VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG
VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG
“Ta về ngồi với dòng sông/ Chìm trong đáy nước mênh mông biển trời”
(Nam Thi). Chính là lời tâm tình trong thơ Nam Thi đâu chỉ là dòng Côn Tây Sơn
xứ Nẫu quê anh, mở cửa ban mai thấy đập Dâng trước nhà, thấy núi Chóp Vàng ngàn
năm soi bóng, mà còn là hình tượng nghệ thuật từ khởi nguồn ra cửa bể của chặng
đường khai sinh ban đầu khi “những đứa con rơi”- đó là những tứ thơ bất chợt vội
đến bên những gian lao thời tuổi trẻ, trong chiều dài sông nước, trong khoáng
đãng biển trời, và nhất là trong ứng xử tâm hồn mình, cho đi sự lương thiện và
nhận về trầm tích lắng chìm đáy nước. “Về
ngồi với dòng sông” hay chính dòng “Lục bát – Độc hành ca” (NXB. HNV.
2026) của Nam Thi, là tập thơ thứ sáu trong mười tập sách đủ các thể loại từ
truyện ngắn, tự truyện, cùng Trường ca Sông
thiêng và Đất lành – tất cả kết nối cuộc đời thi nhân từ một Nhà báo lão
thành cách mạng, đầy năng lượng tích cực gieo tấm chân tình vào lòng bạn đọc,
là ngọn nguồn động lực duy trì cách sống tử tế tin yêu. Từ tựa đề tập thơ đầu
tay Tôi không tìm thấy tôi (2019)
đinh ninh thể đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, thong thả ung dung Độc hành ca riêng mình. Xem như là cuộc
chơi thơ từ những hoài niệm kí ức chưa xa ùa về, như cách lưu trữ sáng tạo vẻ đẹp
ngôn ngữ thơ vào trang sách, cũng là quà tặng đón chào tuổi tám mươi riêng
mình. Mà anh thường hay nói với bạn bè giamahamzui chơi tới bến luôn.
1. Với Nam Thi, lục bát là sứ mệnh thơ
ca truyền thống. Vừa nâng niu giữ gìn hồn cốt báu vật nhân sinh, vừa duy trì sáng tạo nghệ
thuật câu từ cũng là thử thách lớn với người sáng tác. Lục bát đâu chỉ nhẫn nại
từ cách gieo vần nhịp điệu, mà cái điệu thời gian chịu đựng thay đổi theo mùa đất
trời, mùa của tình người chân chất gắn bó xưa nay: “Hỡi người đang gọi ta về/ Chờ lâu Vĩnh Cửu rượu khê mất mùi/ Ta về Đồng
Phó kiếm gùi/ Từ bi suối vắng chim bùi ngùi kêu/.../ Đợi ta nhé bạn chung tình/
Chiếc gùi nhân nghĩa mà đành quên sao”(Gửi về quê xa). Từ trong cách gọi nhớ
thương, cách chờ khao khát thật nhẹ nhàng mà đằm thắm, tỉnh táo mà ngất ngây
(Em ơi đừng vội, Cho anh xin,...) là thanh âm vọng lại vỗ về bật mầm lục bát
lên xanh: “Thơ say chếnh choáng men
tình / Tiếng mưa sao giống tim mình nỉ non / Tình ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ
non ven đường” (Tình say).
Tình
say là thật. Cái thật là đối chiếu tâm hồn đầy vơi ở câu lục: “Thơ say chếnh choáng men tình” có là mạch
mưa của tự nhiên tiếp nối sang câu bát: “Tiếng
mưa sao giống tim mình nỉ non”, có là phép màu giữa hoài nghi day dứt kéo
dài sinh sôi trong cặp lục bát tiếp theo “Tình
ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ non ven đường” đến vậy. Không
chỉ là một cấu trúc tu từ chất vấn đặc biệt trong lục bát Nam Thi. Phải chăng
mưa “thiêng” ấy lặng lẽ kịp đủ ướt đẫm cháy bừng cảm hứng tình say thăng hoa: “Mưa chi ướt đẫm câu thơ/ Để ngày thoi thóp
tình hờ hững đêm/ Em ơi còn nhớ hay quên/ Nụ hoa vừa rụng bên thềm đêm qua”
(Mưa xuân hoa rụng), còn thi nhân thì dễ gì?!...
Thơ say là thật. Cái thật
là tình say duyên phận, nhưng nghiệt ngã lắm lúc trớ trêu, thể kế thừa và tri
ân từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mở đầu chùm Lục bát tình với mười bài thơ vận đời mình, lặp lại phát vấn:
“Đời sinh lục bát chung tình
Có đôi có cặp như mình với ta
Nghìn câu lục bát đậm đà
Thơ Kiều xót cõi người ta đau đời”/ (Tình).
Từ cách tiếp
nhận thơ ca truyền thống, câu chuyện đời Kiều mười lăm năm ám ảnh “Trời xanh
quen thói má hồng đánh ghen” thân phận “Có tài mà cậy chi tài / Chữ tài liền với
chữ tai một vần”. Còn Lục bát tình Nam Thi bộc bạch nỗi
lòng trân quý yêu thương, không gai góc đọa đày, bởi nhân vật trữ tình trong
thơ Nam Thi là em là anh là ta, hay đôi lúc phảng phất ca dao là cô hay là ai
đó. Chập chờn mà hiện hữu cũng là thi pháp thơ ca truyền thống. Không mơ hồ mà
đằm sâu trong kí ức đẹp từ ánh mắt, từ dấu vân tay chạm vào làn da mềm mại ấm
áp đã sở hữu, hoàn toàn khác biệt điểm trỏ dấu vân tay trên cảm biến điện từ
lưu căn cước công dân vào Trung tâm dữ liệu Quốc gia.
Trong Lục bát Nam Thi, ngôn ngữ là tiếng nói thân phận con người, thi
nhân. Dễ làm người ta nhớ thời gian tâm tưởng, đồng vọng trái tim yêu, và
nghĩ đến đầu tiên giải tỏa cô đơn vào cấu trúc của thể loại này. Khoảnh khắc đợi
chờ chạm vào chữ nghĩa thuần túy, cái đẹp sở hữu tâm hồn miên man lắng đọng: “Đời ta ngậm
ngải tìm trầm/ Tìm đâu thấy dẫu trăm năm vẫn tìm” (Vọng một tiếng em). Phải chăng khát vọng em, khát vọng tri kỉ tìm đâu ra được... trăn trở
khôn nguôi. Dấu ấn thời gian thêm vào nếp nghĩ, nếp cảm đến tận cùng: “Em đi về phía hoàng hôn/ Đường xa hun hút ai
còn nhớ ai.” (Hoàng hôn em). Rồi điểm lại: “Năm mươi năm cũ xa rồi / Mà sao sóng vẫn trùng khơi vỗ bờ” (Duyên
tháng bảy). Năm mươi năm đã là nửa thế kỉ, ngót cả đời người mà dễ gì khó dứt:
“Mùa thu không chết đâu em/ Tiếng mưa rón
rén ngoài thềm đêm thâu/ Cũng là một chút mưa ngâu/ Nghìn năm trước nghìn năm
sau còn buồn” (Thu cảm). Cho một cái kết liều
lĩnh rất thi nhân: “Ta buồn đem đốt
bài thơ/ Tro bay theo gió, khói mờ dáng ai/ Em ơi nắng nhạt chiều phai/ Tình
xưa phơi trận mưa mai ướt dầm” (Bỏ bùa).
Lục bát tình Nam Thi sâu lắng mà mới mẻ, là tấm chân tình khí khái đặt tin cậy của trăm năm: “Ta đi gửi núi cho mây/Gửi sông cho nước gửi cây cho rừng/ Ta về đông trả mùa xuân/ Con đường xưa trả dấu chân thuở nào” thế mà: “Nụ hôn ta đã trao nhau/ Để cho gió cuốn bay vào hư vô” (Gửi đi và Nhận lại). Lục bát Nam Thi thường đối chiếu hiện hữu giữa động và tĩnh ăm ắp của tự nhiên là thế, của lòng người nhẹ nhàng thoáng qua chút nuối tiếc khôn cùng.
Vốn trái tim thiện lương cho sự minh triết nhân cách mỗi người ẩn trong bóng mình, trân quý khoảnh khắc gần gũi, là giá trị sự sống và tôn trọng sự tự do tâm hồn không ràng buộc: “Anh và em / Không thể nào có nhau như hình với bóng/ Em vẫn là em/ Anh vẫn là anh/ Dẫu nằm kề bên nhau/ Vẫn là hai hạt cát/ Với hai trái tim riêng/ Dẫu nụ hôn có gắn nhau trong chốc lát/ Rồi cũng tách rời khi vòng tay buông/ Mỗi người lại độc hành với chiếc bóng của mình/ Chỉ còn nhớ nhau như sông nhớ biển/ Như đêm nhớ ngày/ Như ánh sáng và bóng tối không ở cùng nhau” (Độc hành ca – 4. Bóng và tôi).
Hẳn thơ vẫn là một bằng chứng đủ mách bảo và duy trì chân lí: “Tình yêu phủ xanh trái đất... Người độc hành nhưng không cô độc/ Bởi luôn có tình yêu đồng hành/ Vinh danh tình yêu nên trái đất màu xanh/ Cuộc hành hương cõi tình huyền diệu” (6. Trong cuộc hành hương cõi tình). Và khi đối diện chính mình bị chi phối từ trợ giúp của AI, công nghệ khoa học màn hình phẳng thao túng tâm lí con người từ bữa ăn, giấc ngủ, kể cả cảm xúc văn chương. Nên khi kết thúc Độc hành ca những băn khoăn tự hỏi giữa hữu hạn đời người và vô biên trời đất: “Trái tim của biển nơi nào/ Mà triệu triệu năm rì rào sóng vỗ/ Hải âu mãi miết kiếm tìm/ Mỏi cánh thiên di... Số phận hải âu phi xứ” (8. Hải âu - kẻ độc hành tội nghiệp) hay số phận con người, số phận Độc hành ca trở về tìm giá trị nhân bản tất yếu trong sự tuần hoàn vĩnh cửu.
Thêm vào Lục bát Độc hành ca, là Những bài thơ khác viết theo thể tự do vẫn giàu âm điệu chính là phong cách sáng tác của Nam Thi, tồn tại một giả định đủ minh chứng thuyết phục kết nối vòng tay yêu thương: “Nếu không có tình yêu trái đất là hành tinh chết/ Chỉ là viên bi xanh/ Bay lòng vòng trong vũ trụ vô biên /Và hận thù là ô nhiễm hủy hoại tình quyển...”(Tình quyển). Đó là tất yếu. Những hân hoan trong ngày thống nhất đất nước: “Sáng nay thành phố rực cờ hoa/ Tiếng hát ca thơm môi hồng em gái/ Nắng trải hoa đường ta đi tới/ Trên dấu xưa bánh xích xe tăng// Xin cảm ơn đời/ ta được sống trọn năm mươi lần Ba mươi tháng Tư/ Cảm ơn em đã đi cùng anh/ từ thuở đầu xanh/ đến nay đầu bạc/ Với những ước mơ/ đã đơm hoa kết trái...(Lời cảm ơn ba mươi tháng tư).
Có thể kể trong Những bài thơ khác là đoản ca của Nam Thi chính là bề dày cảm xúc từ hai câu, ba câu, bốn câu - lời ngắn tình dài, biết ơn và vun vén: “Vẫn Huế đấy - Huế trong tôi/ Mạ ru từ thuở nằm nôi tới chừ/ Vẫn còn em - một câu thơ/ Vẫn còn tà áo bơ vơ đò chiều... (Huế trong tôi), là sở trường của anh liền mạch trải lòng, suy ngẫm: “Và tôi… Chỉ với riêng tôi/ Cuộc nhân gian chỉ một lời heo may” hay cách định thiền gửi gắm tin yêu gìn giữ trân quý: “Hiên đời nở đóa từ tâm/ Cuối chiều nghe tiếng vọng âm chuông chùa” (Đoản ca 2).
Thêm một thể loại nữa là Thơ Đường với mười hai bài trong cảm tác sẻ chia cùng bầu bạn, đâu chỉ là chỉnh chu niêm luật mà thể hiện phong thái ung ung bậc thi nhân cao niên. Thử đọc cặp câu thực và luận trong bài Duyên Lý môn:
“Phù điêu bách tuế in sâu nét
Tuồng cổ thiên thu thắm tích son
Mai cốt ngời ngời soi ánh nguyệt
Phượng ca dời dợi ngút đầu non”
4. Toàn tập Lục bát Độc hành ca với 265 trang chia làm ba chương rất logich. Phần đầu Lục bát tình, tiếp theo Độc hành ca và kết là Những bài thơ khác. Dẫu bố cục riêng biệt, nhưng trong mỗi tứ thơ mở rộng tâm hồn từ những cấu trúc thể loại, thể như cuộc vận hành tự do đầy khí khái mà giàu lòng trắc ẩn tới bến bờ văn chương, thể như mặc định vườn hoa xuân hài hòa hương sắc. Dù trong mọi hoàn cảnh, để bảo vệ duy trì sự sống với thế gian này, thơ ca là nguồn cội tình yêu tiếp nối, lan tỏa tôn vinh cách ứng xử đẹp, như tấm lòng thi nhân chia sẻ: “Thương câu lục bát truân chuyên/ Nỗi niềm quân tử thuyền quyên hảo cầu/ À ơi lục bát có nhau/ Ngàn năm cũng chẳng phai màu thủy chung” (Ngàn đời lục bát có nhau) ./.
15.03.2026 / Nguyễn Thị Phụng

.jpg)




