỏa gửi gắm cũng là phép thử xưa nay của các bậc thi nhân: “Tôi cầm lên trái tim tôi/ Như cầm lên cả bồi hồi thời gian/ Ngày mang theo nắng dở dang/ Tháng năm mang những lỡ làng mùa đi/ Nỗi lòng có rất nhiều khi/ Ướt mưa như ngỡ xanh rì cỏ non”(Nói với cô đơn) mà mướt mượt như thế. Thật là thi sĩ tài hoa./.

                                                           Nguyễn Thị Phụng.
……….
*Tên các bài thơ trong tuyển tập Nguyễn Thanh Xuân

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2024

TRỞ LẠI TRỜI QUANG của Nguyễn Thị Phụng (đọc Hoa xương rồng của Nguyễn Trí)

TRỞ LẠI TRỜI QUANG



         Đọc  Hoa Xương Rồng, Tiểu thuyết của Nguyễn Trí (NXB HNV 2023)

 

        Trên bình diện tiếp nhận tác phẩm, tiểu thuyết Hoa Xương Rồng của Nhà văn Nguyễn Trí vừa xuất bản cuối năm 2023 theo quy luật tồn tại kết nối và sẻ chia của những người lao động tự khẳng định mình: “Vả lại, mày sơn đông tao lựu đạn chả sợ thằng nào hết, cứ lương thiện mà sống. Nghèo cho sạch rách cho thơm” trong mấu chốt bên chén Ngũ gia bì, mà họ từng chạm trán lấm láp bụi trần đổi lại bình yên cũng lắm gian nan.

 

         Tiểu thuyết Hoa Xương Rồng có đến bảy chương, 299 trang xoay quanh gia đình Năm Thao trong bĩ cực khắt nghiệt,… đến khốn cùng thì áo rách có giữ được lề hay không. Hẳn Hoa Xương Rồng, biểu tượng của gai góc đối kháng môi trường xã hội để tự mình nở hoa bung cánh. Biết rằng, ngôn ngữ vốn sở hữu chung của cộng đồng, nhưng đặt vào tác phẩm với Nguyễn Trí thì không thể lẫn lộn một nhà văn nào khác. Viết như nói mà nói như viết để thể hiện tính đại chúng mộc mạc chân chất mà khéo léo dẫn dắt người đọc về con đường sống Hoa Xương Rồng- Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học về đề tài công nhân, công đoàn 2023.

 

        Với Hoa Xương Rồng, Nhà văn Nguyễn Trí đã phát thảo hiện thực chân dung nhân vật từ một lí lịch Năm Thao là dân phố, từng là con quan, con nhà giàu nhưng vì thời thế nên phải bỏ phố lên rừng chặt củi đốt than… sang ngậm ngãi tìm trầm, đãi vàng, đào đá quý… nghiện rượu. Một giang hồ thứ thiệt lại được vợ con yêu quý chung tay nuôi dưỡng khi bị té ngã, tiếp đến phát bệnh đau gan vô cùng từ túng khi phải nằm nhà, nằm viện. Những hoàn cảnh khắt nghiệt cũng đành bó tay, dù muốn con mình được đi học tiếp kiếm thêm cái chữ lại quá khó khăn.

 

         Từ khó khăn ban đầu, nhân vật bé Hương 12 tuổi phải nghỉ học, cũng là lúc cô giáo hết thời gian nghỉ hộ sản, rất cần người chăm cháu. Gia đình nhận lời, cũng là điều kiện để tối về, Hương còn được học thêm cái chữ từ thầy cô. Vì còn nhỏ lắm, Hương thương má nhớ em, thương ba vật lộn với bệnh tật, nên thường chủ nhật được thầy giáo đạp xe chở về thăm. Hương nhớ em cũng bịn rịn đi làm nhưng không là bản sao như Cái Tí trong Tắt đèn của Nguyễn Công Hoan của gần trăm năm trước.

 

          Ngỡ cánh cửa trường mở ra, cho Hương trở lại lớp học, nhưng người tính không bằng trời tính. Năm Thao lại bệnh nan y. Cùng lúc đó, Hương rời gia đình phụ quán cơm cho ông bà Hùng Sơn Đông, người bạn cùng thời theo rao bán thuốc vặt. Công việc không ngơi tay, chín giờ tối lên gường, bốn giờ sáng đã dậy, nên đâu còn nhớ em nữa, lương gấp ba lần thì đúng quá. Hương cũng biết đối diện với sự thật cái chết của Linh khi bị xốc ma túy. Quán cơm phải đóng cửa khi hai đứa con Linh Sơn của Hùng Sơn Đông đều vướng vào ma túy. Sau đó Hương cũng đến phụ nấu đám cưới bán bánh mì cho Ba Trâm.

 

           Đến khi Năm Thao đã vượt qua được phần nào nợ nần, bệnh tật, lại là lúc bà Thao nhập viện cấp cứu vì ruột thừa. Hương cũng bị dắt dây tiếp vào làm công tiệm vàng Duy Nghĩa. Ở đây, Hương ở tuổi mười lăm đã phải đối mặt tự bảo vệ mình được Năm Thao trang bị nên thoát khỏi con trai Duy Nghĩa- Trinh còn gọi Ba Trình, người đồng giới, muốn gì được nấy…

 

         Thời gian không thể bảo lưu tuổi thơ, cũng như quyền bảo vệ trẻ em của Liên hiệp quốc cũng quá xa xôi, nhưng Năm Thao bảo bọc con gái lớn của mình, vì vậy để giữ lại người làm công tin tưởng như bé Hương thì Duy Nghĩa đã tạo điều kiện cho gia đình Năm Thao phần nào ổn định chỗ ở, rồi về xóm Sông trả nợ và làm giấy tờ tùy thân cho con gái.

 

          Những thế thái nhân tình, cộng thêm tính nguyên tắc “lệ làng” thật nhiêu khê cả gia đình Năm Thao bị xóa hộ khẩu, xem như bị đẩy ra ngoài xã hội, rồi làm lại,... Từ những hình thức mồi chài giấy tờ giả cho  Hương chưa đủ tuổi xin vào làm công nhân có Mười Cường lo liệu- Mười Cường là một trong ba du côn mà Trinh Duy Nghĩa thuê uy hiếp đã bị Nam Thao hạ gục hay màn trước Năm Thao cũng đã ra tay nhắc nhở bọn Thức Rồng trả lại xấp vé số cho con trai mình.

 

          Vậy thì, ở tuổi 15, Hương đã là “công nhân” của một “công ty” người lớn. Từ việc giũ sợi lúc đầu nhẹ nhàng, Nhà văn đã cho thấy được toàn cảnh không gian Công ty, lắm kẻ trục lợi mánh khóe ăn chia nhau. Từ cây kim công nghiệp, đến sợi chỉ, đến bột màu nhuộm, đến dầu ma-zut chất đốt vận hành, đến những dây đồng, sắt, vật liệu xây dựng,… tuôn ra ngoài, lỏng lẻo trong tiếp nhận hàng, tráo hàng nhập kho,… cho đến phần ăn của công nhân ở bếp ăn của Công ty. Rồi lắm mưu bày vẻ  lô đề tài xỉu, huê hụi, lãi vay, tiêm chích,… hoạt động “tinh vi” vì đã được bảo kê, đã khiến cho công nhân cơ cực từng ngày sa vào tệ nạn chỉ vì ham “có tiền” nhanh chóng, khó thoát được, nợ chồng nợ tăng dần. Rồi kể cả những vụ đánh bắt ghen của Thùy Trang vợ Tuấn, những gái gú, kiều nữ,… dấy lên sau cũng dàn xếp bỏ qua.

 

           Cái bè kẻ trục lợi cá nhân luôn là lá chắn từ phá hoại đến kiềm hãm che đậy qua mắt vị chủ Đài Loan như Đặng Trần Tuấn, phó giám đốc thủ đoạn gia thêm bột màu làm hỏng chất lượng thành phẩm đầu ra, dẫu biết những sinh viên Hóa mới ra trường nắm vững kĩ thuật chuyên môn, buột phải thôi việc. Hay khi phó tổng giám đốc hỏi thăm và kiểm tra công nhân, Minh Tàn đã ba tiếng đồng hồ xúc nước thải dẻo như hồ,  khi vừa rửa ráy xong, ấy vậy mà bịt việc Ông ta hồi sang giờ làm gì mà không thấy”. Và Minh Tàn buột lòng phản ứng mạnh: Đá mú- Minh Tàn chưởi thề- Tao làm cái gì sao mày không nói cho nó biết. Chắc nó nghĩ tao trốn việc đi kiếm chỗ ngủ chứ gì…- Tiên sư mày. Vì sự lớn giọng mà đến bữa ăn anh em nói: - Ông như trái lựu đạn ông Năm ơi. Vậy là cái tên Minh Lựu Đạn ra đời.

 

           Về phía các công ty, bên cạnh Công ty Đài Loan Viet-Ta-Hung đã bị thất thoát, thì Công ty Song Long Việt vừa ra đời sau đó cũng bị phá sản,… Về phía công nhân thiệt thòi, bóc lột từ miếng ăn bị cắt xén, có tố cáo thì “thằng xoa” như “…ủy viên Trần Văn Tâm-Tâm Đĩ- thay mặt Quân,… bảo ôi dào- ăn ngày có một bữa có gì mà cáo kiện… mang tiếng vì miếng ăn nhục lắm. Đệ đơn đòi quyền lợi thì “thằng đập” uy hiếp như: Phó xưởng kẹp một kẹp vào nách rồi thằng nào viết đơn hãy liệu hồn đấy. Đang giũ sợi guồng ông đẩy mày qua nhuộm sợi cho biết thế nào là lễ độ. Đang đóng gói tao điều mày xuống lò hơi cho củi than vào lò để biết nóng với người tanhưng vì sao không phản kháng. Có lẽ từ trình độ văn hóa thấp, vì trực tiếp là miếng cơm, hoàn tất công việc, chấp nhận im lặng.

 

          Nên khi chọn người cho cuộc thi biểu dương, chủ tịch công đoàn Quân cũng đắn đo như ở tổ vắt nước có con Hết nhưng lại ghi đề, thằng Hùng lại ỷ tổ trưởng ăn lận anh em. Chốt chọn Đặng Trần Tuấn, phó xưởng, cũng con nhà nông… “người tốt việc tốt” trong  bài viết của Minh Tàn và tài kể chuyện là dối trăm phần trăm… Từ không nói cho có hay thiệt chớ. Tao nghe mà cũng tin thằng Tuấn là chính nhân quân tử. Đời mà có kẻ đi ra từ gian khó lại thành đạt và yêu thương công nhân như chính bản thân mình là xạo chúa”. Ở đây, Nhà văn Nguyễn Trí đưa ra trong cùng một con người như Đặng Trần Tuấn có đủ từ hám quyền tiền đầy mưu kế bẩn thỉu  đến hám “danh” được tiếng khen.

 

           Đối chiếu với bè trục lợi mưu kế kết cấu với kế toán trưởng ăn chặn “chuyên cần”, những “bảo hiểm xã hội”,… của công nhân, ta bắt gặp hình tượng Hoa Xương Rồng lấm láp bụi trần giữa cõi nhân sinh là Năm Thao, giang hồ thứ thiệt đầy nghĩa khí. Cái duyên nhận ra người quê mình: Một Minh Tàn- Năm Lựu Đạn hoạt ngôn, khẳng khái sẵn lòng giúp bạn có đất cất nhà ở thuận tiện sinh hoạt. Thằng Huy trở lại trường, dẫu trước đó Năm Thao cho con mình đến lớp trẻ cơ nhỡ ban đêm, vậy mà giờ lớp 7, giáo viên đến nhà buột phải đi học thêm. Còn bà Năm Thao cũng như đàn bà khác, không ngơi tay với công việc tập trung tháo gỡ khó khăn vì không thể nhờ vả người thân gia đình mình. Vậy thì, trong cách nói dân gian “giàu nhờ bạn sang nhờ vợ”, Năm Thao đón nhận “giàu và sang” từ “bạn và vợ” làm nên con người chân chính từ trong bàn tay lao động của cả gia đình. Để có sự hoàn thiện nhân cách đã phải trải qua thử thách, cám dỗ đường trần gió bụi thể lửa thử vàng,  gian nan thử sức.

 

            Hoa Xương Rồng với cái kết cũng hả hê riêng trong phạm vi thị trấn X mà đường dây tội phạm quanh quán Lẫu Cua Tiến sa lưới pháp luật. Chỉ người lao động như vợ Chiến làm công trong quán dành cả năm nhận lương một thể dồn tiền sửa nhà có là quá thật thà không.

 

           Cho một cái kết Hoa Xương Rồng thể như Trở lại trời quang đó là tổ chức Công đoàn thiết thực bảo vệ quyền lợi công nhân viên trong từ cơ quan, xí nghiệp, công ty,… Thể như công đoàn viên Nguyễn Văn Quân, Sau vụ Tâm Đĩ bỏ trốn vì ăn cắp vật tư của công ty thằng Quân bị quy trách nhiệm… chắc bị đuổi việc mà bị đuổi thật. Nếu không có một Năm Lựu Đạn, am hiểu, giúp khiếu kiện lên công đoàn cấp trên phân biệt giữa bị tội và bị hại như thế nào. Kiến thức là nền tảng của học lực và văn hóa. Với Quân, chỉ lớp năm nên gặp khó khăn chịu thiệt thòi. Ắt là bài học nhân sinh cho mỗi chúng ta, khi Năm Lựu Đạn từ phủ đầu Tuấn bằng cách cú đấm trực diện những tiêu cực trong xưởng, đến nhắc nhở: “Suy cho cùng cuộc đời này ai cũng lợi ích cá nhân trên hết. Mày hay tao không ngoài quy luật đó. Nhưng phải là cái mình làm ra một cách minh bạch… Khi tha nhân cho mình là kẻ gian lận thì những người chủ nước ngoài đang làm ăn trên xứ mình nghĩ sao hả Tuấn”. Về một lòng tự tôn dân tộc cần bảo vệ, gìn giữ./.

                                   17.01.2024/ Nguyễn Thị Phụng