Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG. (Đọc Lục bát Độc hành ca của Nam Thi). Nguyễn Thị Phụng.

 

VỀ NGỒI VỚI DÒNG SÔNG

         Ta về ngồi với dòng sông/ Chìm trong đáy nước mênh mông biển trời” (Nam Thi). Chính là lời tâm tình trong thơ Nam Thi đâu chỉ là dòng Côn Tây Sơn xứ Nẫu quê anh, mở cửa ban mai thấy đập Dâng trước nhà, thấy núi Chóp Vàng ngàn năm soi bóng, mà còn là hình tượng nghệ thuật từ khởi nguồn ra cửa bể của chặng đường khai sinh ban đầu khi “những đứa con rơi”- đó là những tứ thơ bất chợt vội đến bên những gian lao thời tuổi trẻ, trong chiều dài sông nước, trong khoáng đãng biển trời, và nhất là trong ứng xử tâm hồn mình, cho đi sự lương thiện và nhận về trầm tích lắng chìm đáy nước. “Về ngồi với dòng sông” hay chính dòng “Lục bát – Độc hành ca” (NXB. HNV. 2026) của Nam Thi, là tập thơ thứ sáu trong mười tập sách đủ các thể loại từ truyện ngắn, tự truyện, cùng Trường ca Sông thiêng và Đất lành – tất cả kết nối cuộc đời thi nhân từ một Nhà báo lão thành cách mạng, đầy năng lượng tích cực gieo tấm chân tình vào lòng bạn đọc, là ngọn nguồn động lực duy trì cách sống tử tế tin yêu. Từ tựa đề tập thơ đầu tay Tôi không tìm thấy tôi (2019) đinh ninh thể đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, thong thả ung dung Độc hành ca riêng mình. Xem như là cuộc chơi thơ từ những hoài niệm kí ức chưa xa ùa về, như cách lưu trữ sáng tạo vẻ đẹp ngôn ngữ thơ vào trang sách, cũng là quà tặng đón chào tuổi tám mươi riêng mình. Mà anh thường hay nói với bạn bè giamahamzui chơi tới bến luôn.

       1. Với Nam Thi, lục bát là sứ mệnh thơ ca truyền thống. Vừa nâng niu giữ gìn hồn cốt báu vật nhân sinh, vừa duy trì sáng tạo nghệ thuật câu từ cũng là thử thách lớn với người sáng tác. Lục bát đâu chỉ nhẫn nại từ cách gieo vần nhịp điệu, mà cái điệu thời gian chịu đựng thay đổi theo mùa đất trời, mùa của tình người chân chất gắn bó xưa nay: “Hỡi người đang gọi ta về/ Chờ lâu Vĩnh Cửu rượu khê mất mùi/ Ta về Đồng Phó kiếm gùi/ Từ bi suối vắng chim bùi ngùi kêu/.../ Đợi ta nhé bạn chung tình/ Chiếc gùi nhân nghĩa mà đành quên sao”(Gửi về quê xa). Từ trong cách gọi nhớ thương, cách chờ khao khát thật nhẹ nhàng mà đằm thắm, tỉnh táo mà ngất ngây (Em ơi đừng vội, Cho anh xin,...) là thanh âm vọng lại vỗ về bật mầm lục bát lên xanh: “Thơ say chếnh choáng men tình / Tiếng mưa sao giống tim mình nỉ non / Tình ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ non ven đường” (Tình say).

          Tình say là thật. Cái thật là đối chiếu tâm hồn đầy vơi ở câu lục: “Thơ say chếnh choáng men tình” có là mạch mưa của tự nhiên tiếp nối sang câu bát: “Tiếng mưa sao giống tim mình nỉ non”, có là phép màu giữa hoài nghi day dứt kéo dài sinh sôi trong cặp lục bát tiếp theo “Tình ơi... tình mất hay còn / Mà sao xao xuyến cỏ non ven đường” đến vậy. Không chỉ là một cấu trúc tu từ chất vấn đặc biệt trong lục bát Nam Thi. Phải chăng mưa “thiêng” ấy lặng lẽ kịp đủ ướt đẫm cháy bừng cảm hứng tình say thăng hoa: “Mưa chi ướt đẫm câu thơ/ Để ngày thoi thóp tình hờ hững đêm/ Em ơi còn nhớ hay quên/ Nụ hoa vừa rụng bên thềm đêm qua” (Mưa xuân hoa rụng), còn thi nhân thì dễ gì?!...

          Thơ say là thật. Cái thật là tình say duyên phận, nhưng nghiệt ngã lắm lúc trớ trêu, thể kế thừa và tri ân từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mở đầu chùm Lục bát tình với mười bài thơ vận đời mình, lặp lại phát vấn:

          Đời sinh lục bát chung tình

           Có đôi có cặp như mình với ta

           Nghìn câu lục bát đậm đà

           Thơ Kiều xót cõi người ta đau đời”/ (Tình).

        Từ cách tiếp nhận thơ ca truyền thống, câu chuyện đời Kiều mười lăm năm ám ảnh “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” thân phận “Có tài mà cậy chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Còn Lục bát tình Nam Thi bộc bạch nỗi lòng trân quý yêu thương, không gai góc đọa đày, bởi nhân vật trữ tình trong thơ Nam Thi là em là anh là ta, hay đôi lúc phảng phất ca dao là cô hay là ai đó. Chập chờn mà hiện hữu cũng là thi pháp thơ ca truyền thống. Không mơ hồ mà đằm sâu trong kí ức đẹp từ ánh mắt, từ dấu vân tay chạm vào làn da mềm mại ấm áp đã sở hữu, hoàn toàn khác biệt điểm trỏ dấu vân tay trên cảm biến điện từ lưu căn cước công dân vào Trung tâm dữ liệu Quốc gia.

           Trong Lục bát Nam Thi, ngôn ngữ là tiếng nói thân phận con người, thi nhân. Dễ làm người ta nhớ thời gian tâm tưởng, đồng vọng trái tim yêu, và nghĩ đến đầu tiên giải tỏa cô đơn vào cấu trúc của thể loại này. Khoảnh khắc đợi chờ chạm vào chữ nghĩa thuần túy, cái đẹp sở hữu tâm hồn miên man lắng đọng: “Đời ta ngậm ngải tìm trầm/ Tìm đâu thấy dẫu trăm năm vẫn tìm” (Vọng một tiếng em). Phải chăng khát vọng em, khát vọng tri kỉ tìm đâu ra được... trăn trở khôn nguôi. Dấu ấn thời gian thêm vào nếp nghĩ, nếp cảm đến tận cùng: “Em đi về phía hoàng hôn/ Đường xa hun hút ai còn nhớ ai.” (Hoàng hôn em). Rồi điểm lại: “Năm mươi năm cũ xa rồi / Mà sao sóng vẫn trùng khơi vỗ bờ” (Duyên tháng bảy). Năm mươi năm đã là nửa thế kỉ, ngót cả đời người mà dễ gì khó dứt: “Mùa thu không chết đâu em/ Tiếng mưa rón rén ngoài thềm đêm thâu/ Cũng là một chút mưa ngâu/ Nghìn năm trước nghìn năm sau còn buồn(Thu cảm). Cho một cái kết liều lĩnh rất thi nhân: “Ta buồn đem đốt bài thơ/ Tro bay theo gió, khói mờ dáng ai/ Em ơi nắng nhạt chiều phai/ Tình xưa phơi trận mưa mai ướt dầm(Bỏ bùa).

          Lục bát tình Nam Thi sâu lắng mà mới mẻ, là tấm chân tình khí khái đặt tin cậy của trăm năm: “Ta đi gửi núi cho mây/Gửi sông cho nước gửi cây cho rừng/ Ta về đông trả mùa xuân/ Con đường xưa trả dấu chân thuở nào” thế mà: “Nụ hôn ta đã trao nhau/ Để cho gió cuốn bay vào hư vô” (Gửi đi và Nhận lại). Lục bát Nam Thi thường đối chiếu hiện hữu giữa động và tĩnh ăm ắp của tự nhiên là thế, của lòng người nhẹ nhàng thoáng qua chút nuối tiếc khôn cùng.

         2. Độc hành ca luôn đồng hành tình yêu và cuộc sống với tám khúc trải nghiệm đời người, đời thơ. Từ bước chân đầu tiên của loài người, cuộc dấn thân hành trình con chữ cấu trúc thơ tự do, phóng khoáng lại bị mê hoặc từ “trái táo” vườn địa đàng định mệnh kia. Đủ nhận ra đường hạnh phúc lắm gian nan phải đổi bằng nổ lực thường ngày, thiên đàng thế gian không là tận hưởng, đâu đó còn đọng mồ hôi xương máu nước mắt đau thương.

           Vốn trái tim thiện lương cho sự minh triết nhân cách mỗi người ẩn trong bóng mình, trân quý khoảnh khắc gần gũi, là giá trị sự sống và tôn trọng sự tự do tâm hồn không ràng buộc: “Anh và em / Không thể nào có nhau như hình với bóng/ Em vẫn là em/ Anh vẫn là anh/ Dẫu nằm kề bên nhau/ Vẫn là hai hạt cát/ Với hai trái tim riêng/ Dẫu nụ hôn có gắn nhau trong chốc lát/ Rồi cũng tách rời khi vòng tay buông/ Mỗi người lại độc hành với chiếc bóng của mình/ Chỉ còn nhớ nhau như sông nhớ biển/ Như đêm nhớ ngày/ Như ánh sáng và bóng tối không ở cùng nhau” (Độc hành ca – 4. Bóng và tôi).

          Hẳn thơ vẫn là một bằng chứng đủ mách bảo và duy trì chân lí: “Tình yêu phủ xanh trái đất... Người độc hành nhưng không cô độc/ Bởi luôn có tình yêu đồng hành/ Vinh danh tình yêu nên trái đất màu xanh/ Cuộc hành hương cõi tình huyền diệu” (6. Trong cuộc hành hương cõi tình). Và khi đối diện chính mình bị chi phối từ trợ giúp của AI, công nghệ khoa học màn hình phẳng thao túng tâm lí con người từ bữa ăn, giấc ngủ, kể cả cảm xúc văn chương. Nên khi kết thúc Độc hành ca những băn khoăn tự hỏi giữa hữu hạn đời người và vô biên trời đất: “Trái tim của biển nơi nào/ Mà triệu triệu năm rì rào sóng vỗ/ Hải âu mãi miết kiếm tìm/ Mỏi cánh thiên di... Số phận hải âu phi xứ” (8. Hải âu - kẻ độc hành tội nghiệp) hay số phận con người, số phận Độc hành ca trở về tìm giá trị nhân bản tất yếu trong sự tuần hoàn vĩnh cửu.

          Thêm vào Lục bát Độc hành ca, là Những bài thơ khác. viết theo thể tự do vẫn giàu âm điệu chính là phong cách sáng tác của Nam Thi, tồn tại một giả định đủ minh chứng thuyết phục kết nối vòng tay yêu thương: “Nếu không có tình yêu trái đất là hành tinh chết/ Chỉ là viên bi xanh/ Bay lòng vòng trong vũ trụ vô biên /Và hận thù là ô nhiễm hủy hoại tình quyển...”(Tình quyển). Đó là tất yếu. Những hân hoan trong ngày thống nhất đất nước: “Sáng nay thành phố rực cờ hoa/ Tiếng hát ca thơm môi hồng em gái/ Nắng trải hoa đường ta đi tới/ Trên dấu xưa bánh xích xe tăng// Xin cảm ơn đời/ ta được sống trọn năm mươi lần Ba mươi tháng Tư/ Cảm ơn em đã đi cùng anh/ từ thuở đầu xanh/ đến nay đầu bạc/ Với những ước mơ/ đã đơm hoa kết trái...(Lời cảm ơn ba mươi tháng tư).

          Bên cạnh, Đoản ca của Nam Thi chính là bề dày cảm xúc từ hai câu, ba câu, bốn câu - lời ngắn tình dài, biết ơn và vun vén: “Vẫn Huế đấy - Huế trong tôi/ Mạ ru từ thuở nằm nôi tới chừ/ Vẫn còn em - một câu thơ/ Vẫn còn tà áo bơ vơ đò chiều... (Huế trong tôi), là sở trường của anh liền mạch trải lòng, suy ngẫm: “Và tôi… Chỉ với riêng tôi/ Cuộc nhân gian chỉ một lời heo may” hay cách định thiền gửi gắm tin yêu gìn giữ trân quý: “Hiên đời nở đóa từ tâm/ Cuối chiều nghe tiếng vọng âm chuông chùa” (Đoản ca 2).

          4. Toàn tập Lục bát Độc hành ca với 265 trang chia làm ba chương rất logich. Phần đầu Lục bát tình, tiếp theo Độc hành ca và kết là Những bài thơ khác. Dẫu bố cục riêng biệt, nhưng trong mỗi tứ thơ mở rộng tâm hồn từ những cấu trúc thể loại, thể như cuộc vận hành tự do đầy khí khái mà giàu lòng trắc ẩn tới bến bờ văn chương, thể như mặc định vườn hoa xuân hài hòa hương sắc. Dù trong mọi hoàn cảnh, để bảo vệ duy trì sự sống với thế gian này, thơ ca là nguồn cội tình yêu tiếp nối, lan tỏa tôn vinh cách ứng xử đẹp, như tấm lòng thi nhân chia sẻ: “Thương câu lục bát truân chuyên/ Nỗi niềm quân tử thuyền quyên hảo cầu/ À ơi lục bát có nhau/ Ngàn năm cũng chẳng phai màu thủy chung” (Ngàn đời lục bát có nhau) ./. 

                                                      15.03.2026 / Nguyễn Thị Phụng

 

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

TRONG BỨC CHIỀU PHÂN VÂN, đọc Câu hỏi cuối ngày của Nguyễn Quang Thiều, bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

TRONG BỨC CHIỀU PHÂN VÂN

 

 

        So với đêm, ngày hân hoan được đón nhận ánh nắng mặt trời. Đêm khiêm tốn từ bóng trăng và vì sao lấp lánh. Bài thơ Câu hỏi cuối ngày của Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có là thời điểm chuyển giao giữa ánh sáng và bóng tối hay là đưa ra một thực tế khi đặt mình vào hoàn cảnh chấp nhận và định hướng cho sự lựa chọn đầy ngổn ngang:

 CÂU HỎI CUỐI NGÀY*

Tôi tựa lưng vào bức tường xám mốc
Đợi chuyến xe tan tầm
Đó là khoảng thời gian tôi đói nhất và buồn nhất trong ngày

Phía bên kia đường tôi đợi
Những chiếc lá tôi không biết tên
Phủ đầy bụi
Những chiếc lá dịu dàng rụng xuống
Cơn mưa buổi chiều vàng thẳm dâng lên

 Trong cơn mơ đói và buồn
Các cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy phóng qua
Như dao sắc phất vào tôi tứa máu
Tôi nấc lên một câu hỏi như người sặc khói
Rằng nếu tôi lấy họ
Tôi sẽ ngủ với họ thế nào?

 Và chuyến xe tan tầm lại đến
Ọp ẹp và bẩn thiu như chiếc lồng vịt khổng lồ
Tôi vội vã bước vào trong đó
Các cô gái buôn chuyến đang ngoẹo đầu ngủ
Tóc tai, áo quần sặc mùi cá khô
Giấc mơ sẽ thế nào trong giấc ngủ thế kia
Và lòng tôi nhói một câu hỏi
Rằng nếu tôi lấy họ
Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào ?
                     (Quán sứ - Hà Đông, 1991)

          Tựa đề Câu hỏi cuối ngày được đặt ra cho tứ thơ phát triển với bốn đoạn thơ, chỉ là gợi mở chất vấn cho chính nhân vật trữ tình “tôi” trong khoảnh khắc tựa lưng bức tường nhớp nháp bẩn thiểu, với tâm trạng lại đói và buồn nhất trong ngày chờ chuyến xe tan tầm là tất nhiên lịch trình cuối chiều: “Tôi tựa lưng vào bức tường xám mốc/ Đợi chuyến xe tan tầm/ Đó là khoảng thời gian tôi đói nhất và buồn nhất trong ngày” với mong muốn trở về mái ấm gia đình sau một ngày làm việc mệt mỏi.

            Biến chờ đợi trong thử thách, không gian trước mắt hiện ra một gam màu tĩnh mà rất động. Cái động của quá khứ mặc định khi đã tiếp diễn phủ đầy bụi từ lúc nào trên những chiếc lá phía bên kia đường sở hữu của công cộng, cũng đâu quan tâm tên lá, đời lá làm gì cũng là lá thôi. Không thảng thốt mà ngược lại khi tác giả đặt từ dịu dàng trong câu thơ tiếp nối: “Những chiếc lá dịu dàng rụng xuống/ Cơn mưa buổi chiều vàng thẳm dâng lên”. Đã là bức tranh sống động. Có thể nói trong cách thăng hoa câu từ giữa sự sống và cái chết vẫn phải đẹp. Cái đẹp chiếc lá vàng rơi là hình ảnh cuối ngày, cuối đời lá đã từ non xanh thanh lọc dưỡng khí môi trường, là tỏa bóng lối đi. Cây bên đường kia cũng không dưng mọc thẳng hàng, mà lớn lên tự đôi tay người trồng, chăm sóc. Để rồi, chẳng một tiếc nuối như khi đã từng ngắm lá thu rơi trong chiều vàng thẳm dâng lên mưa lá mát mẻ trong lành:

         Phía bên kia đường tôi đợi

          Những chiếc lá tôi không biết tên

          Phủ đầy bụi

          Những chiếc lá dịu dàng rụng xuống

          Cơn mưa buổi chiều vàng thẳm dâng lên

         Gã “tôi” làm thi sĩ bù lại khoảnh khắc giữa cái đói nhất và buồn nhất cũng qua rồi. No trong đôi mắt tự nhiên rất hiện thực thể mâm cỗ bày biện tận hưởng tâm hồn. Nhưng không, cảnh thứ hai đưa “tôi” bừng tỉnh cơn mơ chiều giật mình đanh đách:

        Trong cơn mơ đói và buồn

        Các cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy phóng qua

         Như dao sắc phất vào tôi tứa máu

         Tôi nấc lên một câu hỏi như người sặc khói

          Rằng nếu tôi lấy họ

          Tôi sẽ ngủ với họ thế nào?

        Nếu như cảnh thứ nhất là môi trường tự nhiên cho “tôi” được dịp làm thơ, cảnh lá vàng rơi dịu dàng yên tĩnh theo trục thẳng. Thì cảnh tiếp theo các cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy phóng qua theo trục ngang quá bất ngờ có gì nghịch lí làm chướng tai gai mắt Như dao sắc phất vào tôi tứa máu, khó nén được cơn bội thực đồng giác quan: thị giác, thính giác có cả xúc giác đớn đau để “tôi” phải nấc lên một câu hỏi như người sặc khói, nếu không thì dễ dẫn đến đột tử khi tắt nghẽn khí quản. Bực lắm trong cơn đói nhất và buồn nhất của “tôi”- người đàn ông lúc này… dằn lại bực dọc, tự phát vấn mình: “Rằng nếu tôi lấy họ/ Tôi sẽ ngủ với họ thế nào?” có dung tục lắm không. Đọc tiếp đoạn cuối mới giải tỏa cảm xúc đúng nghĩa thi nhân:

         Và chuyến xe tan tầm lại đến

          Ọp ẹp và bẩn thiu như chiếc lồng vịt khổng lồ

          Tôi vội vã bước vào trong đó

          Các cô gái buôn chuyến đang ngoẹo đầu ngủ

          Tóc tai, áo quần sặc mùi cá khô

          Giấc mơ sẽ thế nào trong giấc ngủ thế kia

          Và lòng tôi nhói một câu hỏi

          Rằng nếu tôi lấy họ

          Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào ?”

       Để rồi không còn chờ đợi, chuyến xe tan tầm lại đến, hiện ra như chiếc lồng vịt khổng lồ “ọp ẹp và bẩn thỉu” tiếp cận cảnh có cả vị giác ủ men trong dáng vẻ: “Các cô gái buôn chuyến đang ngoẹo đầu ngủ/ Tóc tai, áo quần sặc mùi cá khô/ Giấc mơ sẽ thế nào trong giấc ngủ thế kia”. Lúc này biên độ từ“sặc” trong “sặc mùi cá khô” từ “Tóc tai, áo quần” tỏa ra của các cô gái buôn chuyến, lan rộng ám ảnh vị giác, khứu giác của tôi.

          Có thể nói hình ảnh: “Tôi vội vã bước vào trong đó” trong chuyến xe chiều đủ nhận ra một phần cuộc sống của các cô gái ngược xuôi đổi lấy miếng cơm, manh áo nuôi mình và cho cả người thân, đối lập các cô gái phơi phới hớ hênh trên đường với các cô gái mệt mỏi trong xe. Không còn là tiếng nấc nghẹn đắng thốt ra, mà lúc này nhói đau: “Và lòng tôi nhói một câu hỏi/ Rằng nếu tôi lấy họ/ Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào?”.

         Vậy thì, sự lặp lại câu phát vấn hai đoạn thơ trên, giả định “nếu” cho một sự lựa chọn sẽ xảy ra: “Và lòng tôi nhói một câu hỏi/ Rằng nếu tôi lấy họ/ Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào?”. Xoáy sâu với từ “ngủ” đâu chỉ là ăn nằm trong quan hệ vợ chồng, đâu chỉ là bản năng chung chạ thể xác như đối với các cô gái mặc váy phóng xe trên đường và cô gái buôn chuyến ngồi nghẹo đầu mệt mỏi nhớp nháp trong xe kia. Khi biết rằng trong đôi mắt đàn ông, đàn bà là món quà thượng đế ban tặng. Nếu đàn ông gặp phải những người đàn bà ấy là vợ mình. Thì nhân vật “tôi” trong bài thơ sẻ chia rất chân tình và vai trò người đàn ông, người chồng trong ngôi nhà hạnh phúc. Cách đặt câu hỏi tu từ cuối hai đoạn thơ mang giá trị biểu cảm sâu sắc dành phần trả lời cho mọi cá nhân phải biết tự điều chỉnh trong hoàn cảnh riêng mình.

           Thơ là tiếng nói khát vọng ước mơ của con người về cuộc sống. Trong cách độc thoại nội tâm tư tưởng bật ra phong cách rất Nguyễn Quang Thiều từ ý nghĩ lạ. Hẳn Nhà thơ ảnh hưởng văn học Âu Mỹ, thời hiện đại và hậu hiện đại. Câu hỏi cuối ngày viết 1991, văn học đã cởi trói tư duy giả định mà chân chất vô cùng: “Rằng nếu tôi lấy họ/ Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào?”, hơi hướng sắc dục, nhạy cảm khát hoàn toàn văn học bao đời thuần túy cứ phải chôn giấu, không được phơi bày.

           Gia trị sự suy ngẫm tột cùng là san sẻ, là đồng hành cơ cực vất vả bao đời phụ nữ gồng gánh cưu mang. Trong bức chiều phân vân, với thi nhân thì các cô gái trong bài thơ Câu hỏi cuối ngày có còn là tấm gương ban đầu trong ánh mắt để “Anh đã mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ/ Vì yêu em, ngày mai anh thêm vững bước trên con đường đời” (Đỗ Bảo, Bức thư tình đầu tiên)./.

                                                                                   08.04.2025

* Trích tập thơ Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều (NXB. Lao động- 1992)

LẶNG LẼ MÀ THI VỊ với Buồn của Tống Ngọc Hân, cảm nhận của Nguyễn Thị Phụng

 

LẶNG LẼ MÀ THI VỊ
        với Buồn của Tống Ngọc Hân

 

 

          Có thể nói không gian thơ facebook cũng phần nào thu hút bạn đọc mỗi ngày lướt nhanh. Chính lời đề từ đã làm tui dừng lại, rồi tấm tắc:

Tống Ngọc Hân: Mình là người viết văn, nhưng cũng thi thoảng buộc phải viết ra cái gọi là thơ. Mình thấy thơ là điều gì đó xuất hiện trong cảm xúc mà không được báo trước:

Gửi ace bạn bè một ví dụ:

BUỒN

Có những lúc nỗi buồn như hạt giống

quăng giữa cằn khô vẫn nảy nở, đâm chồi

lớn thành cây, thành vô tình bóng mát

một trưa hè, ve khóc xanh tôi...”

                            (21.06.2021)

          Buồn- thường là tâm trạng tiêu cực, có cảm giác bứt rứt khó chịu trong cơ thể muốn có cử chỉ hành động nào đó, hay cảm thấy cần phải làm một việc gì đó. Tống Ngọc Hân đã có sự lựa chọn cho riêng mình mà sẻ chia. Việc sẻ chia trên thế giới mạng hiện nay là vô cùng tận. Phần nào vượt thoát ấm ức kia, của ngày hôm qua thể cơn mưa làm dịu khí trời oi bức, còn ngày mai như thế nào- chưa biết. Chỉ biết hôm nay có được thư thả riêng mình. Thơ đã cứu rỗi tâm hồn nhà văn đầy sáng tạo.

      Tống Ngọc Hân sáng tạo nỗi buồn trong một tứ thơ bốn câu suy luận rất biện chứng thể khách quan, nhưng chủ thể nỗi buồn lại là nét riêng của chị. Tôi không dám phá vỡ tứ thơ ra từng câu, dễ dàng mất đi liên cảm xúc thăng hoa.

        Ngay câu đầu, trong cách ví nỗi buồn như hạt giống. Thường hạt giống là mầm gieo cho sự sinh tồn phát triển. Ấy vậy hạt giống của chị là nỗi buồn cơ. Có ai đi gieo nỗi buồn như chị. Chẳng thể cày ải, làm đất bón phân, mà giữa cằn khô vẫn nảy nở đâm chồi đến lạ:

           Có những lúc nỗi buồn như hạt giống

             quăng giữa cằn khô vẫn nảy nở, đâm chồi

       Đến hai câu tiếp theo nỗi buồn tiếp tục duy trì mạnh mẽ cứng cáp, đằm sâu tâm hồn, lặng lẽ mà phóng hoáng hơn:

           lớn thành cây, thành vô tình bóng mát

             một trưa hè, ve khóc xanh tôi...”

       Bài thơ Buồn ngỡ nét buồn hiền thục chấp nhận nỗi đau, không quẫy đạp thành lời. Tống Ngọc Hân đã cho người tiếp nhận mở ra trường liên tưởng từ khái niệm Buồn (trạng thái tâm lí, trừu tượng), - hạt giống: nảy nở, đâm chồi, thành cây, vô tình bóng mát (vật thể hữu hình, cụ thể). Để rồi, nỗi buồn đã gieo ấy lắng qua thời gian, ngộ ra chính cái đáng buồn của hôm nay đã tôi luyện được cho nhân vật trữ tình “tôi” mỉm cười bao dung độ lượng biết bao. Khi nhận ra ve khóc thì mặc ve, công việc của cây cứ xanh tỏa bóng. The thắt mà làm gì như bản năng của ve là the thắt.

       Với tứ thơ bốn câu, chỉ viết hoa ở câu mở đầu, các câu sau xuống dòng thành chuỗi gợi tả mà hàm ẩn sâu xa cho sự thức tỉnh chính mình. Đừng phung phí nỗi buồn trong thời gian hiếm hoi đời mình. Hãy xua nỗi buồn thành nguồn vui với cuộc sống này đáng yêu hơn./.

                                                                                 05.04.2022

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

TRONG TÌNH YÊU XỨ NẪU (Đọc Men trầm -của Vân Phi), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

TRONG TÌNH YÊU XỨ NẪU

     (Đọc Men trầm - NXB.Văn học 2025, bút kí của Vân Phi).

        Nói đến Vân Phi, ngoài các tập thơ đã xuất bản như Ngày mắc cạn(2020), Gốm lưu lạc(2024), hay rất nhiều  bài viết cảm nhận tác phẩm in trên báo và tạp chí, mà sở trường của Nhà báo, Nhà thơ Vân Phi còn là hành trình vác ba-lô lên vai, đi tìm các cái đẹp của người xứ nẫu, theo từng địa chỉ chính xác về văn hóa vùng miền thân thương, để rôi gom lại và ra mắt  bạn đọc tập sách Men trầm (NXB.Văn học 2025) gồm 20 bài bút kí, là thể loại văn học mang đậm nét đặc điểm của dân tộc về sự bảo tồn văn hóa cần duy trì và kết nối mà anh đã sẻ chia: “Cuốn sách này là kí ức tôi, tình yêu tôi, quê hương tôi, của quãng dài mười năm rong ruổi...

          Trong cách rong ruổi ấy, có thể nói bút kí “Sắc xanh phía biển...” là nơi cuốn hút tầm nhìn đầy thi vị và an tâm hơn của đoàn anh em văn nghệ sĩ “trong hải trình dọc biển sáu tỉnh miền Trung từ Bình Định đến Quảng Trị”. Lại càng thêm tin yêu “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân” và cũng như những câu nói vui: “Hôm nay, ai... nhảy tàu nữa không?”. “Nhảy tàu” ở đây nghĩa là chúng tôi xuống xuồng với đoàn kiểm tra liên ngành di chuyển sang tàu ngư dân để tác nghiệp... tiếp cận ngư dân giữa biển, làm giàu kho tư liệu của mình...”

         Và thực tế của kho tư liệu viết bút kí là tái hiện người thật việc thật mà Vân Phi trân quý từ tấm lòng những người phụ nữ. Như  “Mẹ Thiện ở cồn Chim”, bà Mẹ Việt Nam anh hùng lặng lẽ chăm cháu, được Phòng Giáo dục Tuy Phước phụng dưỡng Mẹ. Như “Võ sư Năm Hạnh: đau đáu nghiệp truyền...” viết về Lâm Thị Hồng Hạnh - tên thường gọi Cô Năm, con gái võ sư trứ danh một thời Lâm Đại Phú, tha thiết về hành trình lưu giữ và phát huy võ cổ truyền còn lắm gian nan. Về những đôi tay cần mẫn của các chị làm ra đặc sản bún Song thằn ở An Thái, bánh tráng Trường Cửu ở Nhơn Lộc,...

         Việc bảo tồn và duy trì phát triển văn hóa nghệ thuật dân gian như bút kí: “Vọng tiếng trống tuồng” trong náo nức của khán giả: “Đêm nay, thêm đặc biệt khi nhà hát diễn lại vở Viên ngọc quý. Được biết lần này có hai Nghệ sĩ Nhân dân của nhà hát thủ vai, nên bà con càng phấn khởi, cứ ngong ngóng đến đêm diễn để xem cho thỏa gan, thỏa ruột.” Rồi cho đến sử thi: “Hơ’mon, một khoảng lặng dài” Còn những nhạc cụ như: “Trên từng nhịp gõ t’rưng...”, và thanh âm: “Khắc khoải đàn goòng” ở miền núi Vĩnh Thạnh, thể như đánh thức người nghe tiếng vọng của suối ngàn nhắc nhở.

         Vân Phi vẫn dành hai bài viết ưu ái về hai nghệ sĩ đam mê nghệ thuật không thể lãng quên. Đó là: “Lê Ân – kẻ rong chơi đáng yêu” và “ Nghêu ngao một gã du ca” về niềm đam mê âm nhạc của Diệp Chí Huy.

         Nhưng đặc sắc hơn cách bộc bạch chân chất rất riêng “men trầm” không thể chối từ: “Tôi mê tiểu thuyết Kim Dung trước khi mê...  rượu. Mà có lẽ một phần vì thích đọc Kim Dung mà tôi thích rượu nhiều hơn, bởi lối dẫn của những cuộc rượu sảng khoái, phiêu khoáng của những ngạo khí giang hồ” (Thơm thơm từng giọt men nồng). Và vì thế mà lôi cuốn người đọc thể như những làng mai vàng ở Háo Đức An Nhơn “Xuân sớm ở làng mai”, sắc cúc ngày tháng chạp hối hả “Dọc miền hoa cúc”. Những vất vả trong mùa lụt bão như “Nơi lũ đi qua” đầy ám ảnh...

         Với tựa đề tập Men Trầm, đã tạo nên tính xác thực từng nét trong văn hóa sinh hoạt người dân xứ nẫu từ địa danh võ thuật: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, hay đan xen những câu bài chòi ngọt lịm: “Đất Vĩnh Cửu quê hương ta đó/ bánh mỏng đây rượu cũng là đây/ Rượu ngon bọt dẻo tràn đầy/ Rượu ta đi khắp tỉnh này tỉnh kia”.

           Để rồi trở về với vùng đất “Gò Sành” dấu ấn kỉ niệm quê nhà Nhơn Hòa An Nhơn, mà còn là địa danh quen thuộc của giới khảo cổ về sản phẩm gốm Chăm lâu đời, và hôm nay lại tiếp tục vần thơ: “Gốm lưu lạc/ mang dòng nước xứ Đồ Bàn/ mang ngọn lửa đất trời Chiêm tự/ mang dáng dấp người xưa sau lũy tre làng/ vùi mình hun hút biển sâu/ cô đơn nơi bảo tàng ngoại quốc”.

          Phải chăng “Men trầm” – là bút kí đậm chất thơ, đủ độ say lòng người những hưng phấn mới mẻ, tinh khôi về vùng đất An Nhơn, Tuy Phước, Vĩnh Thạnh,... của xứ võ trời văn. Xứ võ đã tự hào, còn trời văn đâu chỉ là sáng tác, cả ghi chép chọn lọc từ một nhà báo, hòa tiếng lòng nhà thơ làm nên phong cách bút kí rất Vân Phi, từ thực tại mà như ngược về nguồn cội cả một trời văn – văn hóa nghệ thuật từ cuộc mưu sinh mà có, càng thêm yêu vẻ đẹp con người chân chất, giàu đức hi sinh bền bỉ, biết trân quý đời sống văn hóa vốn có lâu đời, cần bảo tồn và lan tỏa phát triển vươn xa./.

                                                                             30.11.2025.

MÙA THƠ LAN TỎA (Đọc Nối dài thêm bóng tháp- Tuệ Mỹ), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

MÙA THƠ LAN TỎA

(Đọc Nối dài thêm bóng tháp, tập Phê bình thơ của Tuệ Mỹ, NXB. Thuận Hóa – 2025).

          Hành trình cây bút đi tìm cái đẹp trong ngôn ngữ thơ là vô cùng gan dạ. Và không thể sánh với đôi chân các nhà thám hiểm trên thế giới, nhẫn nại trong thất thường tự nhiên xoay vần mưa nắng. Đó là sự khác biệt của sự lặng lẽ trên bàn viết đã gieo một Mùa thơ lan tỏa, là cầu nối văn chương giữa người sáng tác thơ đến người tiếp nhận là bạn đọc. Tuệ Mỹ đã làm được việc ấy, chị mạnh dạn sẻ chia: “Thơ tựa tòa tháp ngà ẩn hiện giữa đời sống vừa kiêu sa vừa huyền bí...”. Trong ví von ấy thì bóng tháp há hiện hữu ở kích thước mà cách Nối dài thêm bóng tháp (Nhà xuất bản Thuận Hóa - 2025) tập phê bình thơ thứ hai của Tuệ Mỹ sau tập Nẻo về tinh khôi (2020), là thử thách lớn của người bình thơ từ khuôn mẫu nhà giáo dạy văn đến phê bình văn học. Tuệ Mỹ vẫn đang trong hành trình ấy.

           Tập Nối dài thêm bóng tháp, với 320 trang. Có 38 bài thơ với nhiều thể loại khác nhau ở phần trước Thắp Nụ, tiếp theo là cảm nhận về 12 tập thơ gom lại cho phần sau là Bóng Tháp, tác giả là những nhà thơ trong và ngoài nước. Điều đó, ở Tuệ Mỹ luôn là sự cân nhắc kĩ càng để đưa vào tập bình thơ thứ hai của mình.

           Nếu như ở chủ đề thứ nhất là Thắp Nụ, rất hiếm những bài thơ ngắn ba câu như Tháng giêng của Mai Văn Phấn, lại có những bài thơ tự do nhiều khổ thơ như Đêm xa quê của Phạm Ánh, Linh hồn phấn trắng của Lê Từ Hiển, Gió thiếu phụ của Trần Quang Khanh, Bài văn xuôi về tiếng đàn đá của Nguyễn Nho Khiêm, Móng Rồng của Mạc Phong Tuyền, ... Đã là thơ, mặc định thể tự do dài hay ngắn, thì Tuệ Mỹ vẫn mực thước khai thác phía sau ngôn từ trong mỗi tứ thơ của người sáng tác, nâng cao giá trị thẩm mĩ, đậm chất nhân sinh.

           Có những bài thơ, Tuệ Mỹ nhập đề trực tiếp đầy bất ngờ, cũng là dụng ý làm rõ nét đặc điểm riêng không lẫn lộn, từ góc nhìn của người bình, muốn lí giải ở phần tiếp theo đem đến thú vị cho người tiếp nhận. Chẳng hạn giới thiệu tên tác phẩm: “Ngay tiêu đề Gió thiếu phụ, Trần Quang Khanh đã ngầm gợi ý cho người đọc cách bước vào không gian bài thơ...”(tr.54). Thêm một cách viết nữa: “Đọc bài thơ Mùi mưa của Lâm Huy Nhuận, tôi rất thích cách cảm nhận mưa của ông” (tr.36). Hay: “Ổ khóa của Nguyễn Quang Thiều là bài thơ đậm màu triết lý nhân sinh.” (tr.14).

       Còn khi giới thiệu phong cách sáng tác của tác giả như: “Mai Văn Phấn là nhà thơ cách tân mạnh mẽ, thơ ông đầy lý trí, đầy khái quát và khó đọc” (tr.10); cho đến chân dung gốc gác nhà thơ xứ nẫu như: “Trần Viết Dũng là người con của miền đất Tây Sơn, Bình Định, làm thơ từ thuở học trò mà đến nay, anh chỉ mới cho ra mắt bạn đọc một tập thơ “Lãng đãng giữa đời” (Nxb Trẻ, 1992). Tưởng anh đã quên mất thơ. Nhưng không “nghiệp thi sĩ” buộc anh cứ tiếp tục cho thơ chào đời...”(tr.48).

         Thơ, là tác phẩm văn học mang tính cốt lõi sáng tạo bằng ngôn ngữ của thi nhân. Điểm lại những bài thơ trong Nối dài thêm bóng tháp được kết tinh từ nhịp đập trái tim khôn cùng, tinh túy nhất ưu việt nhất làm nên sản phẩm văn hóa tinh thần. Hẳn hồn cốt mỗi tứ thơ đã thôi miên Tuệ Mỹ, vừa tái hiện lại cảm xúc của thi nhân, lại vừa chắp cánh nâng cao trường liên tưởng mỗi ý mỗi từ. Từ hiện hữu đến hư vô, từ bộc trực đến chiêm nghiệm, ... mà đường chân trời là trung gian giao thoa, ràng buộc giữa sáng tác và phê bình: “Nhạc điệu là yếu tố truyền cảm xúc được tác giả gia công. Nên, đọc bài thơ mà tưởng như nghe tiếng nhạc lòng của thi sĩ cất lên từ  niềm say mê cuộc sống, từ nỗi khát khao dâng hiến cho đời...” (Mở khóa giấc mơ tôi).

          Chung quy, việc sáng tác đối với thi nhân dù là thơ trữ tình, hay thơ tự sự, hay sự đan xen giữa hai yếu tố trữ tình và tự sự, sức mạnh của thơ chính là âm hưởng nhạc điệu dễ dàng hòa nhịp trái tim của người bình thơ.  

          Từ tập Nẻo về tinh khôi (2020) đầu tay, Tuệ mỹ dành riêng cho việc bình thơ. Thì trong Nối dài thêm bóng tháp (2025) này lại có 12 tiểu luận phê bình mang tính khái quát toàn tập thơ, đời thơ của thi nhân. Đó là giá trị về nghệ thuật về nhân sinh của một phong cách sáng tác trong mỗi thời điểm khác nhau.

         Trên cùng phương diện tiếp nhận tác phẩm văn học, luôn là sự suy ngẫm đa chiều. Sự nắm bắt theo chủ đề dễ dàng nhận ra điều muốn nói, khó tản mạn. Đôi khi một bài thơ hay từ từng chữ, từng câu và cả tứ thơ, cứ để nguyên vậy mà thưởng thức. Đôi khi một bài thơ đọc nhiều lần mà chưa thấu được, lại nhờ vào nhà phê bình đối chiếu, mở rộng nâng lên giá trị tác phẩm. Cả tập thơ cũng vậy. Cho cách mở đầu giới thiệu dễ dàng cuốn hút bạn đọc bằng cách trích những câu thơ của tác giả, như: “Kìa cái bình toong/ trong cuốn sách về cuộc chiến(...) cái bình/ bỏng rát từng cuống họng/ vét cạn những dòng sông/ đựng đầy ký ức”(Sắc đỏ trong “Tạ lỗi với mây xanh” của Mai Thìn), hay đưa cả bài thơ tứ tuyệt: “Với nghìn trùng: những ngày xưa cũ bên nhau/ thương nhau nào biết mai sau sẽ buồn/ người về mưa vỡ đầu truông/ trăng trong vườn lạnh biết buồn nhau xa” (Buồn xưa). Đó cũng tùy theo từng chủ đề tập thơ mà Tuệ Mỹ muốn nhấn mạnh đến với người tiếp nhận.

          Cũng không đơn điệu trực tiếp giới thiệu tên tác giả, tác phẩm ngay phần câu mở đầu. Riêng bài viết: Hình ảnh người mẹ trong thơ Lệ Thu (tr.242) là góc nhìn của Tuệ Mỹ về người mẹ trong chiến tranh phải xa con, hay khi con trưởng thành, cách tâm tình cùng con trên trang thơ, thể giải tỏa cảm xúc của người mẹ. Từ nỗi nhớ, lo lắng của người mẹ đã thành huyền thoại: “Vậy là, từ trữ tình đời tư, Lệ Thu đã chuyển sang trữ tình công dân. Từ hành động anh hùng của người sinh  mình ra, Lệ Thu đã chạm bút về những người mẹ Việt Nam anh hùng. Và, “Với mẹ anh hùng” thì “Nghe trong sâu thẳm mất – còn ... / Trái tim mẹ với nước non cõi bờ ...”(tr. 245).

           Với nhà phê bình, thì mọi thể tài nào từ đời tư tới lịch sử đều có ý nghĩa lớn gắn liền với tình yêu cuộc sống, gắn liền dân tộc đất nước. Với Tuệ Mỹ, Nối dài thêm bóng tháp dẫu là tựa đề tập bình thơ, đã là hình tượng nghệ thuật khai thác cái đẹp nhân sinh của ngôn ngữ thơ, không thể là chủ quan, nhưng đó còn là trách nhiệm tự lương tâm cần và phải của người viết phê bình cho Mùa thơ lan tỏa./.                

                                                   03.12.2025 / Nguyễn Thị Phụng.

 

 

 

HÒA PHÍM THƠ NGÂN, (Đọc Mở phím thơ của Lê Bá Duy), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

                          HÒA PHÍM THƠ NGÂN

(Đọc Mở phím thơ, Nhà xuất bản Văn học 2025, tập Tiểu luận – phê bình của Lê Bá Duy)

       Từ vẻ đẹp bức tranh ca dao cũng chỉ là cái cớ trao duyên: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi! ”. Ánh trăng vàng... diệu kì đã kịp đón nhận theo nhịp tim cùng thi nhân, làm ra hạt vàng câu chữ, thành những tứ thơ hay. Có lẽ không ai xa lạ đã Hòa phím thơ ngân trong mỗi tác phẩm và ra mắt bạn đọc tập sách: Mở phím thơ (Nhà xuất bản Văn học 2025) là tập tiểu luận phê bình thứ hai của Lê Bá Duy, sau Đồng cảm văn chương (2013).

           Mở phím thơ là tác phẩm được Hội đồng Lý luận Trung ương hỗ trợ kinh phí. Hẳn là niềm vui không riêng gì tác giả, đủ khẳng định thầy giáo, nhà thơ Lê Bá Duy còn chuyên tâm lĩnh vực viết tiểu luận phê bình thơ đầy trách nhiệm như thế nào.

           Với 45 bài viết trong khuôn khổ 300 trang sách,  Mở phím thơ của Lê Bá Duy ra là cách cảm nhận chân tình ở mỗi tác phẩm. Ai bảo thơ trừu tượng. Xin thưa không. Thơ đã đi vào đời sống sẻ chia mọi lúc mọi nơi. Có thể mang tính thời sự - thơ tự sự nhưng lại vĩnh cửu; Có thể sẻ chia tâm hồn - thơ trữ tình; Có tự sự kết hợp với trữ tình. Những yếu tố ấy đủ thử thách cho người viết phê bình dù là một bài thơ, hay bao quát cả một tập thơ.

          Chẳng hạn ở bài viết “Nhớ về anh” (tr.21) là nhớ về Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, bài thơ tạc bức tranh người lính trong tư thế chiến đấu, mang tính thời sự nhưng lại vĩnh cửu: “Chiến tranh đã lùi xa... , nhưng trong trái tim tôi, cái Dáng đứng Việt Nam không chỉ tạc vào thế kỷ XX mà “cái dáng đứng ấy” sẽ mãi mãi tạc vào trái tim của cả dân tộc anh hùng...”. Tiếp đến bài: “Thông điệp xanh của cha” (tr.71) là bài thơ Một khúc hát ru của Vĩnh Tuy, kết hợp yếu tố trữ tình và tự sự thể lời khuyên nhắc nhở, Lê Bá Duy luận ra: “Hy vọng “Một khúc hát ru” không chỉ của anh, của tôi mà là của hàng triệu triệu người cha dặn con khi bước vào đời.” Chừng mực nhất bài bình: “Chút hành trang gom góp tự xuân thì” từ bài Hành trang của Lệ Thu thuộc thơ trữ tình chiêm nghiệm, trăn trở từ cách giới thiệu: “Hành trang” – bài thơ cứ ám ảnh tôi suốt cả tháng trời... Cái “ám ảnh” nóng bỏng nhất đêm nay mà tôi đọc lại bài thơ của chị là ngọn lửa âm ỉ bấy lâu đã bùng lên, nhảy múa theo từng con chữ... khiến tôi không thể không ngồi vào máy viết những dòng đồng cảm này.”

          So với toàn tập chỉ có ba bài bình thơ được đan xen như điểm nhấn trên dòng thời gian cần lưu trữ, nhắc nhở đâu thể nào quên được sự dấn thân của thế hệ đi trước, của dặn dò yêu thương từ trong gia đình, cho đến gửi gắm quan niệm sống tích cực hơn trong xã hội. Lối bình tác phẩm văn học của Lê Bá Duy không thiên về giải nghĩa từ, chỉ mang tính cảm thụ sẻ chia cũng là một cách trân quý tác phẩm.

         Tiếp nối Mở phím thơ, còn có hai bài tiểu luận nhận định diện mạo văn chương trên một Tạp chí Văn nghệ An Nhơn (tr.74) trưởng thành tiếp nối của vùng đất Bàn thành Tứ hữu. Đến “Bước đầu tìm hiểu 50 năm thơ Bình Định ”(tr.247) đầy công phu mà rất khiêm tốn: “Với kiến thức và sự tập hợp thống kê có hạn nên bài viết sẽ không tránh khỏi thiếu sót mong bạn đọc thông cảm” cho phần kết bài.

         Vậy thì, hành trình Mở phím thơ của Lê Bá Duy bị cuốn hút bởi những tập thơ đương đại của các nhà thơ trong và ngoài nước. Anh là người sáng tác thơ, yêu thơ. Đã có thi sĩ từng “Đắm đuối nửa tờ thơ” như Đặng Quốc Khánh, thì “Lê Bá Duy đúng là, như tôi nghĩ, người tương tư... thơ thứ thiệt. Ông viết say sưa, nồng nàn, không rào đón, trực chỉ đến mục đích nói cho được hết ý, hết tình với thơ và bạn thơ.” (Tiếp cận thơ từ... thơ – Nhà phê bình Bùi Việt Thắng). Thật đúng vậy. Việc đón nhận tác phẩm để Mở phím thơ không một sự trùng lặp, khuôn mẫu nào, trong cùng biên độ đề tài rộng, nhưng từng chủ đề khác nhau và từ đó nói cho hết cái tình, cái ý với bạn thơ khi đã chạm vào mỗi tứ thơ trên trang sách.

        Mở phím thơ với bài viết Những giấc mơ trong ký ức của “ Linh giác trắng” (tr.152) với cách liệt kê: “Đặc biệt chỉ trong một bài thơ “Linh giác trắng” hình ảnh chiêm bao được nhắc đến chín lần... giấc mơ tình yêu lạ lùng, giấc mơ nỗi đau thân xác, giấc mơ cuộc sống đói nghèo, tê liệt bán cầu não trái của những người đàn ông, giấc mơ về quy luật diệt vong tất yếu cả một triệu đại suy tàn...” (tr.155).

        Hay là sự đối chiếu: “Cách nhìn về Hội An của Mai Thìn cũng rất đặc biệt. Chẳng hạn như bài thơ “Hội An”. Anh chọn ba hình ảnh: nắng, mưa và trăng để biểu đạt ý tưởng. Nắng, mưa là hiện tượng thiên nhiên về thời tiết, đối lập. Nắng thì có sự chuyển đổi cảm giác độc đáo: “Hội An nắng/ dát lên tường những tiếng chuông/ những chùm hoa tu lit treo ngược bờ sông”. Mưa thì: “bình lặng/ khung cửa ven đường/ tỏa hương/ buồn buồn vừa rót”. Còn trăng là hình ảnh lãng mạn mơ mộng, tạo một hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng” (Đêm qua tôi không ngủ được- tr.191).

         Cho đến cảm nhận mang tính khái quát: “Tập thơ “Gió thiếu phụ” của Trần Quang Khanh như một tiếng thở dài nhưng không cam chịu, tiếng thở có phẩm chất kể chuyện, vừa trữ tình vừa thế sự...”(Gió thiếu phụ - khúc ngân của gió và phận người, tr.136).

         Về sự gắn kết và liên tưởng: “Mặt khác, quê hương trong thơ Hà Huy Hoàng không chỉ là một địa danh mà còn là không gian của ký ức, nơi lưu giữ những tháng năm tuổi thơ và những thăng trầm của lịch sử: “Xóm Cung bé nhỏ/ mà nỗi đau có thừa” (Hà Huy Hoàng chất chứa một hồn thơ đời thường mà sâu lắng, tr.217).

         Với Lê Bá Duy, khi Mở phím thơ là cách hòa từng tác phẩm, thể như định vị phong cách mỗi tác giả. Rất chỉn chu, rất tỉ mỉ: “Lần giở từng trang tâm tình, người đọc nhận ra “Vân không” không đơn thuần là một tập thơ trữ tình, mà còn là bản trường ca nhẹ nhàng về cuộc đời người phụ nữ - người mẹ - người con, những bước chân mệt nhoài mà kiên cường trên con đường nhân sinh...” (“Vân không” – Một không gian nhân sinh mênh mông, tr.269). Cũng từ những tứ thơ, Lê Bá Duy tiếp tục khai thác vẻ đẹp tâm hồn các nhà thơ nữ đương đại rất Việt Nam, rất dịu dàng đằm thắm (Khao khát những cơn mưa-tr.30; Mặc nhiên nhỏ xuống nỗi đau vàng- tr.84; Từ dĩ vãng đến ước mơ tha thiết chân thành- tr.89, ... ), đầy trân quý sẻ chia: “Có thể nói tình yêu là mạch cảm hứng xuyên suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: Từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”, giọng điệu đầy nữ tính cất lên: “Nhớ anh nhiều bao nhiêu/ Như thế nào là nhiều/ Đóa trà my thơm ngát/ Rụng vào đêm tinh khôi...” (Thế giới nữ tính đằm thắm và nhạc điệu tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai, tr.285).

         Khi thẩm thấu tác phẩm để Mở phím thơ cũng rất nhọc nhằn vất vả thể đang bị chất vấn “cô tát nước bên đàng” trong câu lục bài ca dao, rồi cặn kẽ ngọn nguồn câu bát “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”... trong mỗi cách tiếp nhận. Người viết tiểu luận hay phê bình đều bám từng tứ thơ tìm ra giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi tác phẩm ngôn từ. Lê Bá Duy là nhà thơ, nên rất tinh tế cho sự đồng cảm chân tình sâu lắng, là cầu nối hồn cốt thơ đến với bạn đọc, có thêm điều kiện để hiểu rõ tác phẩm văn chương. Lê Bá Duy gốc là nhà giáo, nên có ý thức và thiên hướng chuẩn mực, nhưng không gò bó con chữ trong cách Mở phím thơ, rất trung thực nhẹ nhàng trong cảm xúc thẩm mĩ, mà truyền tải từ tính sáng tạo của mỗi thi nhân lên trang sách của mình./.

                                                  Ngày 08.12.2025 / Nguyễn Thị Phụng.