Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

VĂN HÓA CHỮ NGHĨA TRONG BÓNG TÙNG CỦA TRIỀU LA VỸ, bài viết của Nguyễn Thị Phụng.

 

         VĂN HÓA CHỮ NGHĨA TRONG BÓNG TÙNG CỦA TRIỀU LA VỸ 


          Có thể tôi thích đọc truyện ngắn. Cũng không tranh luận với một ai. Bởi sau một truyện ngắn là cái tình của người sáng tác đối với văn hóa chữ nghĩa của mình. Mà tôi không lụy tình, nhưng đều quý cái tình tác giả chăm chút yêu quý nhân vật chính đã đành, còn với những nhân vật phụ thì không hề chủ quan. Đó là cách đọc bất kì truyện ngắn nào, trong đó với Bóng tùng của Nhà văn Triều La Vỹ cũng vậy. Nếu tính theo số lượng tác phẩm đã xuất bản, thì thơ nghiêng về sở trường của anh. Nếu tính từ 2020 đến nay thì chỉ có hai tập truyện ngắn, thể cán cân bị lệch. Nhưng với tôi, cái lệch không là số lượng, lại nhẹ nhàng mà bay bổng trong cách dựng truyện. Nhất là thể tài nhân vật lịch sử, cách đối chiếu tâm trạng nhân vật, cảnh sắc và con người. Mười ba truyện ngắn trong Bóng tùng mà thấp thoáng “Bóng rồng” của quyền lực, nhưng tấm lòng bề tôi, của kiên định, của dân làng là một mực của “Đất có lề, quê có thói”.

      1. Có thể vì sao tác giả sắp xếp truyện Cổng làng mở đầu tập sách trong 13 truyện ngắn của anh. Hình ảnh Cổng làng là nhân chứng cho cuộc ra đi trong đón tiếp của vương triều mà đôi mắt thầy đỏ hoe và trả áo mũ cân đai của người “thầy” trở về trong lặng lẽ, sau ba mươi năm đối diện sự thật. Sự thật về lòng hiếu học của con dân, sự miệt mài rèn nhân cách, sự thật là chữ nghĩa không thể chôn vùi. Mà giữ cách im lặng ngày trở về “thầy” đã bọc bút nghiên trong ba lớp giấy, chôn sâu trong ba mét đất cũng được quật lên lau chùi kĩ càng. Đó là giá trị của sự thật hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Người “thầy” đã thành huyền thoại từ chi tiết thầy chạm tay vào khúc gỗ kết từ hài cốt người học trò - từng gánh củi chất đầy sân nhà thầy, thầy không còn biện lí do nào nữa để từ chối, đành phải trở lại dạy học - bỗng nhẹ như không... Và đã mở ra trong cái kết nhiều thêu dệt huyền thoại một người thầy trong đời sống dân làng trân quý vô cùng.

      2. Nếu nhân vật chính không gọi tên trong Cổng làng viết về người thầy kiên trung bức xúc hiện trên gương mặt khó nén từ mở đầu truyện, cũng như đã gửi lại Hoàng thượng áo mũ, cân đai cùng Thất trảm sớ về làng. Thì các nhân vật lịch sử trong Ma chữ lại ám ảnh một đời Bùi Đắc Tuyên từ nhỏ đã ham chơi lười học thời Tây Sơn trong ác mộng lo lắng hỏi thầy “Con muốn sai khiến chữ nhưng không cần học, có được không. Thầy trừng mắt, đáp. Được, nhưng phải là kẻ gian hùng. Đáp xong, mắng thêm một trận”. Nhưng để được cơ hội kẻ khao khát như Tuyên cứ muốn được ngồi chiếu trên, bên mâm cao cổ đầy,... Và khi cơ hội lên làm Thái sư, đã tìm mọi mưu ma chước quỷ thu tóm quyền lực vào tay mình kéo Ngô Văn Sở bị lừa mưu, nghe theo. Còn Bùi Hả dựa quyền mà sát phạt, mà vơ vét. Riêng sư thầy Đồng Đức biết tham vọng của Tuyên từ việc bày kế giải hạn ma chữ cho đến vừa hành lạc vừa tập thiền,... của sự tận hưởng và thoái hóa, đã cuốn hút Thái sư đến việc đúc tượng Thái sư bằng vàng đặt dưới tòa sen để tụng niệm, kể cả giả chiếu chỉ... để trị tội khỏi vạ về sau. Và cuối cùng sự thật trong tầng nghĩa ẩn dụ “Ma chữ” đồng hành với công bằng nghiêm minh phép nước, trừng trị kẻ phản loạn âm mưu cướp ngôi khi mà vua Cảnh Thịnh còn quá trẻ. Truyện ngắn Ma chữ vẫn theo motip cách nghĩ ác giả ác báo, chính nghĩa thắng gian tà.

      3. Vật tổ - là truyện ngắn xoay quanh ba nhân vật trong lều trại của Hùng Vĩnh Hằng, chủ đầu tư của hàng loạt dự án công viên sinh thái vĩnh hằng thu lợi hàng ngàn tỉ mỗi năm, cùng với Nhân Pháp Sư và Khải Bát Tràng. Cách gọi tên nhân vật gắn liền với đặc điểm công việc. Truyện đan xen giữ thực và ám ảnh từ thầy địa lý với vật lạ mà Vũ Cần, nhân vật chính - nghề đào huyệt mộ, làm mả và đào giếng, đã thấy “vật lạ” ấy khi đào hồ bán nguyệt cho nhà vua từ thời Thái Đức sơ nguyên. Cuộc sống gia đình từ ổn định đến phát triển. Vũ Cần muốn cho con trai duy nhất của bà vợ ba đi học không là dụng ý khi nói với thầy đồ Hảo giàu có mà dốt chữ người ta khinh, nhưng với Vũ Cần là muốn con trai học để kiếm đường ra làm quan. Những cản trở tình yêu của Kiệm với cô Đào khiếm khuyết mà thông thạo, rồi đến cô Hồng con vị hào phú Vũ Cần chọn cho Kiệm cũng không thành. Vũ Kiệm sau khi học xong nhà cụ Tú Đậu ở Gò Chàm về, được bố nhiệm làm Chánh tổng, rồi được mời vào cùng chức hiệu thư, hàm chánh bát phẩm. Năm nào cũng nhiều quà cáp gửi về. Thời thế loạn lạc, tự đường tộc Vũ bị giặc đốt, Vũ Kiệm trốn thoát trở về sau khi vua Thái Đức băng hà, Nguyễn Bảo bị truất phế về làm dân. Còn Vũ Kiệm không muốn ở nhà viết sớ cúng vong xem thường nghề của cha mình chỉ vì muốn học để làm quan, và bị cụ Cần đuổi đi. Có phải ám ảnh thời vận từ chữ Trần của thầy địa lý mà cụ Cần xoay ra sửa sang nhà cửa và giao việc cụ thể đào huyệt làm mả, đào giếng cho các con. Phần riêng cụ Cần ở tuổi bảy lăm ngỡ chống gậy đi chơi đó đây lại cần xin mai mối cưới cô Đào con ông đồ Háo, nghe tin ai cũng tủm tỉm cười “tình thằng con trẻ, duyên đứa cha già”. Khi Kiệm trở về, cha con mâu thuẫn, Kiệm bỏ đi cùng lời thề độc về danh phận như thế nào không ai biết chỉ sau hơn trăm ngày cụ Cần mất cả nhà họ bị chém trước từ đường họ Vũ vì tội mưu phản. Một cái kết bi thảm...

       Trong truyện ngắn Vật tổ có hai chi tiết là lời của thầy đồ Háo: “Thời tao loạn chữ nghĩa rẻ như cám heo, ông cho cậu ấm học nghề kiếm cái ăn, chẳng tốt hơn ư?” . Và chi tiết nữa khi Hùng Vĩnh Hằng chép miệng: “Thời buổi cơm cao gạo kém chỉ có bọn hâm mới lập thân bằng văn chương. Nhưng đại gia mà không có cái danh ấy thì được coi là đứa quê mùa có của”. Ngẫm ra khi luận về chữ nghĩa, thì đúng là chữ nghĩa thời nào cũng bị dân gian xếp sau cái ăn, cái mặc. Nhưng nếu xem chữ nghĩa là vật trang trí trong cái đầu thiếu tư duy sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, nếu không có chữ nghĩa thì làm sao cô Đào con thầy đồ Háo thông minh đang mang giọt máu của cụ Cần trốn vào Nam lúc bấy giờ thì làm gì có hậu duệ Hùng Vĩnh Hằng ngợi ca tộc họ: “Họ Vũ bây giờ con đàn cháu đống, vinh hoa phú quý không thiếu thứ gì cả. Nhưng đi đâu cũng bị chê là đồ võ biền, thật là hổ ngươi”. Vậy thì có phải cuộc sống vốn không bao giờ công bằng, nhưng nếu tư duy con người đủ nhận thức và biết trân quý giá trị việc làm mỗi người trong xã hội bổ sung cho nhau. Cho lời khẳng định của Nhân Pháp Sư: “Hùng được bổ làm quan to của bộ Công ta đấy. Thời này làm quan mà không biết lẫy Kiều, mần thơ thì đồng bọn nó khinh cho, ông ạ”. Để thấy giá trị chữ nghĩa là nhu cầu thường ngày cần phải học. Học chữ nghĩa là học nhân cách, học văn hóa ứng xử tử tế với nhau.

        Đó mới chính là giá trị chữ Trần - Vật tổ tỏa sáng trong trần đời mà vị thầy địa lí đã khẳng định: “Đừng mắng thằng bé, tội cho nó. Cái nghiên cổ này thạch quang rất mạnh, phải là người chính trực, đức trọng thì mới dùng được...”. Vậy thì chính trực, đức trọng luôn là thử thách lòng người. Cụ Cần đã quên tích đức và phùng thiện còn ham muốn cá nhân, bị thử thách từ lương tâm mình đẩy con vào trong danh, tiền dẫn đến hệ lụy cả tộc họ Vũ.

         Nếu như cái kết hình ảnh người thầy trong Cổng làng đã thành huyền thoại, tôn vinh trong nhiều cách giải khác nhau. Còn đến hài cốt Cụ Cần đã hai trăm năm trong giấc mộng của Khải nặng nề đầy ám ảnh kia. Chi tiết cách dùng từ làng “Lạc" họ Vũ, làng “An” của cô Đào, hay Vĩnh Hằng - tìm ra chút tĩnh tâm của các nhân vật cũng khó, mà Hùng Vĩnh Hằng cũng làm giàu từ chỗ nằm cho người mất. Chung quy trong cốt truyện Vật tổ để nói đến số phận bút nghiên chữ nghĩa dẫu có ẩn sâu trong lòng đất (như truyện Cổng làng) cũng được khai quật mở trí con người và có yên bình hay không cũng từ nhận thức mà ra.

        4. Bóng tùng - giữa trần không là sáng tối bằng mắt thường, hiện hữu giữa thực và mộng của nhân vật Mai Tăng trong truyện ngắn của Triều La Vỹ. Được chiếu rọi giữa cách hội thoại của các nhân vật trong tác phẩm cùng Mai Tăng.

       Đó là đằng sau số phận của một Lan Anh gánh nghĩa gánh tình đủ hiên ngang trọng trách trong câu hát: “Lao xao sóng vỗ ngọn tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vay”; Đó là đằng sau số phận một nàng Đát Kỷ ngây thơ hiền thục bị cướp xác đoạt hồn bởi lọc lừa nhơ nhớp. Là những khao khát sum vầy bình yên giữa chia lìa loạn lạc, giữa chìm nổi bể dâu.

        Hiểu và cảm thông với người cầm bút có tấm lòng nhân từ đã đủ chưa. Mà sau những ngày về hưu tìm đến cửa thiền ngỡ tịnh tâm mà sao đầy trắc ẩn buốt nhói trong mơ. Ngọn tùng đã là hình tượng tác giả của ý chí và nghị lực hiên ngang cũng chỉ đủ tác động mạnh trong cái kết vở tuồng. Còn hướng nương vào cửa Phật của một Đát Kỷ truân chuyên vướng nợ đời. Trong lời thoại diễn đầy ngậm ngùi không chốn yên thân, được hóa vào nhánh tùng nhánh bách, cũng là thử thách lòng người dẫu quăng quật cũng phải sừng sững giữa đời. Lại những kính quý đối với duyên gặp gỡ đầy cảm xúc trong hàm ơn về ân nhân là bậc đại trượng phu...

       Nếu như phần đầu truyện ngắn Bóng tùng, trong cơn đau trằn trọc của nhà vua năm Minh Mệnh thứ bảy, từ hương tùng mở ra cho vị thiền sư bước vào, nhà vua bừng tỉnh... Tìm hiểu và phát tâm bồ đề cho xây lại ngôi chùa hoang tàn của vị thiền sư đã phá thạch khai sơn, tu tập làm bạn với đôi cọp mun, hái lá làm thuốc chữa bệnh cho dân.

         Bóng tùng của Chùa Ông Núi (Linh Phong Thiền Tự) ngày ấy. Cho Mai Tăng tìm về lưu lại đầy thao thức thể qua giấc mộng dài cũng phải giã biệt trong cảm hứng bốn câu thơ, vừa dứt lời ngâm, lại bất ngờ được nghe khen hay và lặp lại hai câu cuối: “Khả ái Sơn Ông vô sở hữu/ Chỉ tương phong vũ tống quy châu”. Phải chăng tiếng lòng thành kính của Mai Tăng thấu cảm với Đại Lão Thiền Sư những trăm năm trước bước vào. Thảo hài, mộc y, trúc trượng. Tay trái cầm một nhành tùng, lá canh mơn mởn cho cuộc thoại bắt đầu từ cử chỉ thân tình, về Vạn pháp đủ duyên thì đầy, thiếu duyên thì rỗng, và làm sao kẻ sĩ mở được dạ Từ Bi, và hiểu thấu Cư trần lạc đạo (Trần Nhân Tông) thì hiện tại luôn là phút giây chuyển y màu nhiệm. Mai Tăng đã nhận ra điều “Nhớ mà không đắm. Tưởng mà không mê. Phải chăng đã là Bồ Tát”. Bóng tùng - đã đưa người đọc cảm thấu từ quan niệm “Sắc tứ thị không, không tứ thị sắc” (Bát Nhã Tâm kinh) của hiện hữu và hư vô, tùy đủ duyên giúp và cứu người từ nội tâm - trí tuệ là căn nguyên, từ bi là nhân bản. Cửa thiền hay tại gia cần hòa nhập cuộc sống. Với Mai Tăng, tâm sáng an lạc hướng những điều giản dị, chân tình đã là Phật tính của người phàm trần, đó là nét đẹp văn hóa cần lan tỏa.

           5. Bạch Cẩu kêu oan của Triều La Vỹ đưa người đọc về không gian thuở nào, từ những thiên tai mất mùa, Hoàng Thượng phải mở kho thóc cứu đói cho dân, bọn tham nhũng đông nhung nhúc, sâu dân mọt nước cũng đã được truy tìm trị tội theo luật hình phép nước. Nhân vật Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang đang xem dở một vụ tham tang mà không sao yên lòng cho cán cân minh bạch như đã từng phán quyết. Nếu không có yếu tố đan xen giữa thực và mộng. Từ nhìn thấy hình ảnh người đàn bà quê mùa mặc áo trắng, lốm đốm một hàng sọc đen hai bên hông, đang đứng bái chiếc trống như tế sao, rồi khuất dần cùng thanh âm tiếng chó tru từng hồi thê thiết. Hình ảnh Lê Ngọc Phiên cùng bên cạnh Lê Đại Cang bơi thuyền trên Hồ Tây, ngâm thơ thư giãn càng yêu thêm tấm lòng một tri âm tri kỉ sẻ chia tâm tình cho Lê Đại Cang nhận ra “Ẩn trong mỗi dòng chữ là một phận người. Người xưa bảo thế. Em là phu nhân của Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang, chàng quên rồi sao?” vừa nhắc nhở yêu thương thật giản dị mà minh triết chứa cả thế thái nhân tình. Đầy ám ảnh như hướng lần theo thanh âm ấy, để rồi “Bấc khêu lên, ánh sáng ùa ra sáng rực cả căn phòng. Ánh mắt của Cang cũng vụt sáng lên bàng hoàng khi chạm vào nét bút quen thuộc của chính mình hôm qua: Án trảm kiêu!” trong giác quan nhạy cảm dằn vặt nội tâm để khỏi án oan thì phải cẩn trọng xét xử công minh.

        Nhưng cách thể hiện rõ chủ đề Bạch Cẩu kêu oan hẳn là từ hình ảnh lặp lại thanh âm tiếng trống kêu oan vang lên dồn dập hối hả cùng hình ảnh mặc quần áo trắng, lốm đốm một hàng sọc đen hai bên hông của cậu thiếu niên cũng như lần theo thanh âm ấy tìm về thế giới tâm linh thờ Cẩu Mẫu Cẩu Nhi thời Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long trong phần kết thúc truyện. Gửi vào Bạch cẩu – linh vật niềm tin tập tục, là biểu tượng vật nuôi trung thành giữ nhà, bài trừ âm khí mà bấy lâu nay bị lãng quên trong văn hóa tín ngưỡng người Việt. Những càng quý hơn nữa răn dạy con người: “Con chê cha mẹ khó, chứ chó không chê chủ nghèo”. Dẫu thời đại công nghệ vẫn có camara ấy mà.

      6. Húi hề - tựa đề truyện ngắn dễ làm người đọc tò mò. Mà thôi, người viết há lẽ giải nghĩa từ rặt xứ nẫu, xứ nẫu nẫu thích nẫu ưa, cũng như cách đùa nhau pha tiếng địa phương mà thân tình ấm áp xoay quanh ba nhân vật: Đậu, Dự và Lân. Đậu là chú tiểu ở trong chùa - sau hoàn tục, Lân ở Huế vào chữa bệnh ấm đầu, Dự đến chùa học chữ trong không khí những ngày ở làng Kim Châu, Chợ Gò Chàm An Nhơn Bình Định thời Pháp thuộc, chuyện đi xem hát bộ, chuyện chơi bói xăm hường cầu danh, chuyện thi cử,... nhưng danh phận không có duyên, cái duyên của Đậu với cô nàng bánh ít lá gai thơm thảo lên chùa thăm Lân, mới biết Lân đã về lại Huế. Cái duyên ấy cho Đậu và Thị nên vợ nên chồng, đói khổ có nhau đã đành chỉ căm tức không chịu nổi các loại “sưu” tăng cao ập vào cả dân nghèo. Nhưng tất cả đều đồng lòng “húi hề” cho cuộc cách mạng đổi mới tư duy cắt tóc ngắn, thành một phong trào: “Húi hề, húi hề!/ Bỏ cái ngu mầy/ Bỏ cái dại mầy / Ăn ngay nói thẳng/ Học mới từ đây!?” trong đoàn biểu tình yêu cầu bỏ thuế chợ, vừa đi vừa ca như thế. Còn công việc Đậu đâu chỉ: “Mùi tóc lẫn mùi mồ hôi trên thân lược, thân kéo của làm Đậu nao nao. Đậu vui và háo hức lắm. Được làm đội trưởng đội nắm đầu thiên hạ, cắt bỏ cục ngu cho dân hóa ra cũng đầy niềm cảm khoái” mà cắt bỏ cục ngu trong nghĩa hàm ẩn không chỉ là thay đổi tập tục trước đây thời Tây Sơn là đánh ngoại xâm bảo vệ cho tóc dài răng đen, mà giờ thay đổi cái nhìn mới phù hợp văn hóa cuộc sống, gọn gàng đồng lòng không thể sống trong áp bức, bóc lột phải đấu tranh cho lẽ phải công bằng.

         Mỗi nhân vật trong Húi hề lúc đầu đều có những cảm xúc suy tư về cuộc sống và tình yêu, như Lân mà Đậu lo lắng quẻ xăm hường không danh phận gì cả, mà sau này lại đầy nhiệt huyết với hưng vong xã tắc, Lân của Đậu là vua nước Nam hiệu là Thành Thái; Như Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, từ Khánh Hòa về quê Hòa Cư chịu tang mẹ vẫn một mực đòi một anh thợ cắt tóc khéo tay, lại là người dẫn đầu cuộc biểu tình bị kết án... và đày đi Côn Đảo; Như Dự nhút nhát mà khí khái đã bị kết án... và đày biệt xứ; còn Đậu thì vào nam... trong cái kết của ông thợ già cắt tóc dạo kể lại, minh chứng sự thật của một thời dân chúng đi xin xâu giảm sưu mà hát bài ca cắt tóc mới lạ chớ. “Hay ông là cháu chắt của ông Đậu húi hề?” tiếp nối.

          7. Linh thần. Tựa đề truyện ngắn ẩn sâu trong ngôi kể thứ nhất xưng tôi. Đứa con Út trong gia đình có ba anh em mà mở đầu truyện tự giới thiệu: “Tôi là đứa đầu thừa đít thẹo. Còi cọc và mảnh mai. Nhưng ngỗ ngược và hoang đường”. Cũng không mang tính chủ quan, từ thái độ ứng xử người cha đối với hai anh Cả, anh Hai. Từ sự thật nhẹ nhàng về người mẹ đã bị mang thai trong chấp nhận, áp đặt “phép vua” quyền lực từ Thái sư, mà Ngài ngự thì... chỉ là con tốt bị đẩy vào thế qua sông không lùi lại, trước khi "tôi" cùng hai người anh xuống núi xây thành theo lệnh vua. Trong bộn bề ấy, sự thật Hoàng thượng nhường ngôi thiên tử cho Thái sư. Truyện đâu chỉ thuật lại diễn biến việc xây thành những tổn hại và mất mát lắm đau thương khi thân xác con người bị chôn vùi, mà cái chính đó là giá trị con người không được tôn trọng và bảo vệ sự sống cho chính mình. Đến đá vô tri cũng đã là nhân chứng một phần giai đoạn lịch sử thời Hồ.

              8. Ngay tựa đề Tìm trăng cho vua, thể như trò chơi cung phụng chiếm hữu sở thích mà dân phải đáp ứng. Nhưng trăng lại minh chứng cho cái đẹp tự nhiên, sự vĩnh hằng. Ánh sáng trăng và tâm hồn người giữa thực mộng, phải và trái, giữa ngày đêm, quá khứ và hiện tại,... được đan kết nhau trong chuỗi sự kiện các nhân vật: Thầy của mi, Tố Như của nàng, Cầm - Như. Khó mà gìn giữ trọn vẹn tâm hồn yêu cái đẹp của nghệ thuật thơ ca. Đâu còn là không gian và thời gian thực tại, mà đầy ám ảnh trong giấc mơ: “Đừng giết trăng. Đừng giết trăng” ngay phần mở đầu truyện. Trăng hiện hữu trong tiềm thức ảo ảnh mà cung kính gặp gỡ, không là nét chữ thánh hiền, nhưng hồn chữ nghĩa cảm hóa giải oan đó là chữ của “thầy” được trân quý, nhưng đồng thời bao xôn xao những rủi ro khó lường đến: “Thầy mi từng bảo phận văn chương như chim trong lồng, suốt ngày được chăm bẵm, nếu chẳng hót hay chuyền khéo để vừa lòng chủ thì bị vặt lông làm thịt là chuyện thường”.

         Nhưng ám ảnh tiếng con khướu đã đi vào trong giấc mơ ám ảnh: “Dọc ngang, dọc ngang. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” lỡ mà quan thái giám kia lần vạch tội khi quân của thầy. Trong lời kể chi tiết các sự kiện lồng son bỏ trống, con khướu thoát ra ngoài, dấu vết trên lưng thầy, ánh sáng trăng mà không thấy vầng trăng treo đan cài vào nhau đầy suy tư trăn trở trong hình tượng người kể diễn biến về thầy.

       Đến việc luận về văn chương thì Nàng và Tố Như thấu cảm thể tri kỉ tri âm: “Như của nàng sống khép kín, Như từng bảo trong trường lợi danh, cười vui hay nhăn mặt đều gượng gạo giả tạo, nhưng với trăng Như luôn bị lột trần trụi mọi cảm xúc... Mỗi lần Như cúi xuống cầm đàn lặng lẽ so dây... lúc thánh thoát du dương, lúc nỉ non tê tái ... đầy ắp những cung bậc của giống nòi và số phận. Nàng yêu như từ những đêm trăng ngập tiếng đàn như thế. ” Phải chăng tiếng đàn là giá trị khát vọng của Như phả vào ước mơ bên đời nghệ thuật và nhân sinh tồn tại song hành. Hay đó là cuộc đời và phận người ám ảnh tận hưởng của thể chất và tâm hồn bao câu hỏi xoay quanh: “Mi phải tìm trăng ở đâu, ở đâu? ”. Trăng tự chính lòng người tỏa sáng, không thể bất lực khi tình yêu ùa về ngọt ngào thơm mát như bầu sữa kia. Khi “thầy” cho yêu thương, nhường thuốc cho con trẻ ắt nhận về chân tình ấm áp. Trăng đã là hình tượng nghệ thuật ùa về trong tâm hồn văn nhân và cuộc sống quanh ta. Những địa danh làng Tiên Điền và giọng thầy: “Ba trăm năm nữa, có ai khóc thầy không?” đủ xác định “Những điều trông thấy” của bậc tài hoa nhân hậu vằng vặc giữa trăng “mồng mười...” mà cắt cứa đau lòng có xa...

               9. Bạch Mã – viết về người anh hùng Mai Xuân Thưởng, là một trong tám vị cử nhân thời vua Hàm Nghi ở Trường Thi Bình Định. Đâu chỉ là nét bút văn chương mà vẻ đẹp của đường quyền uy võ. Thể như lịch sử dân tộc đã chọn Mai Xuân Thưởng làm điểm tựa, hình tượng Bạch Mã không chỉ là trời trao mà kế thừa hòa trong hào khí Tây Sơn, tung vó chiến công của giai đoạn lịch sử hào hùng. Cho một điều khẳng định: “Thần Mã đã thay mặt tiền nhân gửi gắm nơi ông một niềm tin. Linh Sơn đã chọn ông làm người kế tục xứng đáng để gánh vác sứ mệnh non sông... Kiếm hoa nhẹ nhàng thanh thoát như vũ điệu của đàn công mà bén ngọt như vuốt chim ưng. Từng cánh hoa mai nhẹ như gió, nở xòe ra trắng muốt giữa trời... Đây là một tuyệt ký của Mai Hoa Kiếm pháp trong một đêm lạ lùng và hào sảng nhất của lịch sử năm Ất Dậu mà Mai Anh hùng đã dành cho hậu thế.”. Thể như truyền thuyết thời vua Hùng đã chọn người làng Gióng mà trao ngựa sắt vậy.

          10. Không đơn thuần Triều La Vỹ mở đầu truyện ngắn Vô sắc bằng những câu thoại giả định thuyết phục liên tiếp: “Nếu nghe lời ta, ngươi sẽ được vinh hoa phú quý. – Nếu nghe lời ta. – Nếu nghe lời ta ...” chung quy từ một Vô sắc tự nằm giữa lưng chừng núi... thời vua Lý Nhân Tông với nhân vật Ỷ Lan ám ảnh giữa thực và mộng xoáy vào những câu phát vấn: “Này Trú trì Thiền Sư, Ngài có biết vì sao ta chọn thời kinh trưa để làm lễ khai chung? ... , Này Thượng Dương, sao ngươi cười mỉa mai ta? ... Ngươi từ bi lắm, ha ha... Này các phi tầng đáng thương của ta, các ngươi hồ đồ lắm! ... , Hỡi Thượng Dương và các phi tần xấu số kia! ...”. Dẫu gì trên ngai vàng ấy, Ỷ Lan đã từng lưu tâm việc mở chùa tụng niệm sám hối, hay cả việc làm thay đổi cuộc sống người bần cùng; Bên cạnh những tà thuật nhập hồn hoán xác của Pháp Sư Đại Điên mê hoặc. Con người khó thoát được những dằn vặt nội tâm. Nên khi kết thúc truyện, Thái Hậu băng hà còn lưu bài kệ duy nhất hai chữ Vô Sắc, cho một bài học con người ngộ ra đã có duyên sinh thì có duyên diệt, khó mà níu kéo lại, hãy giữ tâm trong sáng nhất từ loài hoa mộc mạc, chân quê.

    11. Bối cảnh không gian truyện ngắn Đàn châu chấu ma là tiết trời khô hạn oi bức, dông dật trong gia đình “gã” dễ gì chi phối cái đói, cám dỗ vinh hoa từ tấm lòng của mẹ cha gã đã chọn tình yêu thủy chung là lẽ sống. Những thử thách đói nghèo, những đàn châu chấu ùa về phá hoại mùa màng, cha gã đã chết cũng vì đói, mẹ gã đã chết vì sự sống của gia đình. Nhưng riêng gã khi đối diện với cái đói là sự giành giật sự sống cho chính mình sau khi phải ăn những gì có thể... chi tiết và diễn biến tâm trạng cảm xúc nhân vật “gã” khi chứng kiến bộ xương người trên cổ có chiếc kiềng bạc là nhân chứng tình yêu của cha mẹ gã. Cũng như “gã” tham gia vào khởi nghĩa chống lại triều đình bấy giờ, uống máu ăn thề: “Thề có phước cùng hưởng, có họa cùng chia” cứu đói cấp thời cho dân, dưới ngọn cờ nghĩa của vua Lê cùng Quân sư họ Cao uyên thâm khí khái. Tình huống bất ngờ nhất vẫn là kẻ phản sư bán đứng vua Lê lĩnh thưởng. Trong thế thái nhân tình thì giữa đói và no, vinh và nhục thì rất cần lương tri con người sống tử tế hơn.

      12. Trò chơi. Thể cuộc truy đuổi quyền lực ngai vàng, nhường ngôi, nhưng không. Đó còn là góc nhìn nhận sự thật lịch sử của cuối triều Lê, thể như cuộc bàn giao vận mệnh đất nước cho Thượng Công nhà Tây Sơn tài cao và uy danh. Mà vua Lê nhắn gửi Hân lời tâm huyết việc đã định chọn người nâng khăn sửa túi. Trên trang truyện đầy chất lãng mạn cho tình yêu của Thượng Công và Hân chốn Lam Kinh, cũng như việc đàm đạo đầy kỉ niệm, cũng như nỗi nhớ thương khi Huệ đã mất. Thân phận con người vẫn nằm trong những bi ai khó thoát theo vần thơ còn lại và bên câu kinh tiếng kệ khôn nguôi.

       13. Rồng ngủ đất phương Nam, truyện vẫn đan xen yếu tố thần kì như mệnh trời sắp xếp, mà chính lòng người khơi sáng lương tâm luôn là sự hợp nhất hướng về chân lí. Hình ảnh Thần Kim Sơn tiêu biểu của núi sông hun đúc tạo nên đặc điểm riêng vùng miền trù phú, còn là vẻ đẹp cho sức sống hiện hữu đem lại phúc đức an vui cho dân lành. Và khơi mở bền bỉ nội lực lúc tâm tình giữa Thần và Đệ, cũng như quan hệ giữa Trần Đức Hòa, Lê Đại Lang và Đào Duy từ - Ngoại Long tiên sinh cùng quy về một mối thuận với đất trời, hợp với lòng dân. Và trên hết còn là vẻ đẹp của bậc tài hoa Đào Duy Từ từ việc thảo cơ yếu binh pháp được vạch ra gìn giữ vận mệnh đất nước, cho đến vẻ đẹp thật lãng mạn trên trang truyện bên người vợ hiền. Cũng như hòa chung tiếng đàn tiếng sáo nâng cao đời sống tinh thần há ràng buộc công danh phú quý khi phải làm kẻ tôi đòi.

           Tập truyện ngắn Bóng tùng viết về quá khứ xa xưa mà rất gần trong cảm xúc yêu thương từ góc nhìn thời cuộc, về sự hợp thành đó mai một đó. Hiện hữu giữa cuộc đời đâu là danh vọng, mà là nhân cách sống. Từ khúc hào hùng lịch sử cho cuộc dấn thân của một Mai Xuân Thưởng trong Bạch Mã (tr.135), cả phong trào chống sưu thuế thời thuộc Pháp trong Húi Hề (tr.77); Những nhân vật như Đào Duy Từ trong Rồng ngủ đất phương Nam (tr.195), Mai Tăng trong Bóng Tùng (tr.53), Thầy trong Cổng làng (tr.07), ... làm nên cốt cách tiêu biểu bậc nghĩa khí trượng phu; Một nhân vật Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang công tâm cán cân công lí biết lắng nghe tiếng lòng của dân lành, gìn giữ và duy trì tập tục văn hóa tín ngưỡng. Tất cả được miêu tả qua những sự kiện từ gia đình, làng xóm, chốn công đường, ... thể hiện tính cánh nhân vật đâu chỉ trong cảm xúc thái độ, lời thoại cân xứng trong lối văn biền ngẫu, cung bậc vai vế thân tình hòa khí, mà còn đi sâu khai thác nội tâm nhân vật lịch sử làm nên phong cách sáng tác của Triều La Vỹ là đây./.

                                                   03.02.2026 / Nguyễn Thị Phụng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét