Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

VÀO HẠ hay THƠ VÀ EM, của Nguyễn Thị Phụng

 

VÀO HẠ hay THƠ VÀ EM

       Vào hạ - mùa của thường niên đầy thử thách của biết bao bạn trẻ đến với mùa thi, của bao cuộc chia tay và hội ngộ. Vào hạ - mùa của cánh đồng mơn mởn ơn tay người “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Vào hạ - mùa của sắc tím bằng lăng làm dịu mềm nắng gắt gió nam, mùa của sắc phượng âm thầm cháy lòng luyến lưu nhật kí, mùa của sắc tử kinh cánh mỏng bền bỉ đua cùng thời gian năm tháng học hành. Vào hạ – những cánh diều tuổi thơ bay giữa tầng trời khao khát... Hồn quê trong tôi một chút tâm tình. Tâm tình nở hoa bất tử sau bữa ra mắt Sự kết hôn của thơ hôm sáng chủ nhật giữa ngày tháng sáu.

      Tự diễn là một bài học nằm lòng cho kịch bản riêng tôi. Mở đầu thêm một lời khẳng định: Vào hạ (của Nhạc sĩ Lê Hựu Hà), ngập tràn yêu thương các bạn sẽ quên hết cái nắng oi ả, quên hết mệt mỏi… sẽ chỉ còn lại mùa hạ của niềm vui, của sự tự tin vào cuộc sống qua tiếng hát Hồng Hoa, thể như ca sĩ chuyên nghiệp. – Không, chị nguyên là giáo viên THPT Nguyễn Diêu. Nhắc đến Nguyễn Diêu lại nhớ người thầy của Đào Tấn quê mình. Cũng là niềm hạnh phúc lớn lao cho chúng ta ngồi đây thấu được thanh âm nhạc cụ hiện đại, mà xôn xao tiếng trống chầu rằm tháng bảy quê nhà: “Ai về Chợ huyện ăn nem/ Ghé làng Vinh Thạnh cùng xem hát tuồng”.

         Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa là dịp chúng ta tri ân và kính trọng “Ơn người năm tháng dạy con” (1) . Còn Thùy Minh, MC. Chương trình khéo léo dẫn dắt bài hát Hát từ quê hương Đào Tấn (của TTVH. Tuy Phước ): “Đi xa con vẫn nhớ những chiều núi Hoàng Mai trên đồi mộ Đào Tấn có một rừng hoa mai. Những chiều sông Gò Bồi dòng nước ngậm phù sa ngập ngừng như không chảy, sao bên lở bên bồi ...” để dẫn nhập chương trình Ra mắt Giới thiệu tác giả tác phẩm của Nguyễn Thị Phụng - người con được sinh ra và lớn lên ở Lý môn Vinh Thạnh, Tuy Phước.

         Những giỏ hoa thơm tự tay người, thơm cả tấm lòng lan tỏa từ Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai, của Chi hội Văn học, của nhóm huongxua.org – những người yêu kỉ niệm xưa, của bạn thơ thẳng tiến Đi trên đường một chiều (1), của cháu Kim Chánh Hòa nhịp kết nối (2) đã không thể đến dự. Và còn thơm nữa là các cháu ở Buôn Mê Thuột đã có mặt quê nhà từ ngày hôm trước, cùng các con các cháu trong gia đình.

          Từ tên một bài thơ, tôi đã chọn đặt nhan đề cho tập thơ Sự kết hôn của thơ, cũng đâu có gì lạ. Bởi có người là có thơ. Thơ từ tấm lòng nhân sinh mà có. Cái đáng yêu chân chất hồn nhiên, mộc mạc thơm ngát hương rừng lan tỏa bao điều kì diệu, thể phép màu của tình yêu được xuất phát từ nơi đây cho một sự tất yếu: Chẳng thể giả vờ (Thanh Đa diễn ngâm) còn lưu lại: Ai lỡ đánh rơi trái tim... trên thảo nguyên xanh bao mầm xuân vừa nhú... và câu chuyện rất thơ đã có người nhặt lên thể truyện cổ tích đời người.

         Niềm tin và sức mạnh từ cuộc sống dẫu nắng mưa như thế nào, tự mỗi chúng ta biết vun vén, điểm tô đời sống văn hóa tinh thần, nguồn động lực truyền năng lượng cho nhau khi biết: “Thắp lại một tâm hồn”. Qua phần diễn đọc của Nhà văn, cô giáo Trương Thúy: “Không cần đuốc đâu anh” lặp lại ở hai khổ thơ đầu... Lời thầm thì mà ấm áp ngọn đuốc ánh sáng của nội lực, theo cánh én liệng qua mùa, con én vẽ xuân xanh giữa bầu trời bao la thênh thang mời gọi như thế nào.

       .....

      Có vội vàng không hỡi cánh én vẽ mùa xuân, vẽ đời người cho một lần xuất hiện.  Âu cũng là duyên thơ. Khi Chọn thể trường ca 6.8, nhịp thơ đồng hành nhịp đời ta, theo độ ngân của NNUT. Phương Nga thể hiện, chắc chắn rất chủ quan có bài thơ nào thăng hoa trọn vẹn. Ở mỗi bài chỉ có một từ hay nhiều nhất là một câu đủ xao xuyến tâm hồn tự ta tâm đắc luôn hai câu cuối khổ thứ nhất:

             Trái đất còn già hơn mỗi ngày càng trẻ đẹp

               Cây vươn xanh, đường cao tốc hóa gần.

        Có lẽ ngày lành tháng tốt cho Sự kết hôn của thơ hòa nhịp

dành phần thứ nhất là Thơ - tác phẩm riêng mình, sang phần thứ hai là chân tình cảm ơn tất cả Dư luận bạn đọc tùy duyên cho sự đồng cảm trên trang viết với nhiều thể loại  rất cần bảo lưu. Thể là món quà trọn vẹn dành cho nhau trên đời, cho một lần xuất hiện. Tình thân là tất cả bạn đọc xa gần.

       Thơ bên đời còn đủ nghĩa bao dung. Cái bao dung chân chất giản dị, dân dã cách lí giải Sự kết hôn của thơ: “... Và em/ Ngày mỗi ngày/ Choàng tấm áo che mưa/ Lại gặp nắng nên mồ hôi nhễ nhại/ Lại gặp gió nên phập phồng trôi nổi/ Lại gặp chiều nên bổi hổi lời ru ...” đa dạng phong phú. Bởi thơ không thể thiếu trong đời sống tâm hồn thường ngày mà lúc này ấm áp truyền cảm của Nghệ sĩ Thanh Đa thể hiện.

       Thơ bên đời còn đủ nghĩa bao dung. Hay là sự bao dung mà cô Hồng Vân-giáo viên THCS. Phước Lộc mạnh dạn sẻ chia đến giao lưu Còn yêu em mãi (sáng tác của Nguyễn Trung Cang): Dù biết trái tim đã già/ Mà những thiết tha chẳng nhòa/... / Câu ca hay khúc nhạc/ Tình yêu còn đong đầy năm tháng/...” của một tình vợ chồng nhắn nhủ đã trở thành tình yêu đôi lứa thiết tha.

        Thơ bên đời. Tựa đóa hướng dương căng tràn nhựa sống. Nhựa sống trong tôi là nguồn năng lượng gửi vào cả tứ thơ mình khi biết Đếm tuổi yêu thương: “Đã xuân há chẳng thẹn thùng/   Đã yêu há chẳng ngại ngùng thiệt yêu/... / Ta về đếm lại thật mơ/ Ô kìa trăng kết vầng thơ tuổi mình.” Mà cô giáo Thùy Minh đã chọn và diễn ngâm.

         Cũng điềm đạm nhận ra cuộc đời theo vòng xoay tạo hóa, bức vẽ cho gương mặt người ra sao. Tôi đã tự tạc Trên một bức chân dung: Đâu riêng là họa sĩ tạc một bức chân dung/ Ta có thể vẽ mình giữa bầu trời thu xanh thẳm/ Chỉ đôi mắt đọc cái nhìn thầm lặng/ Vỡ tiếng cười giòn tan trong nắng cháy trưa hè...”(nghệ sĩ Duy Phạm thể hiện) Trong cách hoàn tất bức chân dung ấy rất bản lĩnh: “Kìa là núi kiên gan giữ biển đông bền vững/ Chẳng hề chi gương mặt chạm gió đùa”.

          Và tên bài thơ Viết cho ngày 8 tháng 3 tiếp tục vẽ chân dung bằng dòng tâm tình: “Có gì đâu anh, em cũng là đàn bà/ Được gọi tên của những người khác giới /... / Em, học người đàn bà, trân quý gian nan/ AstraZeneca (3) - diệu kì đến vậy/ Cái vẻ đẹp Âu Cơ đâu chỉ sinh hoa kết trái/ Gom đơn sơ hạnh phúc làm người.” Qua phần diễn ngâm của Tuệ Mỹ - người bạn cùng lớp văn ngày xưa.

       Mỗi bài thơ trong tập Sự kết hôn của thơ là tiếng lòng từ cuộc sống được trải nghiệm. Mà vì sao khi mở đầu tập thơ, tác giả lại chọn bài Cá cược chi một ngày là sự đối chiếu giữa hiện hữu và hư vô, được và mất, giữ và buông,... và ta nhận ra: “Dễ gì cá cược hơn thua/ Trăm năm hồ dễ bán mua nhịp đời/ Phù vân giấc mộng khóc cười/ Một ngày đồng vọng mấy lời tỉ tê” mà đầy cảm hứng qua phần thể hiện của Phạm Văn Phương-người bạn thuở nào học cùng lớp cùng trường.

          .........

          Ra mắt và giới thiệu tập thơ còn là nơi gặp gỡ và tiếp tục giao lưu bạn đọc tâm huyết:

        Tôi rất vui khi đọc tập thơ Sự kết hôn của thơ của chị Phụng. Tập thơ ra mắt nhân kỷ niệm 70 mùa xuân của chị có mặt trên cõi người! Đây không chỉ là một tập hợp cảm xúc thuần túy mà còn là một hành trình suy tư về con người, thân phận và nhân sinh. Nhan đề “Sự kết hôn của thơ” là một ẩn dụ nghệ thuật giàu tính biểu tượng. “Kết hôn” không chỉ là sự giao hòa giữa cảm xúc và ngôn từ mà còn là cuộc gặp gỡ giữa thơ với đời sống, giữa cái đẹp và nỗi đau, giữa vị nhân sinh và vị nghệ thuật. Điều đó được thể hiện khá rõ trong bài thơ cùng tên khi tác giả viết: “Thơ mở lòng xin kết hôn sâu/ Đôi má thắm thẹn thùng trao hạnh phúc”. Câu thơ cho thấy thơ ca không còn là tiếng nói biệt lập mà trở thành một sinh thể sống động, biết yêu thương, biết sẻ chia và nhập cuộc với nhân gian.
         Một trong những giá trị nổi bật của tập thơ là cảm hứng nhân văn đậm đặc. Nhà thơ không nhìn cuộc đời bằng cái nhìn bi lụy mà bằng sự cảm thông sâu sắc trước những phận người nhỏ bé. Trong “Chép lại một bài thơ”, hình ảnh “đôi nạng gỗ, xe lăn” hiện lên như biểu tượng của nghị lực sống và vẻ đẹp nhân bản. Còn ở “Bản quyền từ điển thi ca”, người khiếm thị trở thành điểm tựa để tác giả suy ngẫm về ánh sáng, về sự bao dung và nhân quyền. Thơ của Nguyễn Thị Phụng vì thế luôn có xu hướng đi về phía con người, bênh vực những giá trị thiện lương và đánh thức lòng trắc ẩn.
           Đặc biệt, tập thơ mang dấu ấn thời đại khá rõ nét. Đại dịch Covid-19, chiến tranh Nga- Ukraine, động đất Thổ Nhĩ Kỳ hay những biến động xã hội đều được phản ánh qua lăng kính giàu nữ tính và nhân ái. Trong “Trở lại một tiếng rao”, tiếng rao của người phụ nữ mùa dịch trở thành ám ảnh xã hội về mưu sinh và thân phận. Ở “Thương bao nhiêu hạt phù sa”, tác giả không chỉ ghi lại nỗi đau của đại dịch mà còn ca ngợi nghĩa tình con người giữa hoạn nạn. Chính điều đó khiến thơ chị mang hơi thở đời sống đương đại nhưng không sa vào tính thời sự khô cứng.
           Về phương diện nghệ thuật, thơ Nguyễn Thị Phụng thiên về dòng suy tưởng giàu liên tưởng. Chị sử dụng khá nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng như mặt trời, giếng đời, dòng sông, cọng rơm, bầu trời, ngọn nồm… Những hình tượng ấy vừa gần gũi dân dã vừa mang chiều sâu triết lí. Nhà thơ kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường với chất ca dao, tục ngữ và hơi hướng thiền vị. Nhiều câu thơ mang giọng nói tự nhiên như lời trò chuyện, tâm tình, nhưng phía sau lại là những lớp nghĩa sâu xa. Bài “Ngày sách nói gì!?” chỉ bằng tám câu thơ ngắn đã khái quát được vai trò của sách trong việc “tri tân nhân cách”, nuôi dưỡng sáng tạo và bồi đắp văn hóa đọc...
           Tập thơ còn mang đậm dấu ấn nữ tính. Đó là cái nhìn mềm mại nhưng không yếu đuối; bao dung nhưng không né tránh hiện thực. Trong “Viết cho ngày 8 tháng 3”, hình ảnh người phụ nữ hiện lên qua thiên chức làm mẹ, sự hy sinh và lòng nhân hậu. Nhưng người phụ nữ trong thơ không chỉ là biểu tượng của tình yêu thương mà còn là chủ thể suy tư, tự ý thức về giá trị bản thân và trách nhiệm xã hội.
           Có thể nói, “Sự kết hôn của thơ” không chỉ là cuộc “kết hôn” giữa thơ và cuộc đời mà còn là sự hòa quyện giữa trải nghiệm sống, chiều sâu nhân bản và khát vọng hướng thiện. Trong dòng chảy thơ ca đương đại, đây là một tập thơ có giọng điệu riêng, giàu chất nhân văn và đáng được trân trọng. Xin chúc mừng chị !” (Lê Bá Duy).

          Còn Lê Văn Hiếu từ Lâm Đồng lại chọn bài thơ “Giếng đời” như mạch nguồn cảm hứng: “Đào sâu vào lòng đất / Sẽ gặp mạch nước ngầm / Nuôi lại đời vất vả / Trong một cuộc trăm năm // Cái giếng trời ngược lại / Chỉ có gió lùa mây / Từ bình minh tiếng hót / Chia ngọt ngào đắm say, ...   

          Tiết mục giao lưu trình diễn thơ bằng thể hát bài chòi dân gian ngọt lịm: “Dễ gì cụng rượu mà say/ Mềm môi nhắp lại những ngày còn xuân... / ... / Uống đi anh chén xuân ca/ Câu ca dao cũ hiên nhà ngấm say...” mà Phương Nga đã thể hiện.

          Chương trình khép lại trong tiếng hát Duy Phạm đầy luyến lưu Mẹ ta trả nhớ về không (Thơ Đỗ Trung Quân, nhạc Trần Thiện Thanh) cho cuộc chia xa và trở về trong tình mẹ con, mà nói bao điều chia tay và hội ngộ. Khi cái bóng mai dần thẳng thóm trên đầu, tôi không thể níu giữ những giỏ hoa trao tặng từ Nhà thơ Mai Thìn, từ Nhà thơ Khổng Trường Chiến, từ nữ sĩ Quốc Tuyên, từ Nhà thơ Ngô Văn Cư, từ những đứa cháu con chị ba. Và từ giỏ hoa của Kim Chánh, của Kim Chi cặp lọ sen tinh khiết nhất mãi đậm sắc hương trên trang sách còn giữ lại. Kể cả bài thơ nho nhỏ của bạn Huỳnh Thế Cẩn đọc lần đầu tiên đến dự tặng cô Phụng tuổi bảy mươi.

         Tôi chỉ có thể lưu những ánh mắt yêu thơ trong nắng hạ là lòng biết ơn tất cả đã đến dự Ra mắt Sự kết hôn của thơ khơi nguồn năng lượng sáng tác, mở ra những đức tính tốt đẹp tự lòng người hôm nay. Lòng biết ơn của một đời thơ với bạn đọc. Có lẽ trong lời đề từ phúc đáp, thay cho lời kết: “Tặng nhau chừng ấy muôn phần / Nghe mùa duyên đến tận cùng trang thơ” Để có chung một bức ảnh kỉ niệm thật đẹp ngày trong ngày Ra mắt Sự kết hôn của thơ của đời mình./.
Nguyễn Thị Phụng.

 

......

(1) Tập trường ca của Ngô Văn Cư

(2) Tên chương trình của BTV. Kim Chánh.

(3)Vaccine ngừa COVID -19 giá rẻ AstraZeneca của

Giáo sư người Anh Sarah Gilbert sáng chế

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

MÙA MÀNG CON CHỮ - Bài viết của Nguyễn Thị Phụng. Giới thiệu Hoa tím ngày xưa của Phan Lan Hương

 

MÙA MÀNG CON CHỮ - Bài viết của Nguyễn Thị Phụng



     Sau tập thơ đầu tay Mùa thu xanh (2015), thì Hoa tím ngày xưa ­- tập thơ thứ hai của Phan Lan Hương, NXB. HNV-2020 đã ra đời. Hẳn đây là dấu mốc Mùa màng con chữ của một Nhà báo đa tài: Nghệ sĩ và thi sĩ quen thuộc với bạn nghe đài trên sóng PTTH. Gia Lai. Chỉ 62 bài thơ với 110 trang sách đã làm nên chân dung tâm hồn một phát thanh viên ngày ấy tài hoa. Phía sau sắc màu thu xanh, hoa tím là hương vị cuộc đời: Vị tình yêu mở ra lòng bao dung thánh thiện đủ đầy thường ngày bảo bọc và nâng niu.

         Có lẽ sự hoài thai Mùa màng con chữ mỗi thời khắc tìm đến Phan Lan Hương từ những bài thơ được diễn ngâm ngấm vào trái tim rất nữ tính tha thiết cội nguồn, nuôi dưỡng thành dòng chảy ngỡ phù sa lan tỏa, hay hồn cốt mạch ngầm chắt chiu Hoa tím ngày xưa. Sắc tím mênh mang vườn cà, đồi sim, hay chiếc áo tím Huế của thủy chung son sắc.

         Trong tâm thế một tình quê nhà tha thiết. Nếu trong thoáng chút mơ hồ dậy sóng miên man khó tránh khỏi, bởi sự thật thi nhân quả đáng yêu: “Mơn man vỗ bờ/ con sóng hát chiều nay/ nhặt câu thơ/ ai bỏ quên triền đá/ thu đã về chưa/ màu trời sao xanh quá/ ... // Con sóng dập dềnh/ con sóng vô tư/ từ khơi xa vọng về/ thanh âm sâu lắng/ câu thơ đánh rơi/ bên bờ biển vắng/ miên man tìm về/ hình bóng xa xăm” (Chiều nghe sóng hát) cho phần mở đầu và cái kết hay là cuộc dấn thân con chữ hòa vào dòng chảy miền ký ức lắng sâu, thôi thúc hoài mong: “Ta tìm về/ bên em Trà giang/ tìm lại chút hương xưa/ khi chiều nghiêng bóng xế/ lỡ bỏ quên/ suốt quãng đời trai trẻ/ ...” (Trà Giang đêm tự tình). Một dấu ấn khó phai nhòa há trôi mãi luyến lưu.

         Không. Với Phan Lan Hương, thơ là cách gợi dù trong khoảnh khắc nào đó sao nguôi quảng đời xuân sắc. Đâu chỉ yêu, đâu chỉ nhớ mà đó là sự cộng hưởng rất nhân văn (Mưa, Ánh trăng xanh, Trăng và biển, Hoàng hôn tím, ...) để rồi lần theo trang thơ ta bắt gặp miền xa vắng nhớ nhung trào dâng (Hẹn, Giao mùa, ...) Đâu dễ gì đánh đổi miền hiện tại, nàng thơ trân quý biết chừng nào: “anh chỉ tặng em/ một góc bình yên/ giữa cuộc đời ồn ã/ khoảng trời riêng/ anh dành cho em tất cả/ thay những viên socola ngọt ngào/ hay bó hoa đỏ thắm/ là trái tim/ tha thiết yêu em” (Valenetine).

         Hẳn một góc bình yên ấy thân thương nhất trong ngôi nhà và tiếng trẻ trong veo mở đầu ngày mới. Cái biên độ tình yêu vừa gần gũi thể chất xúc tác đủ cộng hưởng cùng lan tỏa vẻ đẹp quê cha thân thương quá, mãi là: “... tháng Giêng mơ/ trời xanh màu ngọc bích/ tiếng chuông vọng/ trời chiều tĩnh mịch/ lắng lòng/ theo con nước Trà Giang/...” (Anh có về Quảng Ngãi cùng em). Con nước Trà Giang mở ra lời tự tình có con cá bống tô don, có vị đường phèn đường phổi, có cả mạch nha dính kết, ... cùng thanh âm hát ru và câu thơ đi cùng năm tháng, đầy tự hào kiêu hãnh về núi rừng và biển đảo Lý Sơn. Lần theo con nước Trà Giang ấy còn là biểu tượng mạch ngầm dòng chảy lịch sử văn hóa dạt dào phóng khoáng thi vị mà can cường, lênh láng mà lắng sâu, tự lòng dân vun đắp, tự lòng người bền bỉ tri ân.


        Dấu ấn tập Hoa tím ngày xưa là lời trao gửi về nơi thăm thẳm trời xanh và bao la biển lớn.
Cái vô cùng hiện hữu ấy ngỡ tầm tay với, sao lại trăn trở: “Trăng yêu biển/ nhìn từ trên cao/ làm sao Trăng biết/ lòng Biển sâu/ sóng vỗ điệp trùng/ mênh mông thế/ ai biết trong lòng/ Biển cũng đau” (Trăng và Biển). Hẳn đã là sự đúc kết tự đáy lòng biển lòng người chất chứa buồn vui ân oán há gì dò đo được nông sâu.

         Bao khắc khoải lo âu thương đoàn thuyền ra khơi đánh cá biết đã tìm nơi trú ẩn, hay chưa kịp trở về bến đậu (Nghe đài báo bão). Khi biết cái nghiệt ngã bão tố tự nhiên nơi đầu sóng ngọn gió kia cận kề gan tấc, lắm lúc phải trả giá chuyện sinh nghề tử nghiệp đã đành, nhưng cả khi đất trời bình yên mà lòng người dậy sóng, mùa màng con chữ lại được dịp nói lên sự thật bấp bênh: “Thương con nục, con măng/ trước bão tố phong ba/ từng đoàn thuyền ra khơi/ bến bờ xa thăm thẳm/ bởi quân cướp nước/ ngày đêm rình rập/ sóng dậy ba đào/ lòng mẹ quặn đau”. Nhưng niềm tin chính là thước đo sự đằm thắm dịu dàng nữ sĩ: “Hãy yên lòng nhé anh!/ nơi quê nhà/ mọi việc trước sau/ đã có em lo liệu/ sóng gió trùng khơi/ anh vững tay chèo lái/ canh giữ đất trời/ cho Tổ quốc bình yên” (Hãy yên lòng nhé anh). Cũng trong cách gửi gắm ấy đủ đầy chân tình yêu thương: “Chưa một lần/ em đến Trường Sa/ mà nghe thân thương/ vì biết anh ở đó/ đêm từng đêm/ ngọn đèn chong vàng vỏ/ nhớ ai con sóng bạc đầu/ ... / dẫu xa xôi/ chưa lần em đến được/ vẫn luôn tự hào/ vì nơi ấy có anh” (Gởi anh ở Trường Sa).

       Ẩn sâu một chữ tình thi nhân là nuôi dưỡng tâm hồn hòa cùng nhịp sống. Chút e ấp duyên nợ dẫu có chia xa trong khoảnh khắc hay một đời, thì sắc hương vẹn nguyên: “Hoa tím buồn bên dòng nước chơ vơ/ mãi ngóng trông một ngày anh trở lại/ vẫn biết dù đường đời xa ngái/ hoa vẫn chờ tím ngát bến sông xưa” (Hoa tím ngày xưa). Từ bến sông xưa nơi tiễn và đợi, nơi đi và ở, hiện hữu dấu chân còn lại mà bung nở vàng rực vùng đồi theo mùa rất bình dị: “Giữa đất trời mênh mông/ em sáng lên ngọn lửa/ khát khô mùa nắng gió/ cháy hết mình/ trong bỏng rát Cao nguyên/ ... / luôn giữ trong mình/ ngọn lửa đam mê” (Dã Quỳ). Để tồn tại, để kiêu hãnh giữ cuộc đời này. Trong cách níu giữ ấy, đó là tấm lòng người con thấu hiểu bậc sinh thành, san sẻ để nguôi ngoai (Nước mắt mẹ, Cho hỏi mẹ tôi ở đâu, Ba ơi... không kịp nữa). Trong cách níu giữ ấy, đó là kỉ niệm đẹp từ “hoa tím ngày xưa” để làm nên những tứ thơ mộc mạc mà sâu lắng của hôm nay.

         Có thể nói khi đi qua từng chặng thời gian, nhịp tháng năm mãi là vĩnh cửu trong thơ Phan Lan Hương. Giữa cái thực từ một nhà báo đến chút đa mang của nhà thơ, khi (Đi qua miền cổ tích, Tháng ba tôi, Hương sắc tháng ba, Yêu lắm tháng ba, ... ) thì cái tình của một nghệ sĩ như chị quả là rất quý. Quý lắm từ sự cô đọng từng câu chữ ở mỗi tứ thơ trào dâng nguồn thi hứng sáng tạo. Không chỉ từ nhịp thơ ngắt dòng thể như cách diễn ngâm trải hết cảm xúc chân tình tha thiết. Thể như trách nhiệm đại sứ du lịch giới thiệu vẻ đẹp về sông dài biển rộng quê mình: “Em sẽ đưa anh/ ra thăm Lý Sơn/ trùng dương/ dập dềnh cánh sóng/ nguồn yêu thương/ đong đầy trong huyết quản/ nồng nàn hương vị quê hương/ ... / như tình em/ rất đổi ngọt ngào” (Anh có về Quảng Ngãi cùng em)./.

                                                23.05.2026 / Nguyễn Thị Phụng




Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

TÌNH YÊU CÁI BÓNG NHÂN GIAN của Nguyễn Thị Phụng

 TÌNH YÊU CÁI BÓNG NHÂN GIAN
                                             của Nguyễn Thị Phụng

          TÌNH YÊU CÁI BÓNG NHÂN GIAN

          Trong từ vựng tiếng Việt, cái bóng thật đa tầng, thoắt ẩn thoắt hiện từ sự quang hợp nguồn của tự nhiên, của con người ở nhiều góc độ khác nhau. Nên khi chạm vào cái bóng trong bài Thơ Đọc Trên Nền Guitar của Trần Viết Dũng tặng NT. về cuộc giao lưu online trên facebook của Nam Thi: @ Giới thiệu bài thơ “Thơ đọc trên nền guitar”, cảm tác và đề tặng của thi sĩ đồng hương Trần Viết Dũng cho bài thơ và bức tranh cùng tựa đề của tôi đăng hôm qua “Cái bóng của trái tim 80 (1).” (Xem thơ và tranh ở phần bình luận. NT).Cảm ơn Trần Viểt Dũng. Mời các bạn cùng thưởng thức ”... Có là khoảng cách địa lí, lại đồng hành một trái tim chân-thiện-mĩ của các thi nhân đang đàm luận với nhau về cách sẻ chia trong quan niệm “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, cái tinh anh trú ngụ của Nguyễn Du ngày ấy mà Nam Thi đưa vào câu kết bài thơ mình, và bây giờ giữa thời công nghệ thông tin, nếu không phát huy nội lực sáng tạo dễ dàng bị AI chi phối. Đã thành chủ đề chính cho họ cùng trưởng thành bên dòng sông Côn lưu trữ trầm tích văn hóa từ đầu nguồn, năm tháng khẽ rung Thơ Đọc Trên Nền Guitar thể lời hạ du sông hát về Tình yêu cái bóng nhân gian:

Thơ Đọc Trên Nền Guitar 
                              tặng NT.

Trái tim

và cái bóng không tuổi

bé như hạt sương cuối mùa

mong manh đầu ngọn cỏ


Những nhịp hồi hộp đi qua chiến tranh

đi qua những cuộc tình

những cuộc chia tay

những bệnh viện trắng mùi thuốc sát trùng

và những đêm dài


Trái tim ấy

một ngày nào đó sẽ dừng lại

như chiếc đồng hồ cũ

ngừng đếm tháng năm

nhưng cái bóng của nó thì khác


Từng chuỗi lo âu, hạnh phúc

trải dài qua những chân trời không có bản đồ

qua biển xanh

qua những đỉnh núi

qua những người tôi yêu

và những người đã khuất


Cái bóng ấy

không già đi

bằng những yêu thương

bằng những giọt nước mắt

bằng những bài thơ viết giữa khuya

và những lời cầu nguyện âm thầm


Có những chiều

trái tim mỏi mệt

đập rất khẽ và bừng sáng như cánh thiên thần mang tiếng hát em

bằng câu thơ chạm vào miền sâu thẳm,

khi chuông giáo đường ngân giữa hoàng hôn

và ngôi sao đầu tiên xuất hiện


Rồi một ngày

trái tim

trở về cát bụi

nhưng cái bóng của nó bay đi,

như tiếng chuông ngân mãi

sau khi bàn tay đã rời khỏi dây chuông


Như hương trầm còn ở lại sau khi ngọn lửa đã tàn,

như một bài thơ

còn được ai đó đọc

vào một buổi chiều rất xa


Trái tim ngừng đập

nhưng tình yêu

thì không,

nó chỉ đổi đôi cánh khác

để tiếp tục cuộc hành trình

về phía những vì sao

      (04.06.2026 / Trần Viết Dũng)

Khúc hát ẩn trong ca từ không thể thưởng thức bằng thanh âm, mà câu thơ hòa nhịp trái tim thành giai điệu trong chín khổ thơ tự do. Thể chín bậc thang nghiêng nghiêng nâng bước chân lên xuống nghỉ ngơi và vội vã thường ngày của đồng bào ta.

        Hình ảnh trái tim trong bài thơ là nhịp thở hiện hữu, đang cân bằng sự sống đời người, là sự thật của một nhân vật trữ tình được ví như cái bóng không tuổi. Quả trái tim không còn là đời sống sinh học nữa, đến lúc cũng phải chậm và dừng, đó là hạnh phúc có được duyên sinh sẽ nhận được duyên tử, thật an yên khi con người đủ nhận ra vòng xoay của tạo hóa.

        Nếu khổ thơ thứ nhất lúc này “trái tim, cái bóng, hạt sương” ấy sẽ mong manh dễ vỡ trên đầu ngọn cỏ, nhưng đã thành điểm nhấn hình tượng của bài thơ. Trong nhịp thở khổ thứ hai tiếp theo, khẳng định hành trình nếm trải từ thời thanh xuân, nhịp hồi hộp đi qua chiến tranh giữa lằn tên mũi đạn, ấy là sự lựa chọn biết dấn thân cho lí tưởng sống của mình, đến những cuộc tình hò hẹn gặp gỡ trao duyên, để rồi giờ lại đón nhận cơn đau nhức nhói thể chất, cùng trăn trở không nguôi của “những đêm dài” đầy dấu ấn sự vận động của thời gian và không gian:

 Trái tim/ và cái bóng không tuổi / bé như hạt sương cuối mùa/ mong manh đầu ngọn cỏ

 Những nhịp hồi hộp đi qua chiến tranh/ đi qua những cuộc tình/ những cuộc chia tay/ những bệnh viện trắng mùi thuốc sát trùng và những đêm dài”.

         “Những đêm dài” không chỉ là bệnh lí người già mất ngủ, hẳn sự tồn tại ở nhân vật trữ tình trong bài thơ ôn lại kỉ niệm đã qua, có dấu ấn nào trong đời đã sống và đã yêu với tình yêu chân thành trọn vẹn chưa. Và ở họ có một điểm tương đồng nào đó trên bước đường văn hóa nhân sinh, sự tồn tại đời người không còn là thước đo thời gian, tuổi thọ nữa. Họ chữa lành tâm hồn mình trong cách tự truyền năng lượng tích cực cho nhau, thể ánh mặt trời bừng tỉnh đầu ngày và lưu lại cái ráng đỏ chiều hôm, bằng những câu chuyện thường nhật cả tứ thơ giao lưu trên net. Đầy lòng biết ơn và trân quý với tất cả những ai đã từng toàn tâm, toàn ý, tử tế và bao dung và hoàn thiện nhân cách. Trái tim ấy, cái bóng ấy theo mạch cảm xúc của Trần Thi sĩ tạc một bức tranh ngôn từ, nhịp của đêm dài để thẩm thấu lộ trình bao quát qua biển xanh – màu xanh đặc trưng sâu thẳm bao la, qua những đỉnh núi – trên tận cùng vững chãi kiên định, há ngại gian nan vất vả cũng tất cả vì con người với một tình yêu nhân bản đủ độ dài đường biên phóng khoáng vô cùng bền bỉ, khôn nguôi:

 Trái tim ấy/ một ngày nào đó sẽ dừng lại/ như chiếc đồng hồ cũ/ ngừng đếm tháng năm/ nhưng cái bóng của nó thì khác

 Từng chuỗi lo âu, hạnh phúc/ trải dài qua những chân trời không có bản đồ/ qua biển xanh/ qua những đỉnh núi / qua những người tôi yêu/ và những người đã khuất

 Cái bóng ấy/ không già đi / bằng những yêu thương / bằng những giọt nước mắt

        Chiếc đồng thời gian đời người sẽ phải dừng, nên Trái tim ấy, Cái bóng ấy không ngụy tạo hay trì hoãn níu kéo, mà đó chính là vẻ đẹp chân lí của thiện nguyện, nhận ra cách dừng kịp thời đúng lúc cùng san sẻ cho nhau. Nhưng phải được tiếp nối, duy trì lan tỏa. Mọi gò bó cảm xúc dẫn đến nghèo nàn của ích kỉ, tham sân si dễ dàng vồ vập. Nỗi niềm thi nhân không giới hạn “... những chân trời không có bản đồ ... ” đẹp lắm cảnh vật của tự nhiên và con người chân ái trong đời trong thế giới này, đất nước này, quê hương này đã chọn ta, ta đã từng nương tựa vào nhau để sống. Đó là lòng tri ân. Hẳn Cái bóng ấy/ không già đi mãi trường tồn vĩnh cửu nguồn cội tâm hồn tươi trẻ, truyền thông điệp xanh là món quà thi nhân đơn sơ, chân thành đến vậy: “bằng những bài thơ viết giữa khuya/ và những lời cầu nguyện âm thầm

        Khi một trái tim thi nhân sẵn sàng đón nhận sự thật sinh tử là hạnh phúc đời người. Mọi rào cản nói điềm gở cũng chỉ là nuối tiếc thường tình. Đã biết chọn con đường sống sẵn sàng cống hiến và hi sinh, thì sự ra đi thanh thản tất yếu của sinh lão bệnh tử kia mà. Còn là chiêm nghiệm về thái độ và ứng xử với môi trường cuộc sống. Dự báo không là miễn cưỡng, mà cách đón nhận tình yêu từ cha mẹ ban tặng hình hài, lớn lên và trưởng thành trách nhiệm, hẳn đã trọn vẹn một đời làm nên gia đình và xã hội trong kí ức ngân vang:

 Có những chiều/ trái tim mỏi mệt/ đập rất khẽ và bừng sáng như cánh thiên thần mang tiếng hát em/ bằng câu thơ chạm vào miền sâu thẳm,/ khi chuông giáo đường ngân giữa hoàng hôn/ và ngôi sao đầu tiên xuất hiện

 Rồi một ngày/ trái tim/ trở về cát bụi/ nhưng cái bóng của nó bay đi,/ như tiếng chuông ngân mãi/ sau khi bàn tay đã rời khỏi dây chuông

 Như hương trầm còn ở lại sau khi ngọn lửa đã tàn,/ như một bài thơ/ còn được ai đó đọc/ vào một buổi chiều rất xa

          Thật tình tôi muốn đọc đi đọc lại đoạn thơ theo nhịp đời thi nhân được phát thảo rung lên bừng tỉnh: “Có những chiều/ trái tim mỏi mệt/ đập rất khẽ và bừng sáng như cánh thiên thần mang tiếng hát em/ bằng câu thơ chạm vào miền sâu thẳm,/ khi chuông giáo đường ngân giữa hoàng hôn/ và ngôi sao đầu tiên xuất hiện... Rồi một ngày...  rất xa”. Cũng sẽ dần đến không một ai chối cãi bởi đó cũng là ưu ái cho mỗi người.

          Đến khi đủ nhận ra vẻ đẹp của cái bóng ấy nơi cuối đời mình: “Trái tim ngừng đập/ nhưng tình yêu/ thì không,/ nó chỉ đổi đôi cánh khác/ để tiếp tục cuộc hành trình/ về phía những vì sao” không chút suy tư, bàng hoàng và nghiễm nhiên tất yếu về tình yêu cuộc sống trải qua đầy thi vị trong bể rộng sông sâu. Đoạn thơ cuối khép lại như chuỗi hành trình Độc hành ca (2) từ khởi đầu và kết thúc dầy mãn nguyện.

         Thơ Đọc Trên Nền Guitar của Trần Viết Dũng đầy rung động nỗi lòng với cuộc đời vị lão thành Nam Thi. Sự ngưỡng mộ và kính trọng bậc tiền bối thăng hoa trong bài thơ chín khổ, mỗi khổ chính là một câu cho nhịp thơ rơi dòng, theo cung bậc gợi tả đầy cảm hứng từ nguồn cội “Sự phát khởi của thơ là lòng người” (Lê Quý Đôn) mà ra. Căn nguyên của sự phát khởi để làm nên bài thơ cảm tác trữ tình độc đáo Thơ Đọc Trên Nền Guitar như chữ của Nam Thi: “Tôi thường nghĩ rằng Trần Viết Dũng như khe suối, dòng sông thầm lặng chảy. Nhưng dòng nước nào cũng xôn xao, trăn trở. Ai có duyên, có tâm sẽ nghe được tiếng lòng, tiếng hát, mời gọi thiết tha của dòng sông bằng ngôn ngữ của gió, của trăng, của quá khứ, hiện tại và vị lai.” Hẳn từ bài thơ Cái bóng của trái tim của Nam Thi, với cả trường từ vựng liên kết: trái tim, cái bóng, những vì sao, tiếng hát, tiếng chuông và không gian, thời gian, ... duy trì đã là nét riêng của chính tác giả. Thì ở Trần Viết Dũng đã làm phép thử hóa thân vào trái tim và cái bóng ấy làm nên phong cách sáng tạo. Trở lại sự tĩnh tâm, đọc lại nguyên tác và cảm tác, cho ta dựa vào câu Kiều Nguyễn Du lí giải: “Mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười”. Cái vẻ đẹp thuần khiết ở tâm hồn thi nhân cho ta trở về thực tại: “Thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu” (Hoài Thanh)

                                                   04.06.2026 / Nguyễn Thị Phụng

(1). Cái bóng của trái tim

 Tôi vẽ trái tim và cái bóng của nó

Trái tim 80

Thực mà không thực

Không tồn tại mà sống.

Trái tim già nua và yếu ớt

 

Nhưng cái bóng của nó lớn hơn

không giới hạn

như tình yêu

Phi không gian và thời gian

Tinh khiết như ánh sáng

 

Khi trái tim nhỏ nhoi và cái bóng bao la của nó

Cùng đập một nhịp bồi hồi

cùng hơi thở của thơ

và rộn ràng tiếng hát của em

bay lên với đôi cánh ánh sáng

Hoàng hôn vang tiếng chuông ngân

vọng từ thiên thu bất tận

từ tít tắp những vì sao

 

Anh sống với cả trái tim và cái bóng của nó

Trái tim già nua một ngày sẽ ngừng đập

nhưng cái bóng không có tuổi vẫn còn

“Thác là thể phách

còn là tinh anh” (Kiều)

                          4-6-2026 / NT

(2) Tên bài thơ của Nam Thi

 

 


 

 

        

           

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG. (Đọc Lục bát Độc hành ca của Nam Thi). Nguyễn Thị Phụng.

 

VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG

       VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG

            “Ta về ngồi với dòng sông/ Chìm trong đáy nước mênh mông biển trời” (Nam Thi). Chính là lời tâm tình trong thơ Nam Thi đâu chỉ là dòng Côn Tây Sơn xứ Nẫu quê anh, mở cửa ban mai thấy đập Dâng trước nhà, thấy núi Chóp Vàng ngàn năm soi bóng, mà còn là hình tượng nghệ thuật từ khởi nguồn ra cửa bể của chặng đường khai sinh ban đầu khi “những đứa con rơi”- đó là những tứ thơ bất chợt vội đến bên những gian lao thời tuổi trẻ, trong chiều dài sông nước, trong khoáng đãng biển trời, và nhất là trong ứng xử tâm hồn mình, cho đi sự lương thiện và nhận về trầm tích lắng chìm đáy nước. “Về ngồi với dòng sông” hay chính dòng “Lục bát – Độc hành ca” (NXB. HNV. 2026) của Nam Thi, là tập thơ thứ sáu trong mười tập sách đủ các thể loại từ truyện ngắn, tự truyện, cùng Trường ca Sông thiêng và Đất lành – tất cả kết nối cuộc đời thi nhân từ một Nhà báo lão thành cách mạng, đầy năng lượng tích cực gieo tấm chân tình vào lòng bạn đọc, là ngọn nguồn động lực duy trì cách sống tử tế tin yêu. Từ tựa đề tập thơ đầu tay Tôi không tìm thấy tôi (2019) đinh ninh thể đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, thong thả ung dung Độc hành ca riêng mình. Xem như là cuộc chơi thơ từ những hoài niệm kí ức chưa xa ùa về, như cách lưu trữ sáng tạo vẻ đẹp ngôn ngữ thơ vào trang sách, cũng là quà tặng đón chào tuổi tám mươi riêng mình. Mà anh thường hay nói với bạn bè giamahamzui chơi tới bến luôn.

       1. Với Nam Thi, lục bát là sứ mệnh thơ ca truyền thống. Vừa nâng niu giữ gìn hồn cốt báu vật nhân sinh, vừa duy trì sáng tạo nghệ thuật câu từ cũng là thử thách lớn với người sáng tác. Lục bát đâu chỉ nhẫn nại từ cách gieo vần nhịp điệu, mà cái điệu thời gian chịu đựng thay đổi theo mùa đất trời, mùa của tình người chân chất gắn bó xưa nay: “Hỡi người đang gọi ta về/ Chờ lâu Vĩnh Cửu rượu khê mất mùi/ Ta về Đồng Phó kiếm gùi/ Từ bi suối vắng chim bùi ngùi kêu/.../ Đợi ta nhé bạn chung tình/ Chiếc gùi nhân nghĩa mà đành quên sao”(Gửi về quê xa). Từ trong cách gọi nhớ thương, cách chờ khao khát thật nhẹ nhàng mà đằm thắm, tỉnh táo mà ngất ngây (Em ơi đừng vội, Cho anh xin,...) là thanh âm vọng lại vỗ về bật mầm lục bát lên xanh: “Thơ say chếnh choáng men tình / Tiếng mưa sao giống tim mình nỉ non / Tình ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ non ven đường” (Tình say).

          Tình say là thật. Cái thật là đối chiếu tâm hồn đầy vơi ở câu lục: “Thơ say chếnh choáng men tình” có là mạch mưa của tự nhiên tiếp nối sang câu bát: “Tiếng mưa sao giống tim mình nỉ non”, có là phép màu giữa hoài nghi day dứt kéo dài sinh sôi trong cặp lục bát tiếp theo “Tình ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ non ven đường” đến vậy. Không chỉ là một cấu trúc tu từ chất vấn đặc biệt trong lục bát Nam Thi. Phải chăng mưa “thiêng” ấy lặng lẽ kịp đủ ướt đẫm cháy bừng cảm hứng tình say thăng hoa: “Mưa chi ướt đẫm câu thơ/ Để ngày thoi thóp tình hờ hững đêm/ Em ơi còn nhớ hay quên/ Nụ hoa vừa rụng bên thềm đêm qua” (Mưa xuân hoa rụng), còn thi nhân thì dễ gì?!...

          Thơ say là thật. Cái thật là tình say duyên phận, nhưng nghiệt ngã lắm lúc trớ trêu, thể kế thừa và tri ân từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mở đầu chùm Lục bát tình với mười bài thơ vận đời mình, lặp lại phát vấn:

          “Đời sinh lục bát chung tình

           Có đôi có cặp như mình với ta

           Nghìn câu lục bát đậm đà

           Thơ Kiều xót cõi người ta đau đời”/ (Tình).

        Từ cách tiếp nhận thơ ca truyền thống, câu chuyện đời Kiều mười lăm năm ám ảnh “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” thân phận “Có tài mà cậy chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Còn Lục bát tình Nam Thi bộc bạch nỗi lòng trân quý yêu thương, không gai góc đọa đày, bởi nhân vật trữ tình trong thơ Nam Thi là em là anh là ta, hay đôi lúc phảng phất ca dao là cô hay là ai đó. Chập chờn mà hiện hữu cũng là thi pháp thơ ca truyền thống. Không mơ hồ mà đằm sâu trong kí ức đẹp từ ánh mắt, từ dấu vân tay chạm vào làn da mềm mại ấm áp đã sở hữu, hoàn toàn khác biệt điểm trỏ dấu vân tay trên cảm biến điện từ lưu căn cước công dân vào Trung tâm dữ liệu Quốc gia.

           Trong Lục bát Nam Thi, ngôn ngữ là tiếng nói thân phận con người, thi nhân. Dễ làm người ta nhớ thời gian tâm tưởng, đồng vọng trái tim yêu, và nghĩ đến đầu tiên giải tỏa cô đơn vào cấu trúc của thể loại này. Khoảnh khắc đợi chờ chạm vào chữ nghĩa thuần túy, cái đẹp sở hữu tâm hồn miên man lắng đọng: “Đời ta ngậm ngải tìm trầm/ Tìm đâu thấy dẫu trăm năm vẫn tìm” (Vọng một tiếng em). Phải chăng khát vọng em, khát vọng tri kỉ tìm đâu ra được... trăn trở khôn nguôi. Dấu ấn thời gian thêm vào nếp nghĩ, nếp cảm đến tận cùng: “Em đi về phía hoàng hôn/ Đường xa hun hút ai còn nhớ ai.” (Hoàng hôn em). Rồi điểm lại: “Năm mươi năm cũ xa rồi / Mà sao sóng vẫn trùng khơi vỗ bờ” (Duyên tháng bảy). Năm mươi năm đã là nửa thế kỉ, ngót cả đời người mà dễ gì khó dứt: “Mùa thu không chết đâu em/ Tiếng mưa rón rén ngoài thềm đêm thâu/ Cũng là một chút mưa ngâu/ Nghìn năm trước nghìn năm sau còn buồn(Thu cảm). Cho một cái kết liều lĩnh rất thi nhân: “Ta buồn đem đốt bài thơ/ Tro bay theo gió, khói mờ dáng ai/ Em ơi nắng nhạt chiều phai/ Tình xưa phơi trận mưa mai ướt dầm(Bỏ bùa).

          Lục bát tình Nam Thi sâu lắng mà mới mẻ, là tấm chân tình khí khái đặt tin cậy của trăm năm: “Ta đi gửi núi cho mây/Gửi sông cho nước gửi cây cho rừng/ Ta về đông trả mùa xuân/ Con đường xưa trả dấu chân thuở nào” thế mà: “Nụ hôn ta đã trao nhau/ Để cho gió cuốn bay vào hư vô” (Gửi đi và Nhận lại). Lục bát Nam Thi thường đối chiếu hiện hữu giữa động và tĩnh ăm ắp của tự nhiên là thế, của lòng người nhẹ nhàng thoáng qua chút nuối tiếc khôn cùng.       

     2. Độc hành ca luôn đồng hành tình yêu và cuộc sống với tám khúc trải nghiệm đời người, đời thơ. Từ bước chân đầu tiên của loài người, cuộc dấn thân hành trình con chữ cấu trúc thơ tự do, phóng khoáng lại bị mê hoặc từ “trái táo” vườn địa đàng định mệnh kia. Đủ nhận ra đường hạnh phúc lắm gian nan phải đổi bằng nổ lực thường ngày, thiên đàng thế gian không là tận hưởng, đâu đó còn đọng mồ hôi xương máu nước mắt đau thương.

           Vốn trái tim thiện lương cho sự minh triết nhân cách mỗi người ẩn trong bóng mình, trân quý khoảnh khắc gần gũi, là giá trị sự sống và tôn trọng sự tự do tâm hồn không ràng buộc: “Anh và em / Không thể nào có nhau như hình với bóng/ Em vẫn là em/ Anh vẫn là anh/ Dẫu nằm kề bên nhau/ Vẫn là hai hạt cát/ Với hai trái tim riêng/ Dẫu nụ hôn có gắn nhau trong chốc lát/ Rồi cũng tách rời khi vòng tay buông/ Mỗi người lại độc hành với chiếc bóng của mình/ Chỉ còn nhớ nhau như sông nhớ biển/ Như đêm nhớ ngày/ Như ánh sáng và bóng tối không ở cùng nhau” (Độc hành ca – 4. Bóng và tôi).

          Hẳn thơ vẫn là một bằng chứng đủ mách bảo và duy trì chân lí: “Tình yêu phủ xanh trái đất... Người độc hành nhưng không cô độc/ Bởi luôn có tình yêu đồng hành/ Vinh danh tình yêu nên trái đất màu xanh/ Cuộc hành hương cõi tình huyền diệu” (6. Trong cuộc hành hương cõi tình). Và khi đối diện chính mình bị chi phối từ trợ giúp của AI, công nghệ khoa học màn hình phẳng thao túng tâm lí con người từ bữa ăn, giấc ngủ, kể cả cảm xúc văn chương. Nên khi kết thúc Độc hành ca những băn khoăn tự hỏi giữa hữu hạn đời người và vô biên trời đất: “Trái tim của biển nơi nào/ Mà triệu triệu năm rì rào sóng vỗ/ Hải âu mãi miết kiếm tìm/ Mỏi cánh thiên di... Số phận hải âu phi xứ” (8. Hải âu - kẻ độc hành tội nghiệp) hay số phận con người, số phận Độc hành ca trở về tìm giá trị nhân bản tất yếu trong sự tuần hoàn vĩnh cửu.

          Thêm vào Lục bát Độc hành ca, là Những bài thơ khác viết theo thể tự do vẫn giàu âm điệu chính là phong cách sáng tác của Nam Thi, tồn tại một giả định đủ minh chứng thuyết phục kết nối vòng tay yêu thương: “Nếu không có tình yêu trái đất là hành tinh chết/ Chỉ là viên bi xanh/ Bay lòng vòng trong vũ trụ vô biên /Và hận thù là ô nhiễm hủy hoại tình quyển...”(Tình quyển). Đó là tất yếu. Những hân hoan trong ngày thống nhất đất nước: “Sáng nay thành phố rực cờ hoa/ Tiếng hát ca thơm môi hồng em gái/ Nắng trải hoa đường ta đi tới/ Trên dấu xưa bánh xích xe tăng// Xin cảm ơn đời/ ta được sống trọn năm mươi lần Ba mươi tháng Tư/ Cảm ơn em đã đi cùng anh/ từ thuở đầu xanh/ đến nay đầu bạc/ Với những ước mơ/ đã đơm hoa kết trái...(Lời cảm ơn ba mươi tháng tư).

          Có thể kể trong Những bài thơ khác là đoản ca của Nam Thi chính là bề dày cảm xúc từ hai câu, ba câu, bốn câu - lời ngắn tình dài, biết ơn và vun vén: “Vẫn Huế đấy - Huế trong tôi/ Mạ ru từ thuở nằm nôi tới chừ/ Vẫn còn em - một câu thơ/ Vẫn còn tà áo bơ vơ đò chiều... (Huế trong tôi), là sở trường của anh liền mạch trải lòng, suy ngẫm: “Và tôi… Chỉ với riêng tôi/ Cuộc nhân gian chỉ một lời heo may” hay cách định thiền gửi gắm tin yêu gìn giữ trân quý: “Hiên đời nở đóa từ tâm/ Cuối chiều nghe tiếng vọng âm chuông chùa” (Đoản ca 2).

          Thêm một thể loại nữa là Thơ Đường với mười hai bài trong cảm tác sẻ chia cùng bầu bạn, đâu chỉ là chỉnh chu niêm luật mà thể hiện phong thái ung ung bậc thi nhân cao niên. Thử đọc cặp câu thực và luận trong bài Duyên Lý môn:

                       “Phù điêu bách tuế in sâu nét

                      Tuồng cổ thiên thu thắm tích son

                     Mai cốt ngời ngời soi ánh nguyệt

                     Phượng ca dời dợi ngút đầu non

          4. Toàn tập Lục bát Độc hành ca với 265 trang chia làm ba chương rất logich. Phần đầu Lục bát tình, tiếp theo Độc hành ca và kết là Những bài thơ khác. Dẫu bố cục riêng biệt, nhưng trong mỗi tứ thơ mở rộng tâm hồn từ những cấu trúc thể loại, thể như cuộc vận hành tự do đầy khí khái mà giàu lòng trắc ẩn tới bến bờ văn chương, thể như mặc định vườn hoa xuân hài hòa hương sắc. Dù trong mọi hoàn cảnh, để bảo vệ duy trì sự sống với thế gian này, thơ ca là nguồn cội tình yêu tiếp nối, lan tỏa tôn vinh cách ứng xử đẹp, như tấm lòng thi nhân chia sẻ: “Thương câu lục bát truân chuyên/ Nỗi niềm quân tử thuyền quyên hảo cầu/ À ơi lục bát có nhau/ Ngàn năm cũng chẳng phai màu thủy chung” (Ngàn đời lục bát có nhau) ./. 

                                                      15.03.2026 / Nguyễn Thị Phụng