HÒA PHÍM THƠ NGÂN
(Đọc Mở phím thơ, Nhà xuất bản Văn học 2025, tập Tiểu luận – phê bình của Lê Bá Duy)
Từ vẻ đẹp bức tranh ca dao
cũng chỉ là cái cớ trao duyên: “Hỡi cô
tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi! ”. Ánh trăng vàng... diệu
kì đã kịp đón nhận theo nhịp tim cùng thi nhân, làm ra hạt vàng câu chữ, thành
những tứ thơ hay. Có lẽ không ai xa lạ đã Hòa
phím thơ ngân trong mỗi tác phẩm và ra mắt bạn đọc tập sách: Mở
phím thơ (Nhà xuất bản Văn học 2025) là tập tiểu luận phê bình thứ hai
của Lê Bá Duy, sau Đồng cảm văn chương (2013).
Mở phím thơ là tác phẩm
được Hội đồng Lý luận Trung ương hỗ trợ kinh phí. Hẳn là niềm vui không riêng
gì tác giả, đủ khẳng định thầy giáo, nhà thơ Lê Bá Duy còn chuyên tâm lĩnh vực
viết tiểu luận phê bình thơ đầy trách nhiệm như thế nào.
Với 45 bài viết trong
khuôn khổ 300 trang sách, Mở
phím thơ của Lê Bá Duy ra là cách cảm nhận
chân tình ở mỗi tác phẩm. Ai bảo thơ trừu tượng. Xin thưa không. Thơ đã đi vào
đời sống sẻ chia mọi lúc mọi nơi. Có thể mang tính thời sự - thơ tự sự nhưng lại
vĩnh cửu; Có thể sẻ chia tâm hồn - thơ trữ tình; Có tự sự kết hợp với trữ tình.
Những yếu tố ấy đủ thử thách cho người viết phê bình dù là một bài thơ, hay bao
quát cả một tập thơ.
Chẳng hạn
ở bài viết “Nhớ về anh” (tr.21) là nhớ
về Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân,
bài thơ tạc bức tranh người lính trong tư thế chiến đấu, mang tính thời sự
nhưng lại vĩnh cửu: “Chiến tranh đã lùi
xa... , nhưng trong trái tim tôi, cái Dáng đứng Việt Nam không chỉ tạc vào thế
kỷ XX mà “cái dáng đứng ấy” sẽ mãi mãi tạc vào trái tim của cả dân tộc anh
hùng...”. Tiếp đến bài: “Thông điệp
xanh của cha” (tr.71) là bài thơ Một
khúc hát ru của Vĩnh Tuy, kết hợp yếu tố trữ tình và tự sự thể lời khuyên
nhắc nhở, Lê Bá Duy luận ra: “Hy vọng “Một
khúc hát ru” không chỉ của anh, của tôi mà là của hàng triệu triệu người cha dặn
con khi bước vào đời.” Chừng mực nhất bài bình: “Chút hành trang gom góp tự xuân thì” từ bài Hành trang của Lệ Thu
thuộc thơ trữ tình chiêm nghiệm, trăn trở từ cách giới thiệu: “Hành trang” – bài thơ cứ ám ảnh tôi suốt cả
tháng trời... Cái “ám ảnh” nóng bỏng nhất đêm nay mà tôi đọc lại bài thơ của chị
là ngọn lửa âm ỉ bấy lâu đã bùng lên, nhảy múa theo từng con chữ... khiến tôi
không thể không ngồi vào máy viết những dòng đồng cảm này.”
So với
toàn tập chỉ có ba bài bình thơ được đan xen như điểm nhấn trên dòng thời gian
cần lưu trữ, nhắc nhở đâu thể nào quên được sự dấn thân của thế hệ đi trước, của
dặn dò yêu thương từ trong gia đình, cho đến gửi gắm quan niệm sống tích cực
hơn trong xã hội. Lối bình tác phẩm văn học của Lê Bá Duy không thiên về giải
nghĩa từ, chỉ mang tính cảm thụ sẻ chia cũng là một cách trân quý tác phẩm.
Tiếp nối Mở
phím thơ, còn có hai bài tiểu luận nhận định diện mạo văn chương trên một
Tạp chí Văn nghệ An Nhơn (tr.74) trưởng thành tiếp nối của vùng đất Bàn thành Tứ
hữu. Đến “Bước đầu tìm hiểu 50 năm thơ
Bình Định ”(tr.247) đầy công phu mà rất khiêm tốn: “Với kiến thức và sự tập hợp thống kê có hạn nên bài viết sẽ không tránh
khỏi thiếu sót mong bạn đọc thông cảm” cho phần kết bài.
Vậy thì, hành trình Mở phím thơ của Lê Bá Duy bị cuốn hút bởi những tập thơ đương đại của
các nhà thơ trong và ngoài nước. Anh là người sáng tác thơ, yêu thơ. Đã có
thi sĩ từng “Đắm đuối nửa tờ thơ” như Đặng Quốc Khánh, thì “Lê Bá Duy đúng là, như tôi nghĩ, người tương
tư... thơ thứ thiệt. Ông viết say sưa, nồng nàn, không rào đón, trực chỉ đến mục
đích nói cho được hết ý, hết tình với thơ và bạn thơ.” (Tiếp cận thơ từ...
thơ – Nhà phê bình Bùi Việt Thắng). Thật đúng vậy. Việc đón nhận tác phẩm để Mở
phím thơ không một sự trùng lặp, khuôn mẫu nào, trong cùng biên độ đề
tài rộng, nhưng từng chủ đề khác nhau và từ đó nói cho hết cái tình, cái ý với
bạn thơ khi đã chạm vào mỗi tứ thơ trên trang sách.
Mở
phím thơ với bài viết Những giấc
mơ trong ký ức của “ Linh giác trắng” (tr.152) với cách liệt kê: “Đặc biệt chỉ trong một bài thơ “Linh giác trắng”
hình ảnh chiêm bao được nhắc đến chín lần... giấc mơ tình yêu lạ lùng, giấc mơ
nỗi đau thân xác, giấc mơ cuộc sống đói nghèo, tê liệt bán cầu não trái của những
người đàn ông, giấc mơ về quy luật diệt vong tất yếu cả một triệu đại suy
tàn...” (tr.155).
Hay là sự đối
chiếu: “Cách nhìn về Hội An của Mai Thìn cũng rất đặc biệt. Chẳng hạn như bài
thơ “Hội An”. Anh chọn ba hình ảnh: nắng,
mưa và trăng để biểu đạt ý tưởng. Nắng, mưa là hiện tượng thiên nhiên về thời
tiết, đối lập. Nắng thì có sự chuyển đổi cảm giác độc đáo: “Hội An nắng/ dát lên tường những tiếng chuông/ những chùm hoa tu lit
treo ngược bờ sông”. Mưa thì: “bình lặng/
khung cửa ven đường/ tỏa hương/ buồn buồn vừa rót”. Còn trăng là hình ảnh
lãng mạn mơ mộng, tạo một hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng” (Đêm qua tôi không
ngủ được- tr.191).
Cho đến cảm
nhận mang tính khái quát: “Tập thơ “Gió
thiếu phụ” của Trần Quang Khanh như một tiếng thở dài nhưng không cam chịu, tiếng
thở có phẩm chất kể chuyện, vừa trữ tình vừa thế sự...”(Gió thiếu phụ -
khúc ngân của gió và phận người, tr.136).
Về sự gắn
kết và liên tưởng: “Mặt khác, quê hương
trong thơ Hà Huy Hoàng không chỉ là một địa danh mà còn là không gian của ký ức,
nơi lưu giữ những tháng năm tuổi thơ và những thăng trầm của lịch sử: “Xóm Cung
bé nhỏ/ mà nỗi đau có thừa” (Hà Huy Hoàng chất chứa một hồn thơ đời thường
mà sâu lắng, tr.217).
Với Lê Bá
Duy, khi Mở phím thơ là cách hòa từng tác phẩm, thể như định vị phong
cách mỗi tác giả. Rất chỉn chu, rất tỉ mỉ: “Lần
giở từng trang tâm tình, người đọc nhận ra “Vân không” không đơn thuần là một tập
thơ trữ tình, mà còn là bản trường ca nhẹ nhàng về cuộc đời người phụ nữ - người
mẹ - người con, những bước chân mệt nhoài mà kiên cường trên con đường nhân
sinh...” (“Vân không” – Một không gian nhân sinh mênh mông, tr.269). Cũng từ
những tứ thơ, Lê Bá Duy tiếp tục khai thác vẻ đẹp tâm hồn các nhà thơ nữ đương
đại rất Việt Nam, rất dịu dàng đằm thắm (Khao
khát những cơn mưa-tr.30; Mặc nhiên nhỏ xuống nỗi đau vàng- tr.84; Từ dĩ vãng đến
ước mơ tha thiết chân thành- tr.89, ... ), đầy trân quý sẻ chia: “Có thể nói tình yêu là mạch cảm hứng xuyên
suốt tập thơ. Đó là những cung bậc rất đa dạng: Từ đắm say nồng nàn đến nhớ nhung
da diết, từ hờn ghen giận dỗi đến khát vọng bền lâu. Trong bài “Ừ nhỉ, mình chờ”,
giọng điệu đầy nữ tính cất lên: “Nhớ anh nhiều bao nhiêu/ Như thế nào là nhiều/
Đóa trà my thơm ngát/ Rụng vào đêm tinh khôi...” (Thế giới nữ tính đằm thắm
và nhạc điệu tình yêu trong thơ Võ Thị Như Mai, tr.285).
Khi thẩm
thấu tác phẩm để Mở phím thơ cũng rất nhọc nhằn vất vả thể đang bị chất vấn “cô
tát nước bên đàng” trong câu lục bài ca dao, rồi cặn kẽ ngọn nguồn câu bát “Sao
cô múc ánh trăng vàng đổ đi”... trong mỗi cách tiếp nhận. Người viết tiểu luận
hay phê bình đều bám từng tứ thơ tìm ra giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi tác phẩm
ngôn từ. Lê Bá Duy là nhà thơ, nên rất tinh tế cho sự đồng cảm chân tình sâu lắng,
là cầu nối hồn cốt thơ đến với bạn đọc, có thêm điều kiện để hiểu rõ tác phẩm
văn chương. Lê Bá Duy gốc là nhà giáo, nên có ý thức và thiên hướng chuẩn mực,
nhưng không gò bó con chữ trong cách Mở phím thơ, rất trung thực nhẹ
nhàng trong cảm xúc thẩm mĩ, mà truyền tải từ tính sáng tạo của mỗi thi nhân
lên trang sách của mình./.
Ngày 08.12.2025 / Nguyễn Thị Phụng.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét