VĂN HÓA CHỮ NGHĨA TRONG BÓNG TÙNG CỦA TRIỀU LA VỸ
Có thể tôi thích đọc truyện ngắn. Cũng không tranh luận với một ai. Bởi sau một truyện ngắn là cái tình của người sáng tác đối với văn hóa chữ nghĩa của mình. Mà tôi không lụy tình, nhưng đều quý cái tình tác giả chăm chút yêu quý nhân vật chính đã đành, còn với những nhân vật phụ thì không hề chủ quan. Đó là cách đọc bất kì truyện ngắn nào, trong đó với Bóng tùng của Nhà văn Triều La Vỹ cũng vậy. Nếu tính theo số lượng tác phẩm đã xuất bản, thì thơ nghiêng về sở trường của anh. Nếu tính từ 2020 đến nay thì chỉ có hai tập truyện ngắn, thể cán cân bị lệch. Nhưng với tôi, cái lệch không là số lượng, lại nhẹ nhàng mà bay bổng trong cách dựng truyện. Nhất là thể tài nhân vật lịch sử, cách đối chiếu tâm trạng nhân vật, cảnh sắc và con người. Mười ba truyện ngắn trong Bóng tùng mà thấp thoáng “Bóng rồng” của quyền lực, nhưng tấm lòng bề tôi, của kiên định, của dân làng là một mực của “Đất có lề, quê có thói”.
1. Có
thể vì sao tác giả sắp xếp truyện Cổng làng mở đầu tập sách trong 13 truyện
ngắn của anh. Hình ảnh Cổng làng là nhân chứng cho cuộc ra
đi trong đón tiếp của vương triều mà đôi mắt thầy đỏ hoe và trả áo mũ cân đai
của người “thầy” trở về trong lặng lẽ, sau ba mươi năm đối diện sự thật. Sự
thật về lòng hiếu học của con dân, sự miệt mài rèn nhân cách, sự thật là chữ
nghĩa không thể chôn vùi. Mà giữ cách im lặng ngày trở về “thầy” đã bọc bút nghiên trong ba lớp giấy, chôn sâu trong ba mét
đất cũng được quật lên lau chùi kĩ càng. Đó là giá trị của sự thật hiền tài là nguyên
khí của quốc gia. Người “thầy” đã
thành huyền thoại từ chi tiết thầy chạm tay vào khúc gỗ kết từ hài cốt người
học trò - từng gánh củi chất đầy sân nhà thầy, thầy không còn biện lí do nào
nữa để từ chối, đành phải trở lại dạy học - bỗng nhẹ như không... Và đã mở ra
trong cái kết nhiều thêu dệt huyền thoại một người thầy trong đời sống dân làng
trân quý vô cùng.
Đó là đằng
sau số phận của một Lan Anh gánh nghĩa gánh tình đủ hiên ngang trọng trách
trong câu hát: “Lao xao sóng vỗ ngọn
tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vay”; Đó là đằng sau số phận một nàng
Đát Kỷ ngây thơ hiền thục bị cướp xác đoạt hồn bởi lọc lừa nhơ nhớp. Là những
khao khát sum vầy bình yên giữa chia lìa loạn lạc, giữa chìm nổi bể dâu.
Nhưng cách thể hiện rõ chủ đề Bạch Cẩu kêu oan hẳn là từ hình ảnh lặp lại thanh âm tiếng trống kêu oan vang lên dồn dập hối hả cùng hình ảnh mặc quần áo trắng, lốm đốm một hàng sọc đen hai bên hông của cậu thiếu niên cũng như lần theo thanh âm ấy tìm về thế giới tâm linh thờ Cẩu Mẫu Cẩu Nhi thời Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long trong phần kết thúc truyện. Gửi vào Bạch cẩu – linh vật niềm tin tập tục, là biểu tượng vật nuôi trung thành giữ nhà, bài trừ âm khí mà bấy lâu nay bị lãng quên trong văn hóa tín ngưỡng người Việt. Những càng quý hơn nữa răn dạy con người: “Con chê cha mẹ khó, chứ chó không chê chủ nghèo”. Dẫu thời đại công nghệ vẫn có camara ấy mà.
6. Húi hề -
tựa đề truyện ngắn dễ làm người đọc tò mò. Mà thôi, người viết há lẽ giải nghĩa
từ rặt xứ nẫu, xứ nẫu nẫu thích nẫu ưa, cũng như cách đùa nhau pha tiếng địa
phương mà thân tình ấm áp xoay quanh ba nhân vật: Đậu, Dự và Lân. Đậu là chú
tiểu ở trong chùa - sau hoàn tục, Lân ở Huế vào chữa bệnh ấm đầu, Dự đến chùa
học chữ trong không khí những ngày ở làng Kim Châu, Chợ Gò Chàm An Nhơn Bình
Định thời Pháp thuộc, chuyện đi xem hát bộ, chuyện chơi bói xăm hường cầu danh,
chuyện thi cử,... nhưng danh phận không có duyên, cái duyên của Đậu với cô nàng
bánh ít lá gai thơm thảo lên chùa thăm Lân, mới biết Lân đã về lại Huế. Cái
duyên ấy cho Đậu và Thị nên vợ nên chồng, đói khổ có nhau đã đành chỉ căm tức
không chịu nổi các loại “sưu” tăng cao ập vào cả dân nghèo. Nhưng tất cả đều
đồng lòng “húi hề” cho cuộc cách mạng đổi mới tư duy cắt tóc ngắn, thành một
phong trào: “Húi hề, húi hề!/ Bỏ cái ngu
mầy/ Bỏ cái dại mầy / Ăn ngay nói thẳng/ Học mới từ đây!?” trong đoàn biểu
tình yêu cầu bỏ thuế chợ, vừa đi vừa ca như thế. Còn công việc Đậu đâu chỉ: “Mùi tóc lẫn mùi mồ hôi trên thân lược, thân
kéo của làm Đậu nao nao. Đậu vui và háo hức lắm. Được làm đội trưởng đội nắm
đầu thiên hạ, cắt bỏ cục ngu cho dân hóa ra cũng đầy niềm cảm khoái” mà cắt
bỏ cục ngu trong nghĩa hàm ẩn không chỉ là thay đổi tập tục trước đây thời Tây
Sơn là đánh ngoại xâm bảo vệ cho tóc dài răng đen, mà giờ thay đổi cái nhìn mới
phù hợp văn hóa cuộc sống, gọn gàng đồng lòng không thể sống trong áp bức, bóc
lột phải đấu tranh cho lẽ phải công bằng.
Mỗi nhân
vật trong Húi hề lúc đầu đều có
những cảm xúc suy tư về cuộc sống và tình yêu, như Lân mà Đậu lo lắng quẻ xăm
hường không danh phận gì cả, mà sau này lại đầy nhiệt huyết với hưng vong xã
tắc, Lân của Đậu là vua nước Nam hiệu là Thành Thái; Như Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, từ
Khánh Hòa về quê Hòa Cư chịu tang mẹ vẫn một mực đòi một anh thợ cắt tóc khéo
tay, lại là người dẫn đầu cuộc biểu tình bị kết án... và đày đi Côn Đảo; Như Dự
nhút nhát mà khí khái đã bị kết án... và đày biệt xứ; còn Đậu thì vào nam...
trong cái kết của ông thợ già cắt tóc dạo kể lại, minh chứng sự thật của một thời
dân chúng đi xin xâu giảm sưu mà hát bài ca cắt tóc mới lạ chớ. “Hay ông là cháu chắt của ông Đậu húi hề?”
tiếp nối.
7. Linh thần. Tựa đề truyện ngắn ẩn sâu trong ngôi kể thứ nhất xưng tôi. Đứa con Út trong gia đình có ba anh em mà mở đầu truyện tự giới thiệu: “Tôi là đứa đầu thừa đít thẹo. Còi cọc và mảnh mai. Nhưng ngỗ ngược và hoang đường”. Cũng không mang tính chủ quan, từ thái độ ứng xử người cha đối với hai anh Cả, anh Hai. Từ sự thật nhẹ nhàng về người mẹ đã bị mang thai trong chấp nhận, áp đặt “phép vua” quyền lực từ Thái sư, mà Ngài ngự thì... chỉ là con tốt bị đẩy vào thế qua sông không lùi lại, trước khi "tôi" cùng hai người anh xuống núi xây thành theo lệnh vua. Trong bộn bề ấy, sự thật Hoàng thượng nhường ngôi thiên tử cho Thái sư. Truyện đâu chỉ thuật lại diễn biến việc xây thành những tổn hại và mất mát lắm đau thương khi thân xác con người bị chôn vùi, mà cái chính đó là giá trị con người không được tôn trọng và bảo vệ sự sống cho chính mình. Đến đá vô tri cũng đã là nhân chứng một phần giai đoạn lịch sử thời Hồ.
8. Ngay tựa đề Tìm trăng cho vua, thể như trò chơi cung phụng chiếm hữu sở thích mà dân phải đáp ứng. Nhưng trăng lại minh chứng cho cái đẹp tự nhiên, sự vĩnh hằng. Ánh sáng trăng và tâm hồn người giữa thực mộng, phải và trái, giữa ngày đêm, quá khứ và hiện tại,... được đan kết nhau trong chuỗi sự kiện các nhân vật: Thầy của mi, Tố Như của nàng, Cầm - Như. Khó mà gìn giữ trọn vẹn tâm hồn yêu cái đẹp của nghệ thuật thơ ca. Đâu còn là không gian và thời gian thực tại, mà đầy ám ảnh trong giấc mơ: “Đừng giết trăng. Đừng giết trăng” ngay phần mở đầu truyện. Trăng hiện hữu trong tiềm thức ảo ảnh mà cung kính gặp gỡ, không là nét chữ thánh hiền, nhưng hồn chữ nghĩa cảm hóa giải oan đó là chữ của “thầy” được trân quý, nhưng đồng thời bao xôn xao những rủi ro khó lường đến: “Thầy mi từng bảo phận văn chương như chim trong lồng, suốt ngày được chăm bẵm, nếu chẳng hót hay chuyền khéo để vừa lòng chủ thì bị vặt lông làm thịt là chuyện thường”.
Nhưng ám ảnh
tiếng con khướu đã đi vào trong giấc mơ ám ảnh: “Dọc ngang, dọc ngang. Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” lỡ mà quan
thái giám kia lần vạch tội khi quân của thầy. Trong lời kể chi tiết các sự kiện
lồng son bỏ trống, con khướu thoát ra ngoài, dấu vết trên lưng thầy, ánh sáng trăng
mà không thấy vầng trăng treo đan cài vào nhau đầy suy tư trăn trở trong hình tượng
người kể diễn biến về thầy.
Đến việc luận về văn chương thì Nàng và Tố Như
thấu cảm thể tri kỉ tri âm: “Như của nàng
sống khép kín, Như từng bảo trong trường lợi danh, cười vui hay nhăn mặt đều gượng
gạo giả tạo, nhưng với trăng Như luôn bị lột trần trụi mọi cảm xúc... Mỗi lần Như
cúi xuống cầm đàn lặng lẽ so dây... lúc thánh thoát du dương, lúc nỉ non tê tái
... đầy ắp những cung bậc của giống nòi và số phận. Nàng yêu như từ những đêm trăng
ngập tiếng đàn như thế. ” Phải chăng tiếng đàn là giá trị khát vọng của Như
phả vào ước mơ bên đời nghệ thuật và nhân sinh tồn tại song hành. Hay đó là cuộc
đời và phận người ám ảnh tận hưởng của thể chất và tâm hồn bao câu hỏi xoay quanh:
“Mi phải tìm trăng ở đâu, ở đâu? ”. Trăng
tự chính lòng người tỏa sáng, không thể bất lực khi tình yêu ùa về ngọt ngào thơm
mát như bầu sữa kia. Khi “thầy” cho yêu thương, nhường thuốc cho con trẻ ắt nhận
về chân tình ấm áp. Trăng đã là hình tượng nghệ thuật ùa về trong tâm hồn văn nhân
và cuộc sống quanh ta. Những địa danh làng Tiên Điền và giọng thầy: “Ba trăm năm nữa, có ai khóc thầy không?”
đủ xác định “Những điều trông thấy” của
bậc tài hoa nhân hậu vằng vặc giữa trăng “mồng mười...” mà cắt cứa đau lòng có xa...
10. Không đơn thuần Triều La Vỹ mở đầu
truyện ngắn Vô sắc bằng những câu thoại giả định thuyết phục liên tiếp: “Nếu nghe lời ta, ngươi sẽ được vinh hoa phú
quý. – Nếu nghe lời ta. – Nếu nghe lời ta ...” chung quy từ một Vô sắc tự
nằm giữa lưng chừng núi... thời vua Lý Nhân Tông với nhân vật Ỷ Lan ám ảnh giữa
thực và mộng xoáy vào những câu phát vấn: “Này
Trú trì Thiền Sư, Ngài có biết vì sao ta chọn thời kinh trưa để làm lễ khai
chung? ... , Này Thượng Dương, sao ngươi cười mỉa mai ta? ... Ngươi từ bi lắm,
ha ha... Này các phi tầng đáng thương của ta, các ngươi hồ đồ lắm! ... , Hỡi
Thượng Dương và các phi tần xấu số kia! ...”. Dẫu gì trên ngai vàng ấy, Ỷ
Lan đã từng lưu tâm việc mở chùa tụng niệm sám hối, hay cả việc làm thay đổi
cuộc sống người bần cùng; Bên cạnh những tà thuật nhập hồn hoán xác của Pháp Sư
Đại Điên mê hoặc. Con người khó thoát được những dằn vặt nội tâm. Nên khi kết
thúc truyện, Thái Hậu băng hà còn lưu bài kệ duy nhất hai chữ Vô Sắc, cho một
bài học con người ngộ ra đã có duyên sinh thì có duyên diệt, khó mà níu kéo lại, hãy giữ tâm trong
sáng nhất từ loài hoa mộc mạc, chân quê.
11. Bối cảnh không
gian truyện ngắn Đàn châu chấu ma là tiết trời khô hạn oi bức, dông dật trong gia
đình “gã” dễ gì chi phối cái đói, cám dỗ vinh hoa từ tấm lòng của mẹ cha gã đã chọn
tình yêu thủy chung là lẽ sống. Những thử thách đói nghèo, những đàn châu chấu ùa
về phá hoại mùa màng, cha gã đã chết cũng vì đói, mẹ gã đã chết vì sự sống của gia
đình. Nhưng riêng gã khi đối diện với cái đói là sự giành giật sự sống cho chính
mình sau khi phải ăn những gì có thể... chi tiết và diễn biến tâm trạng cảm xúc
nhân vật “gã” khi chứng kiến bộ xương người trên cổ có chiếc kiềng bạc là nhân chứng
tình yêu của cha mẹ gã. Cũng như “gã” tham gia vào khởi nghĩa chống lại triều đình
bấy giờ, uống máu ăn thề: “Thề có phước cùng
hưởng, có họa cùng chia” cứu đói cấp thời cho dân, dưới ngọn cờ nghĩa của vua
Lê cùng Quân sư họ Cao uyên thâm khí khái. Tình huống bất ngờ nhất vẫn là kẻ phản
sư bán đứng vua Lê lĩnh thưởng. Trong thế thái nhân tình thì giữa đói và no, vinh
và nhục thì rất cần lương tri con người sống tử tế hơn.
12. Trò chơi.
Thể cuộc truy đuổi quyền lực ngai vàng, nhường ngôi, nhưng không. Đó còn là góc
nhìn nhận sự thật lịch sử của cuối triều Lê, thể như cuộc bàn giao vận mệnh đất
nước cho Thượng Công nhà Tây Sơn tài cao và uy danh. Mà vua Lê nhắn gửi Hân lời
tâm huyết việc đã định chọn người nâng khăn sửa túi. Trên trang truyện đầy chất
lãng mạn cho tình yêu của Thượng Công và Hân chốn Lam Kinh, cũng như việc đàm đạo
đầy kỉ niệm, cũng như nỗi nhớ thương khi Huệ đã mất. Thân phận con người vẫn nằm
trong những bi ai khó thoát theo vần thơ còn lại và bên câu kinh tiếng kệ khôn nguôi.
13. Rồng ngủ đất phương Nam, truyện vẫn đan xen yếu tố thần kì như mệnh trời sắp xếp, mà chính lòng người khơi sáng lương tâm luôn là sự hợp nhất hướng về chân lí. Hình ảnh Thần Kim Sơn tiêu biểu của núi sông hun đúc tạo nên đặc điểm riêng vùng miền trù phú, còn là vẻ đẹp cho sức sống hiện hữu đem lại phúc đức an vui cho dân lành. Và khơi mở bền bỉ nội lực lúc tâm tình giữa Thần và Đệ, cũng như quan hệ giữa Trần Đức Hòa, Lê Đại Lang và Đào Duy từ - Ngoại Long tiên sinh cùng quy về một mối thuận với đất trời, hợp với lòng dân. Và trên hết còn là vẻ đẹp của bậc tài hoa Đào Duy Từ từ việc thảo cơ yếu binh pháp được vạch ra gìn giữ vận mệnh đất nước, cho đến vẻ đẹp thật lãng mạn trên trang truyện bên người vợ hiền. Cũng như hòa chung tiếng đàn tiếng sáo nâng cao đời sống tinh thần há ràng buộc công danh phú quý khi phải làm kẻ tôi đòi.
Tập truyện ngắn Bóng tùng viết về quá khứ xa xưa mà rất gần trong cảm xúc yêu thương từ góc nhìn thời cuộc, về sự hợp thành đó mai một đó. Hiện hữu giữa cuộc đời đâu là danh vọng, mà là nhân cách sống. Từ khúc hào hùng lịch sử cho cuộc dấn thân của một Mai Xuân Thưởng trong Bạch Mã (tr.135), cả phong trào chống sưu thuế thời thuộc Pháp trong Húi Hề (tr.77); Những nhân vật như Đào Duy Từ trong Rồng ngủ đất phương Nam (tr.195), Mai Tăng trong Bóng Tùng (tr.53), Thầy trong Cổng làng (tr.07), ... làm nên cốt cách tiêu biểu bậc nghĩa khí trượng phu; Một nhân vật Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang công tâm cán cân công lí biết lắng nghe tiếng lòng của dân lành, gìn giữ và duy trì tập tục văn hóa tín ngưỡng. Tất cả được miêu tả qua những sự kiện từ gia đình, làng xóm, chốn công đường, ... thể hiện tính cánh nhân vật đâu chỉ trong cảm xúc thái độ, lời thoại cân xứng trong lối văn biền ngẫu, cung bậc vai vế thân tình hòa khí, mà còn đi sâu khai thác nội tâm nhân vật lịch sử làm nên phong cách sáng tác của Triều La Vỹ là đây./.
03.02.2026 / Nguyễn Thị Phụng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét