Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

TRONG TÌNH YÊU XỨ NẪU (Đọc Men trầm -của Vân Phi), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

TRONG TÌNH YÊU XỨ NẪU

     (Đọc Men trầm - NXB.Văn học 2025, bút kí của Vân Phi).

        Nói đến Vân Phi, ngoài các tập thơ đã xuất bản như Ngày mắc cạn(2020), Gốm lưu lạc(2024), hay rất nhiều  bài viết cảm nhận tác phẩm in trên báo và tạp chí, mà sở trường của Nhà báo, Nhà thơ Vân Phi còn là hành trình vác ba-lô lên vai, đi tìm các cái đẹp của người xứ nẫu, theo từng địa chỉ chính xác về văn hóa vùng miền thân thương, để rôi gom lại và ra mắt  bạn đọc tập sách Men trầm (NXB.Văn học 2025) gồm 20 bài bút kí, là thể loại văn học mang đậm nét đặc điểm của dân tộc về sự bảo tồn văn hóa cần duy trì và kết nối mà anh đã sẻ chia: “Cuốn sách này là kí ức tôi, tình yêu tôi, quê hương tôi, của quãng dài mười năm rong ruổi...

          Trong cách rong ruổi ấy, có thể nói bút kí “Sắc xanh phía biển...” là nơi cuốn hút tầm nhìn đầy thi vị và an tâm hơn của đoàn anh em văn nghệ sĩ “trong hải trình dọc biển sáu tỉnh miền Trung từ Bình Định đến Quảng Trị”. Lại càng thêm tin yêu “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân” và cũng như những câu nói vui: “Hôm nay, ai... nhảy tàu nữa không?”. “Nhảy tàu” ở đây nghĩa là chúng tôi xuống xuồng với đoàn kiểm tra liên ngành di chuyển sang tàu ngư dân để tác nghiệp... tiếp cận ngư dân giữa biển, làm giàu kho tư liệu của mình...”

         Và thực tế của kho tư liệu viết bút kí là tái hiện người thật việc thật mà Vân Phi trân quý từ tấm lòng những người phụ nữ. Như  “Mẹ Thiện ở cồn Chim”, bà Mẹ Việt Nam anh hùng lặng lẽ chăm cháu, được Phòng Giáo dục Tuy Phước phụng dưỡng Mẹ. Như “Võ sư Năm Hạnh: đau đáu nghiệp truyền...” viết về Lâm Thị Hồng Hạnh - tên thường gọi Cô Năm, con gái võ sư trứ danh một thời Lâm Đại Phú, tha thiết về hành trình lưu giữ và phát huy võ cổ truyền còn lắm gian nan. Về những đôi tay cần mẫn của các chị làm ra đặc sản bún Song thằn ở An Thái, bánh tráng Trường Cửu ở Nhơn Lộc,...

         Việc bảo tồn và duy trì phát triển văn hóa nghệ thuật dân gian như bút kí: “Vọng tiếng trống tuồng” trong náo nức của khán giả: “Đêm nay, thêm đặc biệt khi nhà hát diễn lại vở Viên ngọc quý. Được biết lần này có hai Nghệ sĩ Nhân dân của nhà hát thủ vai, nên bà con càng phấn khởi, cứ ngong ngóng đến đêm diễn để xem cho thỏa gan, thỏa ruột.” Rồi cho đến sử thi: “Hơ’mon, một khoảng lặng dài” Còn những nhạc cụ như: “Trên từng nhịp gõ t’rưng...”, và thanh âm: “Khắc khoải đàn goòng” ở miền núi Vĩnh Thạnh, thể như đánh thức người nghe tiếng vọng của suối ngàn nhắc nhở.

         Vân Phi vẫn dành hai bài viết ưu ái về hai nghệ sĩ đam mê nghệ thuật không thể lãng quên. Đó là: “Lê Ân – kẻ rong chơi đáng yêu” và “ Nghêu ngao một gã du ca” về niềm đam mê âm nhạc của Diệp Chí Huy.

         Nhưng đặc sắc hơn cách bộc bạch chân chất rất riêng “men trầm” không thể chối từ: “Tôi mê tiểu thuyết Kim Dung trước khi mê...  rượu. Mà có lẽ một phần vì thích đọc Kim Dung mà tôi thích rượu nhiều hơn, bởi lối dẫn của những cuộc rượu sảng khoái, phiêu khoáng của những ngạo khí giang hồ” (Thơm thơm từng giọt men nồng). Và vì thế mà lôi cuốn người đọc thể như những làng mai vàng ở Háo Đức An Nhơn “Xuân sớm ở làng mai”, sắc cúc ngày tháng chạp hối hả “Dọc miền hoa cúc”. Những vất vả trong mùa lụt bão như “Nơi lũ đi qua” đầy ám ảnh...

         Với tựa đề tập Men Trầm, đã tạo nên tính xác thực từng nét trong văn hóa sinh hoạt người dân xứ nẫu từ địa danh võ thuật: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, hay đan xen những câu bài chòi ngọt lịm: “Đất Vĩnh Cửu quê hương ta đó/ bánh mỏng đây rượu cũng là đây/ Rượu ngon bọt dẻo tràn đầy/ Rượu ta đi khắp tỉnh này tỉnh kia”.

           Để rồi trở về với vùng đất “Gò Sành” dấu ấn kỉ niệm quê nhà Nhơn Hòa An Nhơn, mà còn là địa danh quen thuộc của giới khảo cổ về sản phẩm gốm Chăm lâu đời, và hôm nay lại tiếp tục vần thơ: “Gốm lưu lạc/ mang dòng nước xứ Đồ Bàn/ mang ngọn lửa đất trời Chiêm tự/ mang dáng dấp người xưa sau lũy tre làng/ vùi mình hun hút biển sâu/ cô đơn nơi bảo tàng ngoại quốc”.

          Phải chăng “Men trầm” – là bút kí đậm chất thơ, đủ độ say lòng người những hưng phấn mới mẻ, tinh khôi về vùng đất An Nhơn, Tuy Phước, Vĩnh Thạnh,... của xứ võ trời văn. Xứ võ đã tự hào, còn trời văn đâu chỉ là sáng tác, cả ghi chép chọn lọc từ một nhà báo, hòa tiếng lòng nhà thơ làm nên phong cách bút kí rất Vân Phi, từ thực tại mà như ngược về nguồn cội cả một trời văn – văn hóa nghệ thuật từ cuộc mưu sinh mà có, càng thêm yêu vẻ đẹp con người chân chất, giàu đức hi sinh bền bỉ, biết trân quý đời sống văn hóa vốn có lâu đời, cần bảo tồn và lan tỏa phát triển vươn xa./.

                                                                             30.11.2025.

MÙA THƠ LAN TỎA (Đọc Nối dài thêm bóng tháp- Tuệ Mỹ), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

MÙA THƠ LAN TỎA

(Đọc Nối dài thêm bóng tháp, tập Phê bình thơ của Tuệ Mỹ, NXB. Thuận Hóa – 2025).

          Hành trình cây bút đi tìm cái đẹp trong ngôn ngữ thơ là vô cùng gan dạ. Và không thể sánh với đôi chân các nhà thám hiểm trên thế giới, nhẫn nại trong thất thường tự nhiên xoay vần mưa nắng. Đó là sự khác biệt của sự lặng lẽ trên bàn viết đã gieo một Mùa thơ lan tỏa, là cầu nối văn chương giữa người sáng tác thơ đến người tiếp nhận là bạn đọc. Tuệ Mỹ đã làm được việc ấy, chị mạnh dạn sẻ chia: “Thơ tựa tòa tháp ngà ẩn hiện giữa đời sống vừa kiêu sa vừa huyền bí...”. Trong ví von ấy thì bóng tháp há hiện hữu ở kích thước mà cách Nối dài thêm bóng tháp (Nhà xuất bản Thuận Hóa - 2025) tập phê bình thơ thứ hai của Tuệ Mỹ sau tập Nẻo về tinh khôi (2020), là thử thách lớn của người bình thơ từ khuôn mẫu nhà giáo dạy văn đến phê bình văn học. Tuệ Mỹ vẫn đang trong hành trình ấy.

           Tập Nối dài thêm bóng tháp, với 320 trang. Có 38 bài thơ với nhiều thể loại khác nhau ở phần trước Thắp Nụ, tiếp theo là cảm nhận về 12 tập thơ gom lại cho phần sau là Bóng Tháp, tác giả là những nhà thơ trong và ngoài nước. Điều đó, ở Tuệ Mỹ luôn là sự cân nhắc kĩ càng để đưa vào tập bình thơ thứ hai của mình.

           Nếu như ở chủ đề thứ nhất là Thắp Nụ, rất hiếm những bài thơ ngắn ba câu như Tháng giêng của Mai Văn Phấn, lại có những bài thơ tự do nhiều khổ thơ như Đêm xa quê của Phạm Ánh, Linh hồn phấn trắng của Lê Từ Hiển, Gió thiếu phụ của Trần Quang Khanh, Bài văn xuôi về tiếng đàn đá của Nguyễn Nho Khiêm, Móng Rồng của Mạc Phong Tuyền, ... Đã là thơ, mặc định thể tự do dài hay ngắn, thì Tuệ Mỹ vẫn mực thước khai thác phía sau ngôn từ trong mỗi tứ thơ của người sáng tác, nâng cao giá trị thẩm mĩ, đậm chất nhân sinh.

           Có những bài thơ, Tuệ Mỹ nhập đề trực tiếp đầy bất ngờ, cũng là dụng ý làm rõ nét đặc điểm riêng không lẫn lộn, từ góc nhìn của người bình, muốn lí giải ở phần tiếp theo đem đến thú vị cho người tiếp nhận. Chẳng hạn giới thiệu tên tác phẩm: “Ngay tiêu đề Gió thiếu phụ, Trần Quang Khanh đã ngầm gợi ý cho người đọc cách bước vào không gian bài thơ...”(tr.54). Thêm một cách viết nữa: “Đọc bài thơ Mùi mưa của Lâm Huy Nhuận, tôi rất thích cách cảm nhận mưa của ông” (tr.36). Hay: “Ổ khóa của Nguyễn Quang Thiều là bài thơ đậm màu triết lý nhân sinh.” (tr.14).

       Còn khi giới thiệu phong cách sáng tác của tác giả như: “Mai Văn Phấn là nhà thơ cách tân mạnh mẽ, thơ ông đầy lý trí, đầy khái quát và khó đọc” (tr.10); cho đến chân dung gốc gác nhà thơ xứ nẫu như: “Trần Viết Dũng là người con của miền đất Tây Sơn, Bình Định, làm thơ từ thuở học trò mà đến nay, anh chỉ mới cho ra mắt bạn đọc một tập thơ “Lãng đãng giữa đời” (Nxb Trẻ, 1992). Tưởng anh đã quên mất thơ. Nhưng không “nghiệp thi sĩ” buộc anh cứ tiếp tục cho thơ chào đời...”(tr.48).

         Thơ, là tác phẩm văn học mang tính cốt lõi sáng tạo bằng ngôn ngữ của thi nhân. Điểm lại những bài thơ trong Nối dài thêm bóng tháp được kết tinh từ nhịp đập trái tim khôn cùng, tinh túy nhất ưu việt nhất làm nên sản phẩm văn hóa tinh thần. Hẳn hồn cốt mỗi tứ thơ đã thôi miên Tuệ Mỹ, vừa tái hiện lại cảm xúc của thi nhân, lại vừa chắp cánh nâng cao trường liên tưởng mỗi ý mỗi từ. Từ hiện hữu đến hư vô, từ bộc trực đến chiêm nghiệm, ... mà đường chân trời là trung gian giao thoa, ràng buộc giữa sáng tác và phê bình: “Nhạc điệu là yếu tố truyền cảm xúc được tác giả gia công. Nên, đọc bài thơ mà tưởng như nghe tiếng nhạc lòng của thi sĩ cất lên từ  niềm say mê cuộc sống, từ nỗi khát khao dâng hiến cho đời...” (Mở khóa giấc mơ tôi).

          Chung quy, việc sáng tác đối với thi nhân dù là thơ trữ tình, hay thơ tự sự, hay sự đan xen giữa hai yếu tố trữ tình và tự sự, sức mạnh của thơ chính là âm hưởng nhạc điệu dễ dàng hòa nhịp trái tim của người bình thơ.  

          Từ tập Nẻo về tinh khôi (2020) đầu tay, Tuệ mỹ dành riêng cho việc bình thơ. Thì trong Nối dài thêm bóng tháp (2025) này lại có 12 tiểu luận phê bình mang tính khái quát toàn tập thơ, đời thơ của thi nhân. Đó là giá trị về nghệ thuật về nhân sinh của một phong cách sáng tác trong mỗi thời điểm khác nhau.

         Trên cùng phương diện tiếp nhận tác phẩm văn học, luôn là sự suy ngẫm đa chiều. Sự nắm bắt theo chủ đề dễ dàng nhận ra điều muốn nói, khó tản mạn. Đôi khi một bài thơ hay từ từng chữ, từng câu và cả tứ thơ, cứ để nguyên vậy mà thưởng thức. Đôi khi một bài thơ đọc nhiều lần mà chưa thấu được, lại nhờ vào nhà phê bình đối chiếu, mở rộng nâng lên giá trị tác phẩm. Cả tập thơ cũng vậy. Cho cách mở đầu giới thiệu dễ dàng cuốn hút bạn đọc bằng cách trích những câu thơ của tác giả, như: “Kìa cái bình toong/ trong cuốn sách về cuộc chiến(...) cái bình/ bỏng rát từng cuống họng/ vét cạn những dòng sông/ đựng đầy ký ức”(Sắc đỏ trong “Tạ lỗi với mây xanh” của Mai Thìn), hay đưa cả bài thơ tứ tuyệt: “Với nghìn trùng: những ngày xưa cũ bên nhau/ thương nhau nào biết mai sau sẽ buồn/ người về mưa vỡ đầu truông/ trăng trong vườn lạnh biết buồn nhau xa” (Buồn xưa). Đó cũng tùy theo từng chủ đề tập thơ mà Tuệ Mỹ muốn nhấn mạnh đến với người tiếp nhận.

          Cũng không đơn điệu trực tiếp giới thiệu tên tác giả, tác phẩm ngay phần câu mở đầu. Riêng bài viết: Hình ảnh người mẹ trong thơ Lệ Thu (tr.242) là góc nhìn của Tuệ Mỹ về người mẹ trong chiến tranh phải xa con, hay khi con trưởng thành, cách tâm tình cùng con trên trang thơ, thể giải tỏa cảm xúc của người mẹ. Từ nỗi nhớ, lo lắng của người mẹ đã thành huyền thoại: “Vậy là, từ trữ tình đời tư, Lệ Thu đã chuyển sang trữ tình công dân. Từ hành động anh hùng của người sinh  mình ra, Lệ Thu đã chạm bút về những người mẹ Việt Nam anh hùng. Và, “Với mẹ anh hùng” thì “Nghe trong sâu thẳm mất – còn ... / Trái tim mẹ với nước non cõi bờ ...”(tr. 245).

           Với nhà phê bình, thì mọi thể tài nào từ đời tư tới lịch sử đều có ý nghĩa lớn gắn liền với tình yêu cuộc sống, gắn liền dân tộc đất nước. Với Tuệ Mỹ, Nối dài thêm bóng tháp dẫu là tựa đề tập bình thơ, đã là hình tượng nghệ thuật khai thác cái đẹp nhân sinh của ngôn ngữ thơ, không thể là chủ quan, nhưng đó còn là trách nhiệm tự lương tâm cần và phải của người viết phê bình cho Mùa thơ lan tỏa./.                

                                                   03.12.2025 / Nguyễn Thị Phụng.

 

 

 

HÒA PHÍM THƠ NGÂN, (Đọc Mở phím thơ của Lê Bá Duy), bài viết của Nguyễn Thị Phụng

 

                          HÒA PHÍM THƠ NGÂN

(Đọc Mở phím thơ, Nhà xuất bản Văn học 2025, tập Tiểu luận – phê bình của Lê Bá Duy)

       Từ vẻ đẹp bức tranh ca dao cũng chỉ là cái cớ trao duyên: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi! ”. Ánh trăng vàng... diệu kì đã kịp đón nhận theo nhịp tim cùng thi nhân, làm ra hạt vàng câu chữ, thành những tứ thơ hay. Có lẽ không ai xa lạ đã Hòa phím thơ ngân trong mỗi tác phẩm và ra mắt bạn đọc tập sách: Mở phím thơ (Nhà xuất bản Văn học 2025) là tập tiểu luận phê bình thứ hai của Lê Bá Duy, sau Đồng cảm văn chương (2013).

           Mở phím thơ là tác phẩm được Hội đồng Lý luận Trung ương hỗ trợ kinh phí. Hẳn là niềm vui không riêng gì tác giả, đủ khẳng định thầy giáo, nhà thơ Lê Bá Duy còn chuyên tâm lĩnh vực viết tiểu luận phê bình thơ đầy trách nhiệm như thế nào.

           Với 45 bài viết trong khuôn khổ 300 trang sách,  Mở phím thơ của Lê Bá Duy ra là cách cảm nhận chân tình ở mỗi tác phẩm. Ai bảo thơ trừu tượng. Xin thưa không. Thơ đã đi vào đời sống sẻ chia mọi lúc mọi nơi. Có thể mang tính thời sự - thơ tự sự nhưng lại vĩnh cửu; Có thể sẻ chia tâm hồn - thơ trữ tình; Có tự sự kết hợp với trữ tình. Những yếu tố ấy đủ thử thách cho người viết phê bình dù là một bài thơ, hay bao quát cả một tập thơ.

          Chẳng hạn ở bài viết “Nhớ về anh” (tr.21) là nhớ về Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, bài thơ tạc bức tranh người lính trong tư thế chiến đấu, mang tính thời sự nhưng lại vĩnh cửu: “Chiến tranh đã lùi xa... , nhưng trong trái tim tôi, cái Dáng đứng Việt Nam không chỉ tạc vào thế kỷ XX mà “cái dáng đứng ấy” sẽ mãi mãi tạc vào trái tim của cả dân tộc anh hùng...”. Tiếp đến bài: “Thông điệp xanh của cha” (tr.71) là bài thơ Một khúc hát ru của Vĩnh Tuy, kết hợp yếu tố trữ tình và tự sự thể lời khuyên nhắc nhở, Lê Bá Duy luận ra: “Hy vọng “Một khúc hát ru” không chỉ của anh, của tôi mà là của hàng triệu triệu người cha dặn con khi bước vào đời.” Chừng mực nhất bài bình: “Chút hành trang gom góp tự xuân thì” từ bài Hành trang của Lệ Thu thuộc thơ trữ tình chiêm nghiệm, trăn trở từ cách giới thiệu: “Hành trang” – bài thơ cứ ám ảnh tôi suốt cả tháng trời... Cái “ám ảnh” nóng bỏng nhất đêm nay mà tôi đọc lại bài thơ của chị là ngọn lửa âm ỉ bấy lâu đã bùng lên, nhảy múa theo từng con chữ... khiến tôi không thể không ngồi vào máy viết những dòng đồng cảm này.”

          So với toàn tập chỉ có ba bài bình thơ được đan xen như điểm nhấn trên dòng thời gian cần lưu trữ, nhắc nhở đâu thể nào quên được sự dấn thân của thế hệ đi trước, của dặn dò yêu thương từ trong gia đình, cho đến gửi gắm quan niệm sống tích cực hơn trong xã hội. Lối bình tác phẩm văn học của Lê Bá Duy không thiên về giải nghĩa từ, chỉ mang tính cảm thụ sẻ chia cũng là một cách trân quý tác phẩm.

         Tiếp nối Mở phím thơ, còn có hai bài tiểu luận nhận định diện mạo văn chương trên một Tạp chí Văn nghệ An Nhơn (tr.74) trưởng thành tiếp nối của vùng đất Bàn thành Tứ hữu. Đến “Bước đầu tìm hiểu 50 năm thơ Bình Định ”(tr.247) đầy công phu mà rất khiêm tốn: “Với kiến thức và sự tập hợp thống kê có hạn nên bài viết sẽ không tránh khỏi thiếu sót mong bạn đọc thông cảm” cho phần kết bài.

         Vậy thì, hành trình Mở phím thơ của Lê Bá Duy bị cuốn hút bởi những tập thơ đương đại của các nhà thơ trong và ngoài nước. Anh là người sáng tác thơ, yêu thơ. Đã có thi sĩ từng “Đắm đuối nửa tờ thơ” như Đặng Quốc Khánh, thì “Lê Bá Duy đúng là, như tôi nghĩ, người tương tư... thơ thứ thiệt. Ông viết say sưa, nồng nàn, không rào đón, trực chỉ đến mục đích nói cho được hết ý, hết tình với thơ và bạn thơ.” (Tiếp cận thơ từ... thơ – Nhà phê bình Bùi Việt Thắng). Thật đúng vậy. Việc đón nhận tác phẩm để Mở phím thơ không một sự trùng lặp, khuôn mẫu nào, trong cùng biên độ đề tài rộng, nhưng từng chủ đề khác nhau và từ đó nói cho hết cái tình, cái ý với bạn thơ khi đã chạm vào mỗi tứ thơ trên trang sách.

        Mở phím thơ với bài viết Những giấc mơ trong ký ức của “ Linh giác trắng” (tr.152) với cách liệt kê: “Đặc biệt chỉ trong một bài thơ “Linh giác trắng” hình ảnh chiêm bao được nhắc đến chín lần... giấc mơ tình yêu lạ lùng, giấc mơ nỗi đau thân xác, giấc mơ cuộc sống đói nghèo, tê liệt bán cầu não trái của những người đàn ông, giấc mơ về quy luật diệt vong tất yếu cả một triệu đại suy tàn...” (tr.155).

        Hay là sự đối chiếu: “Cách nhìn về Hội An của Mai Thìn cũng rất đặc biệt. Chẳng hạn như bài thơ “Hội An”. Anh chọn ba hình ảnh: nắng, mưa và trăng để biểu đạt ý tưởng. Nắng, mưa là hiện tượng thiên nhiên về thời tiết, đối lập. Nắng thì có sự chuyển đổi cảm giác độc đáo: “Hội An nắng/ dát lên tường những tiếng chuông/ những chùm hoa tu lit treo ngược bờ sông”. Mưa thì: “bình lặng/ khung cửa ven đường/ tỏa hương/ buồn buồn vừa rót”. Còn trăng là hình ảnh lãng mạn mơ mộng, tạo một hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng” (Đêm qua tôi không ngủ được- tr.191).

         Cho đến cảm nhận mang tính khái quát: “Tập thơ “Gió thiếu phụ” của Trần Quang Khanh như một tiếng thở dài nhưng không cam chịu, tiếng thở có phẩm chất kể chuyện, vừa trữ tình vừa thế sự...”(Gió thiếu phụ - khúc ngân của gió và phận người, tr.136).

         Về sự gắn kết và liên tưởng: “Mặt khác, quê hương trong thơ Hà Huy Hoàng không chỉ là một địa danh mà còn là không gian của ký ức, nơi lưu giữ những tháng năm tuổi thơ và những thăng trầm của lịch sử: “Xóm Cung bé nhỏ/ mà nỗi đau có thừa” (Hà Huy Hoàng chất chứa một hồn thơ đời thường mà sâu lắng, tr.217).

         Với Lê Bá Duy, khi Mở phím thơ là cách hòa từng tác phẩm, thể như định vị phong cách mỗi tác giả. Rất chỉn chu, rất tỉ mỉ: “Lần giở từng trang tâm tình, người đọc nhận ra “Vân không” không đơn thuần là một tập thơ trữ tình, mà còn là bản trường ca nhẹ nhàng về cuộc đời người phụ nữ - người mẹ - người con, những bước chân mệt nhoài mà kiên cường trên con đường nhân sinh...” (“Vân không” – Một không gian nhân sinh mênh mông, tr.269). Cũng từ những tứ thơ, Lê Bá Duy tiếp tục khai thác vẻ đẹp tâm hồn các nhà thơ nữ đương đại rất Việt Nam, rất dịu dàng đằm thắm (Khao khát những cơn mưa-tr.30; Mặc nhiên nhỏ xuống nỗi đau vàng- tr.84; Từ dĩ vãng đến ước mơ tha thiết chân thành- tr.89, ... ), đầy trân quý sẻ chia: “Có thể nói tình yêu là mạch cảm hứng xuyên suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: Từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”, giọng điệu đầy nữ tính cất lên: “Nhớ anh nhiều bao nhiêu/ Như thế nào là nhiều/ Đóa trà my thơm ngát/ Rụng vào đêm tinh khôi...” (Thế giới nữ tính đằm thắm và nhạc điệu tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai, tr.285).

         Khi thẩm thấu tác phẩm để Mở phím thơ cũng rất nhọc nhằn vất vả thể đang bị chất vấn “cô tát nước bên đàng” trong câu lục bài ca dao, rồi cặn kẽ ngọn nguồn câu bát “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”... trong mỗi cách tiếp nhận. Người viết tiểu luận hay phê bình đều bám từng tứ thơ tìm ra giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi tác phẩm ngôn từ. Lê Bá Duy là nhà thơ, nên rất tinh tế cho sự đồng cảm chân tình sâu lắng, là cầu nối hồn cốt thơ đến với bạn đọc, có thêm điều kiện để hiểu rõ tác phẩm văn chương. Lê Bá Duy gốc là nhà giáo, nên có ý thức và thiên hướng chuẩn mực, nhưng không gò bó con chữ trong cách Mở phím thơ, rất trung thực nhẹ nhàng trong cảm xúc thẩm mĩ, mà truyền tải từ tính sáng tạo của mỗi thi nhân lên trang sách của mình./.

                                                  Ngày 08.12.2025 / Nguyễn Thị Phụng.