Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Tên tác phẩm: TRĂNG VẪN SÁNG BÊN ĐỜI

Thể loại: Lý luận phê bình.

Tác giả: Nguyễn Thị Phụng   


                 
                       Từ tựa đề Đi qua miền nhớ, tập tiểu thuyết đầu tay của Lệ Thu, NXB.Vh.2026 khi chị đã ở tuổi thượng thọ, bao miền nhớ ùa về trong cảm xúc văn chương hơn 40 năm trước, từ tập thơ đầu tay “Xứ sở loài chim yến” (1980). Cho đến nay chị đã có 14 đầu sách, ngoài thơ còn có Đến với thơ Lệ Thu (Thơ và lời bình) và Nhật ký nữ Nhà báo chiến trường (Ký). Mạch chảy ngọn nguồn chân lí làm nên cốt cách Nhà thơ đâu chỉ từ các giải thưởng Văn học Nghệ thuật. Chủ đề Đi qua miền nhớ, 285 trang, với ba phần có cấu trúc bốn mươi chương là hơi thở tâm hồn nhân vật Phương và Minh từ thực tiễn trong hoàn cảnh đất nước ta bấy giờ đi vào trang sách, tự vẻ đẹp đời người tựa vầng trăng soi sáng, từ việc lưu trữ cảm xúc cá nhân đến hệ điều hành trí tuệ nhân tạo AI.

 

         1/. Từ ký ức Đi qua miền nhớ thuở ban đầu với Phương giữa đêm trăng tháng ba sinh hoạt trại rộn rã tiếng trống chầu, Phương bị bụi mắt được Minh tự nguyên đưa về trong im lặng chở che và tin tưởng. Mà vầng trăng là nhân chứng lứa tuổi thanh thiếu niên của Phương và Minh, mở ra từ đây: “Minh bắt đầu viết nhật ký. Phương bắt đầu biết chờ một điều gì đó. Không ai trong họ biết rằng con đường trăng tháng ba ấy sẽ kéo dài suốt một đời người.” (tr.09). Bạn đọc cũng dễ nhận ra hình tượng của tác giả, và hình tượng hai nhân vật luôn được đan xen giữa hai miền Nam Bắc trong bối cảnh đất nước tạm thời chia xa người thân và bạn bè rời vùng quê Gò Bồi Tuy Phước, cùng các bạn lên con tàu Ba Lan ra Bắc lúc bấy giờ, và Hải Phòng là nơi đón nhận, chăm sóc nuôi dưỡng trong môi trường dành riêng cho học sinh miền Nam lớn lên từ một trường Đại học Tổng hợp Văn, trở thành nhà báo với những chuyến thực tế trên phương tiện xe đạp thường ngày, đôi lúc có thơ được đăng lên báo, được đọc trên đài về sự khởi sắc nơi ta đến, không dùng tên khác vì muốn gửi gắm là Lưu Phương nơi này bình yên, mong trở về cùng trên con đường trăng tháng ba năm nào...

         Với Phương, một kí ức chưa xa nỗi nhớ không nguôi nơi Gò Tháp, nơi đó có ngoại và má cùng các em. Người bạn trong chương 1 “Đêm hiệp sĩ” cứ rạng dần trong thường ngày, nhất là khoảnh khắc “Trường có quy định nghiêm ngặt, và hơn hết, trong tim cô vẫn có Minh. Chàng “hiệp sĩ” ơ miền quê xa, người đã từng đan cho cô chiếc “vương miện” bằng cỏ chỉ cài hoa ngũ sắc ấy vẫn hiển hiện trong tim cô. Chỉ là ánh mắt Trung, đầy tia sáng, sao giống ánh mắt Minh đến thế” (tr.25) cũng khó mà xao động tâm hồn. Đến khi Con đường vào đại học nếu không phải ốm nằm viện, thì Phương đã có hướng rẽ khác như bao du học sinh ra nước ngoài, hình ảnh quê nhà tuổi thơ hiện về ấm áp từ ánh mắt và nụ che chở của Minh đi hái chà là chia đều cho các bạn gái, và thật tỉ mỉ “đi nhổ những cọng cỏ chỉ dài kết thành vòng tròn cài hoa ngũ sắc, đội lên đầu cô bé ... – Phương đội khăn vành hoàng hậu đẹp lắm ...” (tr.50).

         Hay Dưới ngọn đèn khuya sau sự cố trăn trở của một biên tập viên nhầm lẫn giữa nguyên bản là “ngày nay”, chính từ “ngày xưa” mà Phương dằn vặt từ miền thương nhớ. Nỗi khát khao của tâm hồn lóe lên khi nhìn một ngôi sao lạc giữa trời mây: “Ngôi sao ấy gợi cô nhớ đến một vì sao khác trên bầu trời Gò Tháp, nơi có cậu bé năm xưa ... từng thì thầm “Phương đừng sợ” trong đêm dẫn cô từ Gò Bồi về nhà đầy run rẩy ấy” (tr.67).

        Sự lặp lại kí ức đẹp hẳn là ước mơ tâm hồn thiếu nữ trong trắng hồn nhiên rất nhân văn, là điểm tựa nương nhau vốn cuộc đời là thế. Nhưng vẫn không quên một phóng viên tự nguyện ra chiến trường. Sức mạnh tinh thần đó là sự sáng suốt, lúc tiếp xúc gặp gỡ với các nhà báo Mỹ ở chiến trường. Bài học cuộc sống nếm trải quá đau thương khi để lộ bí mật về gặp má, để má bị tra khảo và chuyển vào nhà tù ở Nha Trang

        Còn với nhân vật Minh – chàng “hiệp sĩ” từ rung động đầu đời về bóng dáng Phương đã neo lại nơi sâu thẳm trong tim, khi cô bạn cúi đầu chạy vụt vào sân nhà trong lần nhận trách nhiệm đưa Phương về trên con đường quê đêm ấy. Hay lúc tiễn Phương lên tàu tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đã thành ký ức, trở về với những trằn trọc: “Minh nghe tiếng sóng Thị Nại vỗ bờ. Tiếng sóng từng ru giấc ngủ, giờ trở thành tiếng vọng cô đơn, khắc khoải” (tr.27).

        Lại nữa, lúc này nơi quê nhà là những ấp chiến lược mọc lên như con quái vật vây quanh xóm làng. “Đêm xuống tiếng mõ gọi phụ nữ ra ngủ tập trung... dưới ánh trăng bóng dáng đàn bà gồng gánh đi thành hàng dài, lầm lũi như đàn cò bị lùa” (tr.32). Và cũng từ đó Minh lớn lên trong lặng lê, đợi chờ và tin Phương sẽ không bao giờ quên thời thơ ấu đầy kỉ niệm, về đất nước về con đường mình phải đi. Bởi Minh là con gia đình truyền thống trong chín năm kháng chiến cha đi dân công hỏa tuyến, sau mất vì sốt rét, mẹ làm nông chân chất ruộng vườn.

         Và vì thế sự lựa chọn dấn thân để kết nối. Minh trưởng thành từ việc học nghề say niềm tin và hi vọng trong thực tiễn khoa học kĩ thuật, miệt mài từng nhịp tay siết ốc, cả ánh sáng nơi đầu mũi hàn lóe lên: “Phương ơi, nếu em thấy được anh lúc này, hẳn em sẽ hiểu: tình yêu cũng là một cách học – học để vượt qua chính mình” (tr.70).

          Hai nhân vật Minh và Phương được bắt mạch từ điểm nhìn trong hình tượng của nhà văn cùng hướng về dân tộc. Cô phóng viên trẻ, nhà thơ Lưu Phương chọn con đường khi nhớ lại lời thầy đã dạy: “Khi em cầm bút, hãy nhớ: mỗi dòng chữ em viết ra có thể là vũ khí – và cũng có thể là lời ru. Em chọn cách viết nào, chính là chọn con đường của em”. Phương đã chọn con đường của tình người” (tr.75)

        Và ở họ luôn nghĩ về nhau hình dung qua những bản tin trên sóng và lưu lại những từ khóa: “Hoài Châu – Markham; Benoit; nụ cười trăng non; đôi mắt sáng” (tr.88) tiếp thêm động lực tiếp tục đi tìm... Và họ mãi tìm nhau giữa lằn ranh bom đạn. Hình ảnh Gò Bồi, Quy Nhơn trong bản tin dấu mốc lịch sử của đất nước năm ấy hân hoan cũng đầy lo âu về má. Rồi tất cả trong ngày trọng đại: “30 tháng Tư năm 1975 – đất nước được gặp lại nhau. Còn anh, vẫn chưa gặp lại em... tiếng vọng lặng thầm của mối tình đã đi qua chiến tranh mà chưa kịp nắm tay nhau... Anh biết, ở đâu đó giữa trời Nam, Phương cũng đang sống, đang viết, đang yêu thương bằng cả trái tim mình... Ngày mai, anh sẽ bắt đầu lại vì em, vì đất nước này” (tr.116, 117).

          2/. Miền ký ức sau hậu chiến là bước ngoặt mới của đất nước, của sự dấn thân tiếp nối. Bên cạnh hiện thực thống nhất hai miền là ước nguyện toàn dân đã là hạnh phúc, thì những thử thách trong sắp xếp ổn định chính quyền vừa tiếp quản.

       Với Phương – cương vị phóng viên nhà báo chị không ở lại miền Bắc để hưởng đặc quyền, lại càng khẩn trương đưa tin, càng bận bịu công việc trợ lí cho các cấp lãnh đạo: “Không còn tiếng súng, nhưng cuộc chiến giữ gìn nhân cách con người Việt Nam lại bắt đầu” (tr.154). Nhưng với chị, trước những chia xa của gia đình vợ chồng, chi hiểu và trân trọng nghĩa nặng tình sâu của ba má chị, thời gian và tuổi đời dần được kết nối. Cũng có kẻ lợi dụng niềm tin, uy tín để vụ lợi cá nhân như Đông kẻ muốn chứng tỏ uyên bác trước mọi người, nhưng lại luồn “bao đường vào nhà mình” (tr.138) của thời bao cấp, như “Hồng còn mượn uy tín của Phương để làm vỏ bọc” (tr.140), ... kẻ có tật giật mình khi đọc những bài thơ chỉ trích thói gian tham nịnh bợ, ... Với Phương, thơ dễ dàng cảm hóa được lòng người, nên chị luôn sẻ chia cùng bạn đọc. Nhưng bên cạnh đó, Phương tận tình giúp đỡ ông Thường – một ngư dân ở Nhơn Lý lấy lại được tàu đánh cá để làm ăn, được cá nhân, cả làng chài trân quý.

         Có điều khi trở thành đại biểu Quốc hội của tỉnh, vì sao Phương trở lại với tên Trần Lệ Nhung - trong cách bạn Lệ Hoa ở cùng phòng gọi Phương là Lệ Nhung là để vơi nhớ người em ở miền Nam đã hi sinh dũng cảm, tên gọi còn mang tính thiêng liêng của nghĩa cả tình người - tiếng nói của chị đứng về phía nhân dân: “Ánh sáng chúng ta nói không chỉ là điện, mà là niềm tin” (tr.210).

         Trong trạng thái tâm lí sau bao lần vùi dập “Phương vẫn đứng thẳng, vẫn sáng lên như một phép màu. Không ai biết sức mạnh ấy từ đâu. Chỉ Phương biết: từ Minh” (tr.144)

         Với Minh , biểu hiện của niềm say mê khoa học kỹ thuật, qua thử nghiệm dữ liệu thực tiễn, cuốn hút đồng hành cùng người bạn Trung – Kĩ sư ở miền Bắc vào, họ thân tình trao đổi: “Nếu một ngày người ta hỏi: trí tuệ nhân tạo sinh ra để làm gì, hãy trả lời: để con người giữ được phần người trong mình. Minh cười trừ, không đáp. Anh biết từ đây, hành trình của mình đã có đủ hai trụ: một ký ức để đi thật sâu, và một tình bạn để không đi lạc” (tr.172).

        Sự thú vị nhất ở Máy biết nhớ, đã là niềm vui tinh thần cho người lưu trữ dữ liệu giữa kết hợp lí thuyết với Trung và thực tiễn với Minh mỗi lần máy “nhớ” và cho kết quả đẹp hơn, anh vẫn không quên lưu cách máy nhớ về người giữ ký ức đến khi: “Cùng lúc, trong tim một người, tên Phương vẫn là chất dinh dưỡng lặng lẽ nuôi lớn hạt mầm đó” (tr.185).

      Có lẽ từ trải nghiệm thực tiễn môi trường: Tia sáng trong phòng thí nghiệm cho sự cân nhắc giữa khát vọng ký ức – tên một con người, và đồng hành bên anh là Thúy - nhịp thở thực tiễn đối chiếu. Trong Minh quyết định chưa hình thành: “Cuộc đời anh sẽ không còn chỉ là thép và máy móc mà còn là cuộc đấu tranh giữa ký ức và hiện tại” (tr.195). Giá trị thực tiễn đã mở thêm cho Minh nhận ra: “... ý nghĩa của việc sáng tạo không chỉ là làm ra cái mới, mà là trả lời những câu hỏi của riêng minh” (tr.207)

         3/. Thuật toán của trái tim là cái kết Đi qua miền nhớ.

         Với Minh đâu chỉ là hành trình say mê khoa học từ ánh sáng trong phòng thí nghiệm bỗng như ấm lên, bước sang cuộc thử thách lương tri của con người sau khi nhận ra hình ảnh từ ký ức dù với tên: “Đại biểu Trần Lệ Nhung – Đoàn Bình Định”. Cùng với việc Minh xin làm phiên dịch cho một số hội thảo quốc tế tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, hay được chọn đi Singapore hội nghị quốc tế về Trí tuệ nhân tạo trong các ứng dụng Công nghiệp, và nhất là được gặp bà Marie Dubois là phóng viên chiến trường thập niên 70. Cơ hội lưu trữ hệ thống đối chiếu dữ liệu thời gian, cho lần xác tín về Thuật toán của trái tim (Chương 32) mở ra là nhịp cầu kết nối giữa Phương bằng dữ liệu hình ảnh, tiếng nói cho Minh nhận ra: “Anh vẫn tin đây không chỉ là khoa học. Đây là minh chứng cho một tình yêu chưa bao giờ hóa thạch” (tr.235).

           Với Phương. Trong tư cách nhà báo, nhà thơ hẳn luôn gặp áp lực từ nhiều tình huống khác nhau. Phải chăng chị - trong giao tiếp công việc được trân quý, ngưỡng mộ, soi rọi cho những hạn chế thái độ ứng xử ích kỉ, hay cả trong sáng tác luôn vấp phải trở ngại tâm lí của đối tượng là bạn đọc. Đôi lúc giá trị từ một bài thơ viết cho một người lại là mũi kim xuyên thấu cho nhiều người ngờ vực dẫn đến những hệ lụy tai tiếng về danh dự và nhận ra: “Đời sống là một chuỗi thử thách ... dành cho những ai dám giữ trong tim mình một ngọn lửa, không để tắt” (239). Dù trong tháng ngày về hưu, duy trì sáng tác giữ sự thanh thản tâm hồn về giá trị mỗi bài thơ, còn có cả như mở phiên tòa lương tri, xét xử tội lộng hành lòng tham khôn cùng.

           Cũng là điểm chung với Minh, trên bình diện sự phát triển nhận thức tâm lí không dễ bị chi phối, vì ở họ say mê cái đẹp tâm hồn đầy thiện ý khi đối sánh với xã hội. Bởi phóng viên, nhà thơ là một phần của truyền thông, mang tính chất văn hóa xã hội.

         Riêng Minh đã mở ra chân trời khoa học, cả một đời dấn thân đầy thử thách trải nghiệm vào cuộc phiêu lưu trí tuệ, đủ nhận ra từ Trung đồng hành cùng mình: “... giữ một điều chung: không để trí tuệ đi trước lòng tử tế” (tr.259). Trong cuộc tranh luận sự chất vấn đề cập đến AI nhân văn, kể cả mã hóa được tình thương, lòng nhân ái hay vẻ đẹp của câu thơ khi tiếp xúc giá trị nhân bản, thể như đứa bé nhờ vào hát ru, lời bà kể chuyện, ... và AI cũng vậy biết đồng cảm với con người.

           Và ngay tại Hội thảo khoa học tại Trung tâm Khám phá khoa học Quy Nhơn, “thơ” đã được kết nối cả vòng đời sáu mươi năm truyền nhau hơi ấm từ bài thơ, qua số điện thoại nên duyên ùa về trong lặng lẽ cảm xúc giữa Phương và Minh “miền Cổ Tháp” của ngày xưa. Cái cảm xúc “đầy ắp bóng dáng tuổi mười lăm, cái tuổi vừa trong veo vừa run rẩy, chưa một lần cất thành lời mà đã sống trọn một đời trong ký ức” (tr. 279). Và món quà ở họ là những bài thơ trao nhau chân tình ấm áp, hòa cùng nhịp điệu dâng trào cho cái kết viên mãn.

        Với tiểu thuyết Đi qua miền nhớ, Nhà văn Lệ Thu đã bao quát cả cuộc đời hai nhân vật Phương và Minh: Từ tuổi thơ gặp gỡ, chia xa cho đến cuối đời gặp nhau trong cảm xúc. Hay đó là phép thử tâm hồn khi trải qua bao biến cố va chạm xã hội, nhưng họ luôn hướng về nhau trong đôi mắt sáng, trong cái nhìn tinh tế. Đó là ánh sáng niềm tin và lí tưởng sống của thời đại, rất cần sự nhiệt huyết và năng nổ của mỗi cá nhân, của lớp trẻ hôm nay. Hẳn đây còn là hình tượng tác giả khẳng định lương tâm con người phải tự soi chiếu để hoàn thiện mình. Giá trị của sáng tác thơ từ miền nhớ thơ mộng, cho cả sự công bằng, vị tha, nhân từ, ... rất cần được lưu trữ một cách khoa học và chính xác, thể trân quý giá trị nhân cách con người của một thời cống hiến và hi sinh. Tiểu thuyết thiên về tự truyện, giàu chất thơ như cuộc đời của nhà thơ Lệ Thu. Và nhân vật Minh sóng đôi là cái nền cho vẻ đẹp của lòng nhân từ khí khái của Phương thăng hoa.

                                                                  26.06.2026 / Nguyễn Thị Phụng.         

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Đọc bài “ ĐI TÌM MỘ”* thơ Nguyễn Văn Bằng. Bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

Đọc bài “ ĐI TÌM MỘ”* thơ Nguyễn Văn Bằng




Bao tháng năm lần lữa chiến tranh
Mẹ chưa tìm được cha về nơi an nghỉ
Con muốn làm điều mẹ còn bỏ dở
Đi tìm cha nằm lại nơi nào

Lúc cha hi sinh con còn bé quá
Không hình dung một nét thân quen
Đồng đội của cha một thời tuổi trẻ
Giành nhau bộc phá đánh đồn

Sau chiến tranh ai mất ai còn
Bốn mươi năm mộ đâu còn đúng chỗ
Vẫn biết thời gian làm dày thương nhớ
Và dày thêm đau khổ ở trong tim

Con và mẹ lặn lội nhiều năm
Không biết cha nằm đâu để đến
Tuổi già đón mẹ về bên kia thế giới
Chỉ còn con mang ước vọng đi tìm…
                        Hà Nội, 27.5.1997
         Đọc bài thơ “ Đi tìm mộ” của Nguyễn Văn Bằng cứ đau đáu không nguôi về tình cảm của con đối với cha, với thế hệ đi trước đã nắm chắc tay súng bảo về độc lập tự do Tổ quốc mình. Ngay từ khổ thơ đầu như lời tâm tình chia sẻ khi hay tin cha hi sinh, mẹ chưa kịp đi tìm không phải vì đường xa trắc trở, không phải vì sức khỏe ốm đau, mà vì cuộc chiến chưa kết thúc làm trì hoãn nghĩa tình người vợ với chồng đã từng gắn bó keo sơn tự thuở nào: “Bao tháng năm lần lữa chiến tranh / Mẹ chưa tìm được cha về nơi an nghỉ / Con muốn làm điều mẹ còn bỏ dở / Đi tìm cha nằm lại nơi nào”
         Việc “Đi tìm cha nằm lại nơi nào” người đã hi sinh trong khói lửa đạn bom nơi tuyến đầu Tổ quốc, hay hải đảo xa xôi là một đáp số không đơn thuần như ở hậu phương người già bệnh tật đã mất được chôn cất chu toàn. Bởi: “Lúc cha hi sinh con còn bé quá / Không hình dung một nét thân quen” để con có thể đong đầy kỉ niệm tình cha con gắn bó. Quả thật, người con lớn lên trong gia đình không chỉ thiệt thòi mà còn mất mát về sự chăm sóc yêu thương cả vật chất lẫn tinh thần như bao đứa trẻ khác. Nhưng người con mãi còn lưu giữ hình ảnh người cha dũng cảm ngoan cường hết mình cho đất nước: “Đồng đội của cha một thời tuổi trẻ / Giành nhau bộc phá đánh đồn”. Phải chăng vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ đã nuôi dưỡng tâm hồn “người con” về lòng tự hào cha anh không tiếc máu xương cho dân tộc Việt Nam yêu dấu ngàn đời.
         Để rồi: “Sau chiến tranh ai mất ai còn/ Bốn mươi năm mộ đâu còn đúng chỗ/ Vẫn biết thời gian làm dày thương nhớ/ Và dày thêm đau khổ ở trong tim”. Đi tìm mộ trong chiến tranh đã khó thì việc đi tìm mộ trong thời bình có lẽ còn khó hơn. Ta không khỏi rưng rưng xa xót sau chiến tranh ai mất ai còn nữa, rồi dấu vết ngôi mộ ngày ấy còn nữa không? Có phải thời gian đã làm cho “thiên biến vạn hóa”, phải chăng phần mộ người nằm yên trong lòng đất góp phần làm nên cánh rừng cứ ngan ngát xanh, làm nên điều kì diệu kết nối trái tim yêu thương trong tình nghĩa vợ chồng, tình cha con, anh em, bạn bè đồng đội như sợi dây vô hình mãi trường tồn trong cõi nhân sinh này. Một ngày chưa tìm được mộ là thêm một ngày ăm ắp nhớ thương, day dứt như chưa làm tròn bổn phận của con cái đối với mẹ cha. Nhưng biết làm sao!?... cho đến lúc:
                       “ Con và mẹ lặn lội nhiều năm
                        Không biết cha nằm đâu để đến
                        Tuổi già đón mẹ về bên kia thế giới
                        Chỉ còn con mang ước vọng đi tìm…”

          “ Mang ước vọng đi tìm” là lời khát khao nhắc nhở, là sự kế thừa tiếp nối truyền thống đạo lí uống nước nhớ nguồn, là nghĩa cử cao đẹp của người con đối với cha, của thế hệ trẻ không bao giờ quên công ơn các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Và chính vì thế đất Mẹ yêu thương bao đời nay đã từng là nơi chôn nhau cắt rốn, đã từng là điểm tựa vững chắc cho ông cha ta làm nên cốt cách người Việt Nam, cũng là nơi sống gởi thác về, nên trong hôm nay chúng ta có quyền tự hào kế tục sự nghiệp cha anh gìn giữ giang sơn gấm vóc cho được vẹn toàn để không hổ thẹn với người đi trước.
                                                                              10.4.2012
_________________
(* Tấm lòng Nhà giáo tập X, NXB giáo dục 2010)



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

33. BẦU TRỜI LÀ CỦA CHUNG EM Ạ!
(Đọc “Niềm tin của tôi” thơ Nguyễn Thị Bình)

          Nhà giáo đâu chỉ có trực tiếp cầm phấn đứng trên bục giảng truyền lại những kiến thức trong sách vở cho học sinh không những thế mà còn : “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, cái ý nghĩa ấy vô cùng lớn lao cho những ai tâm huyết với nghề của mình. Nên khi đọc “Niềm tin của tôi ” của Nguyễn Thị Bình cứ đọng lại trong tôi tình thầy trò sâu đậm, là chỗ dựa vững chắc của một tâm hồn trẻ thơ mà hình hài không nguyên vẹn. Bài thơ không dài lắm, thể tự do ngắt dòng theo mạch cảm xúc của cô Bình, giáo viên mỹ thuật trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Đà Nẵng:

              NIỀM TIN CỦA TÔI*
                  Tặng em Phạm Tiến Đạt và tất cả
                        HS khuyết tật học hòa nhập.

Em không nguyên vẹn
Đôi chân chưa một lần chạm đất

Vẫn khát khao đến trường
Bằng đôi tay bố mẹ yêu thương.

Giờ ra chơi
Nhìn chúng bạn vui cười chạy nhảy

Em ngồi buồn
Ánh mắt bớt thơ ngây.

Giờ học vẽ
Em mừng vui
Khuôn mặt rạng ngời

Bức tranh em:
Bầu trời xanh có đàn chim bay lượn

Hoa nở rộn ràng muôn sắc muôn hương
Có ước mơ bình thường mà cháy bỏng .

Và tôi thấy :
Có - tuổi - thơ - không - bình - yên trong ấy
Tim tôi rơm rớm nhói đau

Vững vàng lên em nhé!
Ngày mai
Hạnh phúc sẽ mỉm cười

Rạng rỡ những  niềm vui
Em sẽ là người hữu ích.

          Chúng ta có thể hình dung một bạn  HS tiểu học ngồi trên chiếc xe lăn, hay đi đôi nạn gỗ, hay được bố mẹ chở xe máy ,…rồi vào lớp .Tất cả yếu ớt lắm, luôn nhờ cậy người thân trong gia đình, bạn bè ,…Em HS ở bài thơ trên được cô giáo gợi tả :


                 Em không nguyên vẹn
                   Đôi chân chưa một lần chạm đất

                   Vẫn khát khao đến trường
                   Bằng đôi tay bố mẹ yêu thương”

           Em vẫn là người có đôi chân chưa một lần chạm đất! Tủi thân, xót xa cho em quá! Nguyên nhân có phải từ trong bào thai mẹ, hay sinh ra rồi bị sốt đau, hay bị tai nạn,… để dẫn đến thương tật một đời?!... Bao năm em chưa đứng lên được như người bình thường dùng đôi chân đứng lên trên mặt đất, để cùng mọi người bước đi cho hết cuộc đời mình. Với một tâm hồn trong sáng, em khao khát  tung tăng nô đùa với các bạn cùng tuổi, cùng lớp mà đâu có được! Sao  ước mơ xa xôi quá, vẫn chưa là người lớn:

                 “ Giờ ra chơi
                   Nhìn chúng bạn vui cười chạy nhảy

                     
 Em ngồi buồn
                    Ánh mắt bớt thơ ngây

         Tuổi thơ không được vui chơi còn gì tuổi thơ nữa. Có lẽ, giờ vào lớp công bằng hơn, thú vị hơn:
                  Giờ học vẽ
                   Em mừng vui
                   Khuôn mặt rạng ngời

         Đọc đến đây tôi thầm cảm ơn cô giáo. Có cô, em có cả bầu trời xanh, có đàn chim bay lượn, có hoa nở rộn ràng  khoe sắc tỏa hương. Chính nhờ cô, em mới có cảm hứng sáng tạo, em bộc lộ tài năng. Biết rằng trời xanh kia là muôn thuở, cánh chim không bao giờ  ngừng bay, hoa luôn tỏa sắc hương. Tất cả quanh em rộn ràng sinh sôi, sinh sôi mãi. Tất cả thật gần gũi thân thương biết chừng nào sao tầm tay em không thể vói tới. Ước mơ em khao khát cháy bỏng. Để rồi:

                  Và tôi thấy:
                  Có- tuổi- thơ- không- bình - yên trong ấy”

       Cả câu thơ được gạch nối liên kết từng tiếng “có – tuổi – thơ – không – bình – yên  trong ấy” nghe the thắt quặn lòng. Có lẽ cô giáo có quyền cảm nhận theo chủ quan hoặc khách quan đi chăng nữa thì số phận con người thay đổi  hay không?! Cô yêu người nên yêu nghề, chăm chút nghề dạy học là chăm chút HS mình. Vốn trái tim nhạy cảm, cô rơm rớm nhói đau vì tạo hóa bất công! Đồng cảm, sẻ chia, giúp đỡ là việc làm nhân hậu giữa người với người. Hình ảnh cô giáo ở trường là người mẹ thứ hai mở rộng vòng tay, tấm lòng nâng đôi cánh tuổi thơ bay lên giữa bầu trời bình yên cho em niềm tin trong cuộc sống:

               “Vững vàng lên em nhé!
                  Ngày mai
                  Hạnh phúc sẽ mỉm cười

                  Rạng rỡ những niềm vui
                   Em sẽ là người hữu ích

        Bài thơ “Niềm tin của tôi” là tiếng nói lương tâm của một Nhà giáo cháy bỏng lòng yêu thương HS hết mực, là vẻ đẹp nguồn cội về tấm gương người thầy trên bục giảng dành trọn tấm lòng trang trải những tâm tư như thể phép màu động viên, khích lệ: Hãy tựa vào cô đây, đôi chân em sẽ vững vàng tiếp bước! Bầu trời là của chung em ạ! Bài thơ còn là bức thông điệp gởi đến chúng ta hãy vì cuộc sống cộng đồng luôn quan tâm chia sẻ nhiều hơn nữa!...

                                                                                     15.04.2010                                                                                   
____________
*Trích Tấm lòng Nhà giáo tập
IX( NXB Giáo Dục)

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

TRONG ÁNH MẮT TUỔI THƠ bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

Giới thiệu sách mới: Tam Thể và Cún con, tập truyện ngắn thiếu nhi của Bùi Thị Xuân Mai, NXB. HNV. 2022

Bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

                 TRONG ÁNH MẮT TUỔI THƠ

 

     Bạn đọc biết đến Bùi Thị Xuân Mai với những tập thơ: Hạt cát vàng (1990), Cầu trăng (1994), Dòng sông thao thức (2000), Lời ru bếp lửa (2005), ... cho đến gần đây nhất là Nên một mùa mưa hoa – thơ chọn (2024). Còn Ở lại với dòng sông tập 1 (2005), và tập 2 (2008) với thể Hồi ký thì chị đâu chỉ là một Nhà thơ, Nhà văn được trân trọng viết hoa cùng với nhiều Giải thưởng về Văn học, mà chị là một Nhà báo Việt Nam nên có cả trong góc nhìn cuộc sống thật tinh tế và thú vị về thế giới quanh mình, nhất là tâm hồn tuổi thơ bao khát khao để mở ra chân trời cuộc sống. Chính vì thế khi đọc Tam Thể và Cún con, tập truyện ngắn thiếu nhi của Bùi Thị Xuân Mai, NXB. HNV. 2022, mới hiểu hết tấm lòng của một phụ nữ - người mẹ, người bà yêu quý con cháu mình như thế nào.

        Tập Tam Thể và Cún con có mười truyện ngắn với 85 trang sách, mở ra bao điều trong thế giới tuổi thơ, cùng cảnh vật gần gũi và thân thương mà thường ngày các cháu nghe và nhìn thấy. Viết cho thiếu nhi, nhà văn khơi gợi mối quan hệ chân tình thấu hiểu của nhân vật trong mỗi truyện, từ đó cảm hóa được tuổi thơ chăm chút công việc, gắn bó cảnh vật xung quanh. Bùi Thị Xuân Mai luôn dựa vào đặc điểm tâm lí tuổi thơ tự nhận ra và sẻ chia làm cho bạn đọc thật yên tâm. Mỗi truyện là một bài học yêu thương gìn giữ, những tật nguyền và khiếm khuyết được bù đắp bằng sức mạnh của tình yêu chân thành, sẽ là động lực dung hòa trái tim kết nối và lan tỏa, là sức mạnh bền bỉ, đủ niềm tin cho các cháu hướng đến những điều tốt đẹp.

        Mở đầu là truyện Đất lành đánh thức tâm hồn tuổi thơ biết nâng niu cảnh vật hoa lá quanh nhà, lợi ích của chim sâu, bầu bạn con người từ những điều bé nghĩ: “Sáng sáng, chim đến như gọi bé dậy học bài. Nó vừa là chiếc đồng hồ nhỏ vừa là bạn của bé tự lúc nào. Và tự nhiên có cuộc thi đua ngầm: Chim bắt nhiều sâu, còn bé cố gắng học thuộc bài, giành nhiều điểm mười ...”. Có lúc bé lại muốn sở hữu tiếng chim hót trong lồng rồi nhận ra, nó nghĩ không thể giam đôi cánh lại được. Hẳn đất lành chim đậu còn là thông điệp bảo vệ môi trường, là bảo vệ cuộc sống quanh ta. Bình minh với chim hót sẽ là khởi đầu ngày mới, tiếp sức nguồn năng lượng công việc cho tất cả.

      Đến Mái mơ của bé là sự quan sát của bé Hoa về Mái Mơ biết chống lại lão chuột Cống để bảo vệ đàn con của mình, thật tỉ mỉ trong từng chi tiết từ âm thanh tiếng gà báo động, hay dòng nước dãi của Chuột Cống về hang được Bé Hoa và Mái Mơ phát hiện cũng là chi tiết theo dõi ý thức cảnh giác cao độ trong mọi tình huống xấu xảy ra. Cũng là cách ngăn ngừa kẻ rình mò chờ cơ hội mà liếm láp của thói ăn bẩn.

       Khi viết về thế giới loài vật bằng những câu chuyện đồng thoại, nhà văn dựa vào tên gọi và bản năng mỗi loài để cho các cháu tự khám phá cả khu rừng sinh thái cần bảo vệ muôn loài như thế nào.

        Đó là truyện Con quạ khoang chưa lượng được sức mình mà khoe khoang, bắt chước tiếng hót Chèo Bẻo, hay điệu múa của con Công, của Vàng Anh líu lo, ... nhưng kì thực quạ khoang không làm gì được, đáng chú ý nhất viết về quạ khoang rất hấp dẫn: “... cứ cầm sách lên là hai mắt díp lại, không quyển nào nó đọc quá trang thứ mười. Nó nghĩ, sự việc có mở đầu, có kết thúc. Vì vậy, nó chỉ cần đọc dăm trang đầu, dăm trang cuối là coi như xong... Nó nghĩ các nhà văn hay nói dong dài, hơi đâu mà theo họ cho mất thời gian. Bụng bảo dạ như vậy và nó nghĩ, nếu mình làm được thơ nữa thì mình quả là nhà thông thái”. Và cuối cùng, với thói quen theo cách “chưa biết bò đã lo bay bổng” của quạ khoang bị gấu và thỏ trắng vạch trần tính khoác lác...

          Đó là Khu rừng yên tĩnh, là truyện đồng thoại hay, từ việc thỏ con bị mắc lừa cáo, rồi trong khu rừng các loài vật bé nhỏ bị mất dần, từ đó đã thức tỉnh muôn loài gấu, tê giác, hươu, ...  phải biết hợp quần là sức mạnh đã vạch trần bộ mặt của cáo và sói lắm mưu. Cũng là cách bảo vệ động vật quý hiếm dần mai một.

        Chùm truyện Con búp bê, Cây trứng cá, Tam thể và Cún con, cùng với Một lần bị ốm là những truyện đáng đọc. Ở đấy luôn nhắc nhở những nghĩ suy trong mọi việc thường ngày. Một Con búp bê đẹp cũng chỉ là vật trang trí, là trò chơi đơn phương. Một Cây trứng cá được trồng lên cạnh vườn sẽ tỏa bóng mát và niềm vui từ hai phía. Tam thể và cún con, từ bằng mắt và cử chỉ nói bao điều với bé thật thân tình. Một lần bị ốm là cách trăn trở chiếc gương phản ánh sự thật tự soi lại chính mình, đâu chỉ khắc họa rõ nét thời gian khuôn mặt, mà thận trọng giữ gìn sức khỏe, há làm buồn lòng người thân. Dẫu là tuổi thơ vẫn phải có bài học trách nhiệm với chính mình trong gia đình, xã hội.

          Bùi Thị Xuân Mai bổ sung thêm về sự tích bao đời từ trên núi cao của quê mình qua truyện: Chuyện nàng LơPin xinh đẹp có tình yêu bền vững như tên gọi thành cổ Tà Kơn và thác LơPin lưu lại đến bây giờ, minh chứng con người ngày xưa đoàn kết chống lại những quyền lực tham vọng. Đến Huyền thoại Ghềnh Ráng, về khu du lịch bãi Trứng tự nhiên đầy hấp dẫn bên biển đẹp “... còn có thêm tên là Bãi tắm Hoàng Hậu. Và nơi đây cũng là điểm đến cho các bạn nhỏ trong dịp ngày nghỉ, nhất là mùa hè này về một thắng cảnh đẹp riêng chỉ có ở Quy Nhơn mình.

         Trong tập truyện Tam thể và Cún con còn có những đoạn văn miêu tả thật lôi cuốn nhắc nhở phòng ngừa như cái kết: “Đã có lúc Tý nghĩ đến một điều kín hơn. Với bản tính ham ăn nó rất dễ trúng bả của bọn trộm. Một khi Đốm Lang trúng bả thì căn nhà này sẽ ra sao?” (Tam thể và Cún con). Hay cách mở đầu truyện Khu rừng yên tĩnh: “Ngày xưa có một dòng sông nhỏ chảy hiền hòa trong khu rừng yên tĩnh. Nơi ấy các loài vật sống bên nhau vui vẻ, thân thiện. Sói, cáo cũng chưa biết ăn thịt sống như bây giờ” gợi ý tò mò cho tuổi thơ cũng là một lối dẫn dắt sự chú ý cho bạn đọc. Và còn nhiều lời giới thiệu đoạn hội thoại đầy thân thiện (Cây trứng cá, Con Búp bê, ...)

         Nhà văn viết cho thiếu nhi, đâu chỉ hướng bạn đọc yêu ghét tính cách nhân vật trong truyện, mà còn là những trang văn miêu tả sinh động thể định hướng cách hành văn: “Một buổi sớm mai, sương còn đọng trên các tàu lá như những viên ngọc lấp lánh. Rừng trở dậy tươi vui trong tiếng ca lánh lót của họa mi. Chim trỹ sáng cả bầu trời từ bộ áo choàng đỏ xanh lóng lánh và cất tiếng hào hùng, ...”(Con quạ khoang). Hay: “Biết bao mùa xuân đi qua, nhũng nụ hoa mai nở vàng rồi rơi rụng lặn vào đất đai như bao kỷ niệm xóa nhòa theo thời gian. Vũng nước mặn bao la ở đây đã được gọi là biển cả.”(Huyền thoại Ghềnh Ráng).

         Hẳn với trái tim nhân hậu, Nhà văn Bùi Thị Xuân Mai ưu ái khi viết cho thiếu nhi về tập truyện ngắn Tam thể và Cún con, một sự cân nhắc kĩ càng trong câu từ, tứ truyện. Nếu như cốt cách của một Nhà báo thẳng thắn trung thực bao nhiêu, thì sự quan tâm đến tuổi thơ còn là trách nhiệm của người cầm bút đã từng: “Quắc mắt coi khinh ngàn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng” (Lỗ Tấn) thật trân quý sự nhượng bộ biết bao./.

                                    06.06.2026 / Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

VÀO HẠ VỚI THƠ VÀ EM, của Nguyễn Thị Phụng

 

VÀO HẠ VỚI THƠ VÀ EM


       

Vào hạ - mùa của thường niên đầy thử thách của biết bao bạn trẻ đến với mùa thi, của bao cuộc chia tay và hội ngộ. Vào hạ - mùa của cánh đồng mơn mởn ơn tay người “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Vào hạ - mùa của sắc tím bằng lăng làm dịu mềm nắng gắt gió nam, mùa của sắc phượng âm thầm cháy lòng luyến lưu nhật kí, mùa của sắc tử kinh cánh mỏng bền bỉ đua cùng thời gian năm tháng học hành. Vào hạ – những cánh diều tuổi thơ bay giữa tầng trời khao khát... Hồn quê trong tôi một chút tâm tình. Tâm tình nở hoa bất tử sau bữa ra mắt Sự kết hôn của thơ hôm sáng chủ nhật giữa ngày tháng sáu.     

         Tự diễn là một bài học nằm lòng cho kịch bản riêng tôi. Thật vậy!...

        


  Mở đầu thêm một lời khẳng định: Vào hạ (của Nhạc sĩ Lê Hựu Hà), ngập tràn yêu thương các bạn sẽ quên hết cái nắng oi ả, quên hết mệt mỏi… sẽ chỉ còn lại mùa hạ của niềm vui, của sự tự tin vào cuộc sống qua tiếng hát Hồng Hoa, thể như ca sĩ chuyên nghiệp. – Không, chị nguyên là giáo viên THPT Nguyễn Diêu. Nhắc đến Nguyễn Diêu lại nhớ người thầy của Đào Tấn quê mình. Cũng là niềm hạnh phúc lớn lao cho chúng ta ngồi đây thấu được thanh âm nhạc cụ hiện đại, mà xôn xao tiếng trống chầu rằm tháng bảy quê nhà: “Ai về Chợ huyện ăn nem/ Ghé làng Vinh Thạnh cùng xem hát tuồng”.

         Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa là dịp chúng ta tri ân và kính trọng “Ơn người năm tháng dạy con” (1) . Còn Thùy Minh, MC. Chương trình khéo léo dẫn dắt bài hát Hát từ quê hương Đào Tấn (của TTVH. Tuy Phước ): “Đi xa con vẫn nhớ những chiều núi Hoàng Mai trên đồi mộ Đào Tấn có một rừng hoa mai. Những chiều sông Gò Bồi dòng nước ngậm phù sa ngập ngừng như không chảy, sao bên lở bên bồi ...” để dẫn nhập chương trình Ra mắt Giới thiệu tác giả tác phẩm của Nguyễn Thị Phụng - người con được sinh ra và lớn lên ở Lý môn Vinh Thạnh, Tuy Phước.


       


  Những giỏ hoa thơm tự tay người, thơm cả tấm lòng lan tỏa từ Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai, của Chi hội Văn học, của nhóm huongxua.org – những người yêu kỉ niệm xưa, của bạn thơ thẳng tiến Đi trên đường một chiều (1), của cháu Kim Chánh Hòa nhịp kết nối (2) đã không thể đến dự. Và còn thơm nữa là các cháu ở Buôn Mê Thuột đã có mặt quê nhà từ ngày hôm trước, cùng các con các cháu trong gia đình. Và diểm trên gương mặt người đến dự đều là đóa ban mai cùng vào hạ dấu yêu.

          Từ tên một bài thơ, tôi đã chọn đặt nhan đề cho tập thơ Sự kết hôn của thơ, cũng đâu có gì lạ. Bởi có người là có thơ. Thơ từ tấm lòng nhân sinh mà có. Cái đáng yêu chân chất hồn nhiên, mộc mạc thơm ngát hương rừng lan tỏa bao điều kì diệu, thể phép màu của tình yêu được xuất phát từ nơi đây cho một sự tất yếu: Chẳng thể giả vờ (Thanh Đa diễn ngâm) còn lưu lại: Ai lỡ đánh rơi trái tim... trên thảo nguyên xanh bao mầm xuân vừa nhú... và câu chuyện rất thơ đã có người nhặt lên thể truyện cổ tích đời người. 


     


    Niềm tin và sức mạnh từ cuộc sống dẫu nắng mưa như thế nào, tự mỗi chúng ta biết vun vén, điểm tô đời sống văn hóa tinh thần, nguồn động lực truyền năng lượng cho nhau khi biết: “Thắp lại một tâm hồn”. Qua phần diễn đọc của Nhà văn, cô giáo Trương Thúy: “Không cần đuốc đâu anh” lặp lại ở hai khổ thơ đầu... Lời thầm thì mà ấm áp ngọn đuốc ánh sáng của nội lực, theo cánh én liệng qua mùa, con én vẽ xuân xanh giữa bầu trời bao la thênh thang mời gọi như thế nào.

       .....

      Có vội vàng không hỡi cánh én vẽ mùa xuân, vẽ đời người cho một lần xuất hiện.  Âu cũng là duyên thơ. Khi Chọn thể trường ca 6.8, nhịp thơ đồng hành nhịp đời ta, theo độ ngân của NNUT. Phương Nga diễn ngâm, chắc chắn rất chủ quan có bài thơ nào thăng hoa trọn vẹn. Ở mỗi bài chỉ có một từ hay nhiều nhất là một câu đủ xao xuyến tâm hồn tự ta tâm đắc luôn hai câu cuối khổ thứ nhất:

             “Trái đất còn già hơn mỗi ngày càng trẻ đẹp

               Cây vươn xanh, đường cao tốc hóa gần.” 


        ....................

      


 Có lẽ ngày lành tháng tốt cho Sự kết hôn của thơ hòa nhịp dành phần thứ nhất là Thơ - tác phẩm riêng mình, sang phần thứ hai là chân tình cảm ơn tất cả Dư luận bạn đọc tùy duyên cho sự đồng cảm trên trang viết với nhiều thể loại  rất cần bảo lưu. Thể là món quà trọn vẹn dành cho nhau trên đời, cho một lần xuất hiện. Tình thân là tất cả bạn đọc xa gần.

       Thơ bên đời thèm đủ nghĩa bao dung.


       Cái bao dung chân chất giản dị, dân dã cách lí giải Sự kết hôn của thơ: “... Và em/ Ngày mỗi ngày/ Choàng tấm áo che mưa/ Lại gặp nắng nên mồ hôi nhễ nhại/ Lại gặp gió nên phập phồng trôi nổi/ Lại gặp chiều nên bổi hổi lời ru ...” đa dạng phong phú. Bởi thơ không thể thiếu trong đời sống tâm hồn thường ngày mà lúc này ấm áp truyền cảm của Nghệ sĩ Thanh Đa thể hiện.

        Thơ bên đời themf đủ nghĩa bao dung.




       


Thơ bên đời. Tựa đóa hướng dương căng tràn nhựa sống. Nhựa sống trong tôi là nguồn năng lượng gửi vào cả tứ thơ mình khi biết Đếm tuổi yêu thương: “
Đã xuân há chẳng thẹn thùng/   Đã yêu há chẳng ngại ngùng thiệt yêu/... / Ta về đếm lại thật mơ/ Ô kìa trăng kết vầng thơ tuổi mình.” Mà cô giáo Thùy Minh tâm đắc chọn ngâm.

        


 Cũng điềm đạm nhận ra cuộc đời theo vòng xoay tạo hóa, bức vẽ cho gương mặt người ra sao. Tôi đã tự tạc Trên một bức chân dung: Đâu riêng là họa sĩ tạc một bức chân dung/ Ta có thể vẽ mình giữa bầu trời thu xanh thẳm/ Chỉ đôi mắt đọc cái nhìn thầm lặng/ Vỡ tiếng cười giòn tan trong nắng cháy trưa hè...”(nghệ sĩ Duy Phạm thể hiện) Trong cách hoàn tất bức chân dung ấy rất bản lĩnh: “Kìa là núi kiên gan giữ biển đông bền vững/ Chẳng hề chi gương mặt chạm gió đùa”.

          Và tên bài thơ Viết cho ngày 8 tháng 3 tiếp tục vẽ chân dung bằng dòng tâm tình: “Có gì đâu anh, em cũng là đàn bà/ Được gọi tên của những người khác giới /... / Em, học người đàn bà, trân quý gian nan/ AstraZeneca (3) - diệu kì đến vậy/ Cái vẻ đẹp Âu Cơ đâu chỉ sinh hoa kết trái/ Gom đơn sơ hạnh phúc làm người.” Qua phần diễn ngâm của Tuệ Mỹ - người bạn cùng lớp văn ngày xưa.


  


     Mỗi bài thơ trong tập Sự kết hôn của thơ là tiếng lòng từ cuộc sống được trải nghiệm. Mà vì sao khi mở đầu tập thơ, tác giả lại chọn bài Cá cược chi một ngày là sự đối chiếu giữa hiện hữu và hư vô, được và mất, giữ và buông,... và ta nhận ra: “Dễ gì cá cược hơn thua/ Trăm năm hồ dễ bán mua nhịp đời/ Phù vân giấc mộng khóc cười/ Một ngày đồng vọng mấy lời tỉ tê” mà đầy cảm hứng qua phần thể hiện của Phạm Văn Phương-người bạn thuở nào học cùng lớp cùng trường.

          .........

          Ra mắt và giới thiệu tập thơ còn là nơi gặp gỡ và tiếp tục giao lưu bạn đọc tâm huyết:

        “Tôi rất vui khi đọc tập thơ Sự kết hôn của thơ của chị Phụng. Tập thơ ra mắt nhân kỷ niệm 70 mùa xuân của chị có mặt trên cõi người! Đây không chỉ là một tập hợp cảm xúc thuần túy mà còn là một hành trình suy tư về con người, thân phận và nhân sinh. Nhan đề “Sự kết hôn của thơ” là một ẩn dụ nghệ thuật giàu tính biểu tượng. “Kết hôn” không chỉ là sự giao hòa giữa cảm xúc và ngôn từ mà còn là cuộc gặp gỡ giữa thơ với đời sống, giữa cái đẹp và nỗi đau, giữa vị nhân sinh và vị nghệ thuật. Điều đó được thể hiện khá rõ trong bài thơ cùng tên khi tác giả viết: “Thơ mở lòng xin kết hôn sâu/ Đôi má thắm thẹn thùng trao hạnh phúc”. Câu thơ cho thấy thơ ca không còn là tiếng nói biệt lập mà trở thành một sinh thể sống động, biết yêu thương, biết sẻ chia và nhập cuộc với nhân gian.

         Một trong những giá trị nổi bật của tập thơ là cảm hứng nhân văn đậm đặc. Nhà thơ không nhìn cuộc đời bằng cái nhìn bi lụy mà bằng sự cảm thông sâu sắc trước những phận người nhỏ bé. Trong “Chép lại một bài thơ”, hình ảnh “đôi nạng gỗ, xe lăn” hiện lên như biểu tượng của nghị lực sống và vẻ đẹp nhân bản. Còn ở “Bản quyền từ điển thi ca”, người khiếm thị trở thành điểm tựa để tác giả suy ngẫm về ánh sáng, về sự bao dung và nhân quyền. Thơ của Nguyễn Thị Phụng vì thế luôn có xu hướng đi về phía con người, bênh vực những giá trị thiện lương và đánh thức lòng trắc ẩn.

      


     Đặc biệt, tập thơ mang dấu ấn thời đại khá rõ nét. Đại dịch Covid-19, chiến tranh Nga- Ukraine, động đất Thổ Nhĩ Kỳ hay những biến động xã hội đều được phản ánh qua lăng kính giàu nữ tính và nhân ái. Trong “Trở lại một tiếng rao”, tiếng rao của người phụ nữ mùa dịch trở thành ám ảnh xã hội về mưu sinh và thân phận. Ở “Thương bao nhiêu hạt phù sa”, tác giả không chỉ ghi lại nỗi đau của đại dịch mà còn ca ngợi nghĩa tình con người giữa hoạn nạn. Chính điều đó khiến thơ chị mang hơi thở đời sống đương đại nhưng không sa vào tính thời sự khô cứng.

           Về phương diện nghệ thuật, thơ Nguyễn Thị Phụng thiên về dòng suy tưởng giàu liên tưởng. Chị sử dụng khá nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng như mặt trời, giếng đời, dòng sông, cọng rơm, bầu trời, ngọn nồm… Những hình tượng ấy vừa gần gũi dân dã vừa mang chiều sâu triết lí. Nhà thơ kết hợp giữa ngôn ngữ đời thường với chất ca dao, tục ngữ và hơi hướng thiền vị. Nhiều câu thơ mang giọng nói tự nhiên như lời trò chuyện, tâm tình, nhưng phía sau lại là những lớp nghĩa sâu xa. Bài “Ngày sách nói gì!?” chỉ bằng tám câu thơ ngắn đã khái quát được vai trò của sách trong việc “tri tân nhân cách”, nuôi dưỡng sáng tạo và bồi đắp văn hóa đọc...

           Tập thơ còn mang đậm dấu ấn nữ tính. Đó là cái nhìn mềm mại nhưng không yếu đuối; bao dung nhưng không né tránh hiện thực. Trong “Viết cho ngày 8 tháng 3”, hình ảnh người phụ nữ hiện lên qua thiên chức làm mẹ, sự hy sinh và lòng nhân hậu. Nhưng người phụ nữ trong thơ không chỉ là biểu tượng của tình yêu thương mà còn là chủ thể suy tư, tự ý thức về giá trị bản thân và trách nhiệm xã hội.

           Có thể nói, “Sự kết hôn của thơ” không chỉ là cuộc “kết hôn” giữa thơ và cuộc đời mà còn là sự hòa quyện giữa trải nghiệm sống, chiều sâu nhân bản và khát vọng hướng thiện. Trong dòng chảy thơ ca đương đại, đây là một tập thơ có giọng điệu riêng, giàu chất nhân văn và đáng được trân trọng. Xin chúc mừng chị !” (Lê Bá Duy).

         


Còn Lê Văn Hiếu từ Lâm Đồng lại chọn bài thơ “Giếng đời” như mạch nguồn cảm hứng: “Đào sâu vào lòng đất / Sẽ gặp mạch nước ngầm / Nuôi lại đời vất vả / Trong một cuộc trăm năm // Cái giếng trời ngược lại / Chỉ có gió lùa mây / Từ bình minh tiếng hót / Chia ngọt ngào đắm say, ... ”  

          Tiết mục giao lưu trình diễn thơ bằng thể hát bài chòi dân gian ngọt lịm: “Dễ gì cụng rượu mà say/ Mềm môi nhắp lại những ngày còn xuân... / ... / Uống đi anh chén xuân ca/ Câu ca dao cũ hiên nhà ngấm say...” mà Phương Nga đã thể hiện.

          Khi chương trình khép lại khép lại trong tiếng hát Duy Phạm đầy luyến lưu Mẹ ta trả nhớ về không (Thơ Đỗ Trung Quân, nhạc Trần Thiện Thanh) cho cuộc chia xa và trở về trong tình mẹ con, mà nói bao điều chia tay và hội ngộ. Khi cái bóng mai dần thẳng thóm trên đầu, tôi không thể níu giữ những giỏ hoa trao tặng từ Nhà thơ Mai Thìn, từ Nhà thơ Khổng Trường Chiến, từ nữ sĩ Quốc Tuyên, từ Nhà thơ Ngô Văn Cư, từ những đứa cháu con chị ba. Và từ giỏ hoa khởi sắc hương của Kim Chánh, những đóa sen tinh khiết của Kim Chi cẩn thận cắm vào lọ sứ mang từ nhà đến, đặt trang trọng trên bàn Sự kết hôn của thơ. Kể cả bài thơ nho nhỏ của bạn Huỳnh Thế Cẩn đọc lần đầu tiên đến dự tặng cô Phụng tuổi bảy mươi.


    


      Và làm sao quên được các bạn giáo viên tổ văn của trường THCS. Phước Lộc lần đầu tiên đến với Sự kết hôn của thơ, Hồng Vân cũng đã kịp thời gửi bao yêu thương mạnh dạn sẻ chia đến giao lưu Còn yêu em mãi (sáng tác của Nguyễn Trung Cang): Dù biết trái tim đã già/ Mà những thiết tha chẳng nhòa/... / Câu ca hay khúc nhạc/ Tình yêu còn đong đầy năm tháng/...” của một tình vợ chồng nhắn nhủ đã trở thành tình yêu đôi lứa thiết tha.

      Tôi chỉ có thể lưu những ánh mắt yêu thơ trong nắng hạ là lòng biết ơn tất cả đã đến dự Ra mắt Sự kết hôn của thơ khơi nguồn năng lượng sáng tác, lòng biết ơn lan tỏa những đức tính tốt đẹp tự lòng người hôm nay. Lòng biết ơn của một đời thơ với bạn đọc. Lại nhớ Nhà báo Viết Hiền trễ xe buýt đến chậm hơn chút cũng kịp mấy lời trân quý đến Sự kết hôn của thơ. Có lẽ trong lời đề từ phúc đáp, thay cho lời kết: “Tặng nhau chừng ấy muôn phần / Nghe mùa duyên đến tận cùng trang thơ”  là một bức ảnh kỉ niệm thật đẹp ngày trong ngày Ra mắt Sự kết hôn của thơ của đời mình. Mỗi gương mặt Vào hạ với Thơ và em hôm nay là những đóa hoa bất tử trong đời thơ tôi../.





                                 


  

 

17.06.2026 / Nguyễn Thị Phụng.

 

......

(1) Tập trường ca của Ngô Văn Cư

(2) Tên chương trình của BTV. Kim Chánh.

(3)Vaccine ngừa COVID -19 giá rẻ AstraZeneca của

Giáo sư người Anh Sarah Gilbert sáng chế