Tên tác phẩm: TRĂNG VẪN SÁNG BÊN ĐỜI
Thể loại: Lý luận phê bình.
Tác giả: Nguyễn Thị Phụng
Từ tựa đề Đi qua miền nhớ, tập tiểu thuyết đầu tay của Lệ Thu, NXB.Vh.2026 khi chị đã ở tuổi thượng thọ, bao miền nhớ ùa về trong cảm xúc văn chương hơn 40 năm trước, từ tập thơ đầu tay “Xứ sở loài chim yến” (1980). Cho đến nay chị đã có 14 đầu sách, ngoài thơ còn có Đến với thơ Lệ Thu (Thơ và lời bình) và Nhật ký nữ Nhà báo chiến trường (Ký). Mạch chảy ngọn nguồn chân lí làm nên cốt cách Nhà thơ đâu chỉ từ các giải thưởng Văn học Nghệ thuật. Chủ đề Đi qua miền nhớ, 285 trang, với ba phần có cấu trúc bốn mươi chương là hơi thở tâm hồn nhân vật Phương và Minh từ thực tiễn trong hoàn cảnh đất nước ta bấy giờ đi vào trang sách, tự vẻ đẹp đời người tựa vầng trăng soi sáng, từ việc lưu trữ cảm xúc cá nhân đến hệ điều hành trí tuệ nhân tạo AI.
1/. Từ ký ức Đi qua miền nhớ thuở ban đầu với Phương giữa đêm trăng tháng ba sinh hoạt trại rộn rã tiếng trống chầu, Phương bị
bụi mắt được Minh tự nguyên đưa về trong im lặng chở che và tin tưởng. Mà vầng
trăng là nhân chứng lứa tuổi thanh thiếu niên của Phương và Minh, mở ra từ đây:
“Minh bắt đầu viết nhật ký. Phương bắt
đầu biết chờ một điều gì đó. Không ai trong họ biết rằng con đường trăng tháng
ba ấy sẽ kéo dài suốt một đời người.” (tr.09). Bạn đọc cũng dễ nhận ra hình
tượng của tác giả, và hình tượng hai nhân vật luôn được đan xen giữa hai miền
Nam Bắc trong bối cảnh đất nước tạm thời chia xa người thân và bạn bè rời vùng
quê Gò Bồi Tuy Phước, cùng các bạn lên con tàu Ba Lan ra Bắc lúc bấy giờ, và
Hải Phòng là nơi đón nhận, chăm sóc nuôi dưỡng trong môi trường dành riêng cho
học sinh miền Nam lớn lên từ một trường Đại học Tổng hợp Văn, trở thành nhà báo
với những chuyến thực tế trên phương tiện xe đạp thường ngày, đôi lúc có thơ
được đăng lên báo, được đọc trên đài về sự khởi sắc nơi ta đến, không dùng tên
khác vì muốn gửi gắm là Lưu Phương nơi này bình yên, mong trở về cùng trên con
đường trăng tháng ba năm nào...
Với
Phương, một kí ức chưa xa nỗi nhớ không nguôi nơi Gò Tháp, nơi đó có ngoại và
má cùng các em. Người bạn trong chương 1 “Đêm hiệp sĩ” cứ rạng dần trong thường
ngày, nhất là khoảnh khắc “Trường có quy
định nghiêm ngặt, và hơn hết, trong tim cô vẫn có Minh. Chàng “hiệp sĩ” ơ miền
quê xa, người đã từng đan cho cô chiếc “vương miện” bằng cỏ chỉ cài hoa ngũ sắc
ấy vẫn hiển hiện trong tim cô. Chỉ là ánh mắt Trung, đầy tia sáng, sao giống
ánh mắt Minh đến thế” (tr.25) cũng khó mà xao động tâm hồn. Đến khi Con
đường vào đại học nếu không phải ốm nằm viện, thì Phương đã có hướng rẽ khác
như bao du học sinh ra nước ngoài, hình ảnh quê nhà tuổi thơ hiện về ấm áp từ
ánh mắt và nụ che chở của Minh đi hái chà là chia đều cho các bạn gái, và thật
tỉ mỉ “đi nhổ những cọng cỏ chỉ dài kết
thành vòng tròn cài hoa ngũ sắc, đội lên đầu cô bé ... – Phương đội khăn vành
hoàng hậu đẹp lắm ...” (tr.50).
Hay Dưới ngọn đèn khuya sau sự cố trăn trở
của một biên tập viên nhầm lẫn giữa nguyên bản là “ngày nay”, chính từ “ngày
xưa” mà Phương dằn vặt từ miền thương nhớ. Nỗi khát khao của tâm hồn lóe lên
khi nhìn một ngôi sao lạc giữa trời mây: “Ngôi
sao ấy gợi cô nhớ đến một vì sao khác trên bầu trời Gò Tháp, nơi có cậu bé năm
xưa ... từng thì thầm “Phương đừng sợ” trong đêm dẫn cô từ Gò Bồi về nhà đầy
run rẩy ấy” (tr.67).
Sự lặp lại kí ức đẹp hẳn là ước mơ tâm hồn
thiếu nữ trong trắng hồn nhiên rất nhân văn, là điểm tựa nương nhau vốn cuộc
đời là thế. Nhưng vẫn không quên một phóng viên tự nguyện ra chiến trường. Sức
mạnh tinh thần đó là sự sáng suốt, lúc tiếp xúc gặp gỡ với các nhà báo Mỹ ở
chiến trường. Bài học cuộc sống nếm trải quá đau thương khi để lộ bí mật về gặp
má, để má bị tra khảo và chuyển vào nhà tù ở Nha Trang
Còn với nhân vật Minh – chàng “hiệp sĩ”
từ rung động đầu đời về bóng dáng Phương đã neo lại nơi sâu thẳm trong tim, khi
cô bạn cúi đầu chạy vụt vào sân nhà trong lần nhận trách nhiệm đưa Phương về
trên con đường quê đêm ấy. Hay lúc tiễn Phương lên tàu tập kết ra Bắc theo Hiệp
định Giơ-ne-vơ đã thành ký ức, trở về với những trằn trọc: “Minh nghe tiếng sóng Thị Nại vỗ bờ. Tiếng
sóng từng ru giấc ngủ, giờ trở thành tiếng vọng cô đơn, khắc khoải” (tr.27).
Lại nữa,
lúc này nơi quê nhà là những ấp chiến lược mọc lên như con quái vật vây quanh
xóm làng. “Đêm xuống tiếng mõ gọi phụ nữ
ra ngủ tập trung... dưới ánh trăng bóng dáng đàn bà gồng gánh đi thành hàng
dài, lầm lũi như đàn cò bị lùa” (tr.32). Và cũng từ đó Minh lớn lên trong
lặng lê, đợi chờ và tin Phương sẽ không bao giờ quên thời thơ ấu đầy kỉ niệm,
về đất nước về con đường mình phải đi. Bởi Minh là con gia đình truyền thống
trong chín năm kháng chiến cha đi dân công hỏa tuyến, sau mất vì sốt rét, mẹ
làm nông chân chất ruộng vườn.
Và vì thế
sự lựa chọn dấn thân để kết nối. Minh trưởng thành từ việc học nghề say niềm
tin và hi vọng trong thực tiễn khoa học kĩ thuật, miệt mài từng nhịp tay siết
ốc, cả ánh sáng nơi đầu mũi hàn lóe lên: “Phương
ơi, nếu em thấy được anh lúc này, hẳn em sẽ hiểu: tình yêu cũng là một cách học
– học để vượt qua chính mình” (tr.70).
Hai nhân
vật Minh và Phương được bắt mạch từ điểm nhìn trong hình tượng của nhà văn cùng
hướng về dân tộc. Cô phóng viên trẻ, nhà thơ Lưu Phương chọn con đường khi nhớ
lại lời thầy đã dạy: “Khi em cầm bút, hãy
nhớ: mỗi dòng chữ em viết ra có thể là vũ khí – và cũng có thể là lời ru. Em
chọn cách viết nào, chính là chọn con đường của em”. Phương đã chọn con đường
của tình người” (tr.75)
Và ở họ
luôn nghĩ về nhau hình dung qua những bản tin trên sóng và lưu lại những từ
khóa: “Hoài Châu – Markham; Benoit; nụ
cười trăng non; đôi mắt sáng” (tr.88) tiếp thêm động lực tiếp tục đi tìm...
Và họ mãi tìm nhau giữa lằn ranh bom đạn. Hình ảnh Gò Bồi, Quy Nhơn trong bản
tin dấu mốc lịch sử của đất nước năm ấy hân hoan cũng đầy lo âu về má. Rồi tất
cả trong ngày trọng đại: “30 tháng Tư năm
1975 – đất nước được gặp lại nhau. Còn anh, vẫn chưa gặp lại em... tiếng vọng
lặng thầm của mối tình đã đi qua chiến tranh mà chưa kịp nắm tay nhau... Anh
biết, ở đâu đó giữa trời Nam, Phương cũng đang sống, đang viết, đang yêu thương
bằng cả trái tim mình... Ngày mai, anh sẽ bắt đầu lại vì em, vì đất nước này”
(tr.116, 117).
2/. Miền ký ức sau hậu
chiến là bước ngoặt mới của đất nước, của sự dấn thân tiếp nối. Bên cạnh hiện thực thống nhất hai miền là ước nguyện toàn dân đã là hạnh phúc,
thì những thử thách trong sắp xếp ổn định chính quyền vừa tiếp quản.
Với Phương – cương vị phóng viên nhà báo chị không ở lại miền Bắc để hưởng đặc quyền, lại càng khẩn trương đưa tin,
càng bận bịu công việc trợ lí cho các cấp lãnh đạo: “Không còn tiếng súng, nhưng cuộc chiến giữ gìn nhân cách con người Việt
Nam lại bắt đầu” (tr.154). Nhưng với chị, trước những chia xa của gia đình
vợ chồng, chi hiểu và trân trọng nghĩa nặng tình sâu của ba má chị, thời gian
và tuổi đời dần được kết nối. Cũng có kẻ lợi dụng niềm tin, uy tín để vụ lợi cá
nhân như Đông kẻ muốn chứng tỏ uyên bác trước mọi người, nhưng lại luồn “bao đường vào nhà mình” (tr.138) của
thời bao cấp, như “Hồng còn mượn uy tín
của Phương để làm vỏ bọc” (tr.140), ... kẻ có tật giật mình khi đọc những
bài thơ chỉ trích thói gian tham nịnh bợ, ... Với Phương, thơ dễ dàng cảm hóa
được lòng người, nên chị luôn sẻ chia cùng bạn đọc. Nhưng bên cạnh đó, Phương
tận tình giúp đỡ ông Thường – một ngư dân ở Nhơn Lý lấy lại được tàu đánh cá để
làm ăn, được cá nhân, cả làng chài trân quý.
Có điều
khi trở thành đại biểu Quốc hội của tỉnh, vì sao Phương trở lại với tên Trần Lệ
Nhung - trong cách bạn Lệ Hoa ở cùng phòng gọi Phương là Lệ Nhung là để vơi nhớ
người em ở miền Nam đã hi sinh dũng cảm, tên gọi còn mang tính thiêng liêng của
nghĩa cả tình người - tiếng nói của chị đứng về phía nhân dân: “Ánh sáng chúng ta nói không chỉ là điện, mà
là niềm tin” (tr.210).
Trong trạng thái tâm lí sau bao lần vùi dập “Phương vẫn đứng thẳng, vẫn sáng lên như một phép màu. Không ai biết sức
mạnh ấy từ đâu. Chỉ Phương biết: từ Minh” (tr.144)
Với Minh , biểu hiện của niềm say mê khoa
học kỹ thuật, qua thử nghiệm dữ liệu thực tiễn, cuốn hút đồng hành cùng
người bạn Trung – Kĩ sư ở miền Bắc vào, họ thân tình trao đổi: “Nếu một ngày người ta hỏi: trí tuệ nhân tạo
sinh ra để làm gì, hãy trả lời: để con người giữ được phần người trong mình.
Minh cười trừ, không đáp. Anh biết từ đây, hành trình của mình đã có đủ hai
trụ: một ký ức để đi thật sâu, và một tình bạn để không đi lạc” (tr.172).
Sự thú
vị nhất ở Máy biết nhớ, đã là niềm
vui tinh thần cho người lưu trữ dữ liệu giữa kết hợp lí thuyết với Trung và
thực tiễn với Minh mỗi lần máy “nhớ” và cho kết quả đẹp hơn, anh vẫn không quên
lưu cách máy nhớ về người giữ ký ức đến khi: “Cùng lúc, trong tim một người, tên Phương vẫn là chất dinh dưỡng lặng
lẽ nuôi lớn hạt mầm đó” (tr.185).
Có lẽ từ trải
nghiệm thực tiễn môi trường: Tia sáng
trong phòng thí nghiệm cho sự cân nhắc giữa khát vọng ký ức – tên một con
người, và đồng hành bên anh là Thúy - nhịp thở thực tiễn đối chiếu. Trong Minh
quyết định chưa hình thành: “Cuộc đời anh
sẽ không còn chỉ là thép và máy móc mà còn là cuộc đấu tranh giữa ký ức và hiện
tại” (tr.195). Giá trị thực tiễn đã mở thêm cho Minh nhận ra: “... ý nghĩa của việc sáng tạo không chỉ là làm
ra cái mới, mà là trả lời những câu hỏi của riêng minh” (tr.207)
3/. Thuật
toán của trái tim là cái kết Đi qua miền nhớ.
Với Minh đâu chỉ là hành trình say mê khoa học từ ánh sáng trong
phòng thí nghiệm bỗng như ấm lên, bước sang cuộc thử thách lương tri của con
người sau khi nhận ra hình ảnh từ ký ức dù với tên: “Đại biểu Trần Lệ Nhung – Đoàn Bình Định”. Cùng với việc Minh xin
làm phiên dịch cho một số hội thảo quốc tế tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh,
hay được chọn đi Singapore hội nghị quốc tế về Trí tuệ nhân tạo trong các ứng
dụng Công nghiệp, và nhất là được gặp bà Marie Dubois là phóng viên chiến
trường thập niên 70. Cơ hội lưu trữ hệ thống đối chiếu dữ liệu thời gian, cho
lần xác tín về Thuật toán của trái tim (Chương 32) mở ra là nhịp cầu kết nối
giữa Phương bằng dữ liệu hình ảnh, tiếng nói cho Minh nhận ra: “Anh vẫn tin đây không chỉ là khoa học. Đây
là minh chứng cho một tình yêu chưa bao giờ hóa thạch” (tr.235).
Với Phương. Trong tư cách nhà báo,
nhà thơ hẳn luôn gặp áp lực từ nhiều tình huống khác nhau. Phải chăng chị - trong
giao tiếp công việc được trân quý, ngưỡng mộ, soi rọi cho những hạn chế thái độ
ứng xử ích kỉ, hay cả trong sáng tác luôn vấp phải trở ngại tâm lí của đối
tượng là bạn đọc. Đôi lúc giá trị từ một bài thơ viết cho một người lại là mũi
kim xuyên thấu cho nhiều người ngờ vực dẫn đến những hệ lụy tai tiếng về danh
dự và nhận ra: “Đời sống là một chuỗi thử
thách ... dành cho những ai dám giữ trong tim mình một ngọn lửa, không để tắt”
(239). Dù trong tháng ngày về hưu, duy trì sáng tác giữ sự thanh thản tâm hồn
về giá trị mỗi bài thơ, còn có cả như mở phiên tòa lương tri, xét xử tội lộng
hành lòng tham khôn cùng.
Cũng là điểm chung với Minh, trên
bình diện sự phát triển nhận thức tâm lí không dễ bị chi phối, vì ở họ say mê
cái đẹp tâm hồn đầy thiện ý khi đối sánh với xã hội. Bởi phóng viên, nhà thơ là
một phần của truyền thông, mang tính chất văn hóa xã hội.
Riêng Minh đã mở ra chân trời khoa học,
cả một đời dấn thân đầy thử thách trải nghiệm vào cuộc phiêu lưu trí tuệ, đủ
nhận ra từ Trung đồng hành cùng mình: “...
giữ một điều chung: không để trí tuệ đi trước lòng tử tế” (tr.259). Trong
cuộc tranh luận sự chất vấn đề cập đến AI nhân văn, kể cả mã hóa được tình
thương, lòng nhân ái hay vẻ đẹp của câu thơ khi tiếp xúc giá trị nhân bản, thể
như đứa bé nhờ vào hát ru, lời bà kể chuyện, ... và AI cũng vậy biết đồng cảm
với con người.
Và ngay
tại Hội thảo khoa học tại Trung tâm Khám phá khoa học Quy Nhơn, “thơ” đã được
kết nối cả vòng đời sáu mươi năm truyền nhau hơi ấm từ bài thơ, qua số điện
thoại nên duyên ùa về trong lặng lẽ cảm xúc giữa Phương và Minh “miền Cổ Tháp”
của ngày xưa. Cái cảm xúc “đầy ắp bóng
dáng tuổi mười lăm, cái tuổi vừa trong veo vừa run rẩy, chưa một lần cất thành
lời mà đã sống trọn một đời trong ký ức” (tr. 279). Và món quà ở họ là
những bài thơ trao nhau chân tình ấm áp, hòa cùng nhịp điệu dâng trào cho cái
kết viên mãn.
Với tiểu
thuyết Đi qua miền nhớ, Nhà văn Lệ
Thu đã bao quát cả cuộc đời hai nhân vật Phương và Minh: Từ tuổi thơ gặp gỡ,
chia xa cho đến cuối đời gặp nhau trong cảm xúc. Hay đó là phép thử tâm hồn khi
trải qua bao biến cố va chạm xã hội, nhưng họ luôn hướng về nhau trong đôi mắt
sáng, trong cái nhìn tinh tế. Đó là ánh sáng niềm tin và lí tưởng sống của thời
đại, rất cần sự nhiệt huyết và năng nổ của mỗi cá nhân, của lớp trẻ hôm nay.
Hẳn đây còn là hình tượng tác giả khẳng định lương tâm con người phải tự soi chiếu
để hoàn thiện mình. Giá trị của sáng tác thơ từ miền nhớ thơ mộng, cho cả sự
công bằng, vị tha, nhân từ, ... rất cần được lưu trữ một cách khoa học và chính
xác, thể trân quý giá trị nhân cách con người của một thời cống hiến và hi
sinh. Tiểu thuyết thiên về tự truyện, giàu chất thơ như cuộc đời của nhà thơ Lệ
Thu. Và nhân vật Minh sóng đôi là cái nền cho vẻ đẹp của lòng nhân từ khí khái
của Phương thăng hoa.
26.06.2026 / Nguyễn Thị Phụng.
