Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

KHÚC CUA, truyện mini- Nguyễn Thị Phụng


KHÚC CUA

        Phía trong hàng rào lưới B40, người đàn bà mở vòi nước tưới mấy chậu hoa sống đời. Mùa hè mà.
        Phía ngoài hàng rào, hai chiếc xe đạp nối nhau. Thằng ngồi phía sau yên chiếc xe đạp thứ nhất nói con đó hả, để tao cho nó có bầu, cho nó biết. Chiếc xe đạp thứ hai tiếp lời: tinh trùng chưa đến tuổi dậy thì làm gì có con.
       Người đàn bà ngước lên, nhìn ra góc vườn thấy mấy đứa nhỏ vun vút đạp xe rẽ trái, tay lái tay thả. Thì ra… mới đó mà chúng nó đi học thêm!...
                                                    02.06.2018/ NTP

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

VẺ ĐẸP TÌNH NGƯỜI (Đọc “Một ngày cho trăm năm” tiểu thuyết Nguyễn Bá Trình)


31. VẺ ĐẸP TÌNH NGƯỜI - Nguyễn Thị Phụng*
(Đọc “Một ngày cho trăm năm” tiểu thuyết Nguyễn Bá Trình)

         Tôi nào hối hả theo kim đồng hồ treo tường kia mà vẫn cố song hành cùng thời gian để lần hồi gần bảy trăm trang tiểu thuyết “Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình(NXB Văn học, 2010) tìm ra kết thúc câu chuyện đầy hấp dẫn trong từng giai đoạn phát triển xã hội từ những năm 75 đến những năm 95 của thế kỉ trước.
        Theo diễn biến câu chuyện “Một ngày cho trăm năm”, Nguyễn Bá Trình đã dày công xây dựng làm nên tính cách nhân vật, đi sâu vào mọi ngõ ngách đời sống con người. Với cách kể linh hoạt có sức thu hút người đọc là nhờ khả năng miêu tả nhiều chiều, nhiều mối quan hệ ràng buột với nhau từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Đọc tiểu thuyết của anh ta không chỉ tìm ra lời giải đáp đầy ý nghĩa sâu sắc về tính nhân văn cao đẹp giữa con người biết xích lại gần nhau để yêu thương và chia sẻ, mà còn học ở mỗi tính cách nhân vật có những phẩm chất đáng ngợi ca và trân trọng. Xét cho cùng thì tình yêu là vĩnh cửu luôn ngự trị trong trái tim con người.


       Đó là vẻ đẹp Hồng Liên đoan trang chính chắn của một phụ nữ đã có chồng, có con. Dù trong hoàn cảnh nào chị cũng hết sức bình tĩnh, cần mẫn, xông xáo, thiết thực với đời sống hiện tại cho cuộc mưu sinh của một gia đình bé nhỏ thiếu đôi tay người đàn ông. Nhưng với sức chịu đựng mòn mỏi đợi chờ khát khao tình chồng vợ, không sao cưỡng lại nổi. Nếu không có sự giúp đỡ về mặt tinh thần của Tuấn, người bạn từ thời học sinh, hay là tình mẫu tử thiêng liêng liệu chị có vượt lên được chính mình. Hay là từ phương pháp điều trị của bệnh viện tâm thần đã phục hồi cảm xúc yêu thương của một con người. Hay có phải là những ngày tháng lang thang vô định đã làm nên mầm mống cho thai nhi ngày càng lớn lên trong bụng chị. Và chính điều đó xảy ra là nguyên nhân căn bệnh tội ác những kẻ thiếu văn hóa, thiếu tình người gieo họa, mà chị lại là nạn nhân trực tiếp gánh nhận. Và giả như, Nghi- chồng chị kịp thời trở về với vợ con, với gia đình thì lại có một hướng đi khác trong câu chuyện rồi! Khép lại cuộc đời Hồng Liên ở độ tuổi chưa được 45, nhưng chị đã sống trọn vẹn cho mình, cho con và cho gia đình như thế đã đủ chưa. Có lẽ hạnh phúc đong đầy: “ Hồng Liên nhận ra trong không gian bao la vẫn có những khoảng trống dành riêng cho nàng. Ở đó nàng vẫn ngắm được những áng mây trời đẹp đẽ trôi qua, những tia nắng ấm mơn man và những làn sóng dịu dàng vuốt ve lên cơ thể. Trước đó Hồng Liên nghĩ mình phải sống trong thế giới của người khác, nhưng giờ thì nàng thấy mình đang được sống trong thế giới của riêng mình. Những lúc công việc ở trại từ thiện rảnh rang, nàng đọc đi đọc lại bộ tiểu thuyết Tình yêu của một nữ tác giả nước ngoài nổi tiếng để học tập sự can đảm nỗ lực đương đầu với một căn bệnh vô phương cứu chữa. Hồng Liên cũng tìm đọc những mẫu chuyện về những tấm lòng dũng cảm và vị tha của những người bị nhiễm HIV, đã tận dụng khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của mình để góp phần xoa dịu nỗi đau khổ của những mảnh đời bất hạnh…”(Tr.611) Cuộc sống với Hồng Liên đã trở nên có ý nghĩa, chị đóng góp phần không nhỏ của mình cho xã hội.


        Còn Tuấn là vẻ đẹp một thanh niên trí thức trước và sau 1975. Kể từ khi là cậu học sinh thời trung học đệ nhất cấp đã biết vươn rộng đôi tay ra giữa dòng lũ lụt cứu bạn trên đường đi học phải qua sông bị đắm đò. Phải chăng đó là nguyên nhân giữa Tuấn và Hồng Liên có nhiều kỉ niệm không thể nào quên: “Thời trung học đệ nhất cấp(bậc THCS), dưới mái trường An Hòa, Tuấn và Hồng Liên học chung một khối, cùng che bóng hàng cây xà cừ trên đường đến lớp. Hồi đó Tuấn là một học sinh tinh nghịch đến táo tợn nhưng lại học rất giỏi. Không năm nào cậu học sinh gầy guộc đen đủi ấy không bị thầy hiệu trưởng mời lên khiển trách. Cảnh cáo dưới cờ thì xi-nhê gì với nó! Các bạn đã nói về Tuấn như vậy! Các giáo sư(giáo viên) đều coi Tuấn là một học sinh cá biệt. Nhưng cũng nhờ tính gan lì và táo tợn và gan lì ấy Tuấn đã cứu sống ba nữ sinh suýt chết đuối trong một mùa lũ khi xuồng qua sông An Hòa bị lật. Tuấn phóng ra giữa dòng nước chảy xiết cứu được hai người, đến người thứ ba Tuấn đưa vào nửa chừng thì đuối sức và cả hai bị nhận chìm, may nhờ có bà con trong thôn ra cứu kịp. Ở trạm xá vừa tỉnh dậy cậu ú ớ: - Con …Liên…có sống không?- Cậu đã làm xúc động đến rơi nước mắt những người xung quanh…”(tr.9). Rồi đến những ngày tháng năm 1975 Tuấn cũng có mặt giúp Hồng Liên trong ngày di tản, Tuấn đưa Hồng Liên đi gặp Nghi, chồng của chị,… Hễ khi nào mẹ con Hồng Liên gặp khó khăn thì Tuấn đều có mặt giúp đỡ “cô bạn cũ” ngày nào cả về mặt tinh thần và vật chất. Không hề toan tính vụ lợi hay cố tình chiếm đoạt trái tim của Hồng Liên. Anh luôn trân trọng giữ gìn, dè dặt chở che cho cả hai mẹ con Hồng Liên.
        Bên cạnh đó không tránh khỏi dư luận xã hội về mối quan hệ giữa Hồng Liên và Tuấn chỉ là cái cớ để buột tội Hồng Liên, là cái cớ để che đậy bản chất của Nghi với tính ích kỉ hẹp hòi. Với Nghi có thể bỏ cả vợ, nhưng sao lại bỏ cả đứa con trai của mình có phải vì sự ghen tuông dẫn đến thiếu trách nhiệm của người cha đối với con trong gia đình, mà tận hưởng “ bã” vinh hoa phú quý nơi xa kia. Và đồng tiền của Nghi không có thể nối lại tình cha con được!
        Và đại diện cho lớp trẻ năng động sáng tạo trong thời kì đổi mới có Lâm, Ngân và những người bạn như Thanh, Dương,… nhận thức quan niệm về tình yêu cuộc sống gắn liền với ý thức công việc hết sức chỉn chu đã làm nên “Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình là một cuốn tiểu thuyết bao quát cuộc sống đời thường tỉ mỉ từ mọi ngõ ngách bé nhỏ trong cảnh mua bán chạy chợ của thời bao cấp cho đến thời kì cơ chế thị trường mở rộng hợp đồng đối tác trao đổi kinh tế nhiều mặt làm nên sự phát triển phồn vinh cho đất nước. 


       Không còn ở một chừng mực nào nữa “ Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình vẫn là tác phẩm tỏa sáng tính nhân văn cao đẹp. Tôi xin được phép trích lại lời cảm nhận của nhà văn Triệu Xuân: “ Đây là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn trẻ Nguyễn Bá Trình. Trẻ, hiểu theo nghĩa là mới viết, và là tác phẩm xuất bản lần đầu tiên. Tác giả là nhà giáo, dạy môn toán trường trung học phổ thông, đã nghỉ hưu. Là người chuyên viết tiểu thuyết, tôi trân trọng những chi tiết thực, bối cảnh thực, nội dung hiện thực của tác phẩm này. Những năm đất nước mới hòa bình thống nhất, dân tình chìm đắm trong khó khăn thiếu thốn của thời bao cấp, cộng với những hành vi, động thái phi nhân do đối lập về chính kiến, khiến tâm thế con người luôn hoang mang, nghi kỵ, hốt hoảng; vậy mà tình người vẫn luôn ấm áp, tỏa sáng…Tác phẩm toát lên tấm lòng của tác giả tha thiết với đồng loại, với cuộc đời, với đất nước, quê hương…”
                                                                                            08.4.2012/ NTP

*Trích Tiểu luận LẶNG TRONG HƯƠNG LÚA
(NXB VH 2014)





Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

TÔI CÒN MẮC NỢ NGƯỜI THÂN BẠN BÈ

TÔI CÒN MẮC NỢ
NGƯỜI THÂN BẠN BÈ
(Trích Hương thảo thất, NXB HNV- 2018)



Nào phải mộng mơ nhưng lúc này thèm sự yên tĩnh cho mình, mà ngoài kia trời cứ rây hạt thấm ướt mặt lá và cả những chùm quả bằng lăng đang từng ngày nuôi dưỡng mầm hạt cho đến mùa sau sẽ bung ra. Rồi như thể không chịu được nữa, mưa lại nặng dần trượt nhanh rơi xuống thảm cỏ non xanh, len lách qua những kẻ lá nhỏ lắm rồi cũng an bài trong lòng đất ngàn năm chịu đựng. Ngoài khung cửa kính, đôi cánh chim trời nào vội vã nặng nhọc cố bay qua làn mưa. Có lạnh lắm không, phải về tổ cùng gia đình chứ gì, hay là miếng mồi còn đang ngậm trong cái mỏ xinh xắn kia, hạnh phúc biết bao lúc mớm mồi cho con. Xa hơn nữa, cây hoa sữa sừng sững vô tư tỏa hương xanh ngát cứ chùng chình trong vòm trời mờ đục nước mưa như vẫn thèm nhớ dáng ai ngồi dưới gốc giữa trưa hè hôm ấy!...
Khẽ nhắm mắt lại lần nữa để thưởng thức sự yên tĩnh đang lan tỏa trong mình, không lẽ nào tiếng giọt thuốc trong veo từ bình dịch treo trên cao bên trái cánh tay tôi dội lại, điều kì diệu nào từ đôi tay của những chiếc áo blu trắng không thể chần chừ, nới dãn bánh xe nhựa cho đường dẫn thuốc kịp thời vào mạch máu. Giọt tiếp giọt làm nên tổng dung lượng lớn bù lại sự thiếu hụt mất mác quá nhiều suy nhược trong cơ thể tôi. Rồi còn những mũi tiêm vào cơ bắp chân, hay là từ những đôi mắt nhân từ cùng với lời động viên: chút nữa sẽ khỏi ngay mà!...    Nhưng có lẽ tôi nghe rõ hơn chính nhịp đập những trái tim yêu thương kia hòa vào tất cả….

Cũng không có gì lạ mọi nhức mỏi trong cơ thể tôi ê ẩm quay cuồng từ lúc chiều là thế, giờ dần dần tan biến ra mọi ngõ ngách xa kia. Tôi có thể co dũi được chân trái, rồi đến chân phải vài lần. Tay phải thì không thể được vì đang kết nối với bình dịch nhân từ treo trên cao, còn tay trái đưa lên và xòe cả bàn rồi nắm lại. Mỗi động tác tôi gắng làm được đến mười lần thấy trong người bắt đầu khỏe ra… Và tôi có thể nghiêng người qua bên trái, bên phải… Rồi ngồi dậy, bỏ hai chân xuống giường, đứng lên và từng bước bước đi…
Ở phòng hồi sức cấp cứu được ba ngày, sau đó chuyển đến khoa nội để điều trị. Mọi sinh hoạt cá nhân đều ổn. Nhìn dáng chị tôi lầm lũi mang cơm đến đúng giờ ăn trưa, ăn chiều mà làm sao tôi chịu nổi khi chị lấy chiếc mũ bảo hiểm xuống, màu tóc đã ngả bạc ướt nhẹp mồ hôi, còn đôi tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh khi mở cà mèng ra. Nào phải chỉ có lần này đâu, hễ mỗi khi tôi nằm viện chị đều có mặt. Hình như chị được sinh ra để chăm sóc tôi, chăm sóc hết những người thân trong gia đình. Cả đời tôi mang nặng tình yêu thương chị dành cho mình. Không biết đến lượt chị ốm đau tôi có thể làm được những gì cho chị đây!... Mong cho chị suốt đời khỏe mạnh! Ở khoa điều trị, cũng như những bệnh nhân khác được kiểm tra huyết áp, đo nhiệt độ thường ngày và dùng thuốc theo chỉ dẫn của y bác sĩ.

Một tuần qua mau khi mỗi sáng thứ dậy, chị em trong phòng rủ nhau đi xin cháo từ thiện của các tình nguyện viên câu lạc bộ hội Chữ thập đỏ Tuy Phước nấu đảm bảo chất lượng, còn hai buổi trưa và chiều đi xin cơm chay của giáo hội Phật giáo Hòa Hảo miền Nam, chỉ trừ ngày chủ nhật là phải tự túc. Riêng tôi không thể dùng cơm chay được, vì cái bụng từ khi còn bé, mẹ tập ăn đã muốn ăn “mặn” cho đến giờ kể cả chuyện trò cũng “mặn” luôn! Với lại những thức ăn được nấu chay chỉ có hoa quả và rau xanh như thế thì làm sao đủ dinh dưỡng cho người bệnh như tôi được. Thấy chị tôi vất vả, nên tôi đã cố gắng ra căn tin “ ăn tự chọn, uống tự chọn” cho mau phục hồi sức khỏe hơn.
Tiêm mũi thuốc cuối cùng trong ngày thứ bảy ở khoa nội là tôi được về nhà. Những cảm xúc trào dâng miên man khi nhận tờ giấy ra viện. Tôi chỉ nhắn lại lời cảm ơn chân tình của mình đến Bác sĩ Thông, bác sĩ Khoa và các cô y sĩ, hộ lí ở Khoa nội. Nhưng nào quên được sự quan tâm nhiệt tình của bác sĩ Lê Văn Đính và các điều dưỡng ở Khoa hồi sức cấp cứu khi mới nhập viện. Chỉ có thuốc hay thầy giỏi đã cứu được tôi ra khỏi hiểm nghèo. Quý lắm các thầy thuốc ở bệnh viện Tuy Phước quê tôi, hơn cả những từ mẫu nữa, còn tặng cho những bệnh nhân thiếu máu trầm trọng sau ca mổ biết bao nhiêu là sự sống của mình, quý lắm như BS. Kỳ, BS. Nhung, cả những điều dưỡng và hộ lí nữa kia. Những ngày nằm viện tôi đã nhận biết bao tình yêu thương người thân, bạn bè thăm hỏi. Nằm viện tôi đã làm đến mấy bài thơ lục bát bốn câu cho luôn cả bản quyền đứa cháu học lớp bảy nộp cho cô giáo, mấy ngày sau nhận lại tin nhắn “Cháu được 9,5 điểm bài thơ về tình bạn. Cảm ơn bà dư nhiều!”. Có làm hư cháu không thì chưa biết, nhưng chữa cháy trước mắt là lỗi của bà, việc làm thơ viết văn đều phải qua rèn luyện. Gởi cho là xóa tin nên đến giờ chẳng nhớ tứ thơ như thế nào nữa. Mà chỉ còn lưu lại cảm xúc bất chợt khi vừa tỉnh ở phòng cấp cứu: “Ta còn mắc nợ trời xanh/ Trần gian là chốn vĩnh hằng tình yêu/ Lỡ mai nắng ngả ráng chiều/ Xôn xao miền nhớ phiêu diêu cõi bồng” (29.11.2011).

10.12.2011/ NTP

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng.


15/. NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI
  
 
            Sau khi chạy một vòng quanh những ruộng hành, có đám mới lên xanh, có đám đã héo lá đang thu hoạch củ, có đám lại đang làm đất, Kim hạ tay ga, nhấn thắng chân phải cho xe dừng lại bên lề đường bê tông, cô vừa mở khẩu trang che mặt rồi tự nhiên mau mắn:
            -Này anh gì kia ơi!... Kim mắc cười trong câu hỏi của mình, vội đưa tay che miệng. Rồi từ phía dưới xa cách cô đứng chừng khoảng mươi lăm mét là một giọng nam đáp trả:
            - Này chị gì kia ơi!... Rất khớp với lời thăm hỏi không quen biết, theo sau là một chuỗi cười lặp lại “- Này chị gì kia ơi!... -Này anh gì kia ơi!.. của đám thanh niên đang hì hục đào sâu lấy đất nâu cho vào từng thúng nhỏ bưng lên đổ thành đống lớn bên lề đường bê tông, nơi cô gái đang đứng đó. 
            Trời đang chuyển tiết lập thu, mây trắng rải đều trên cao che chắn màu nắng vàng ngỡ như muốn giữ lại dành cho hè năm sau hay những năm sau nữa, mà sao lúc này cả người cô cứ nóng bừng lên, hiện rõ trên đôi gò má nhô cao, nỗi ám ảnh từ câu nói của mẹ nhắc lại lời thầy bói “con gái có gò má cao là sát chồng” có thật vậy không, hay chỉ nói vừa để lấy tiền trong túi mẹ, mẹ gieo vào lòng con những lo sợ hoài nghi số phận mình. Những quyết tâm lao vào việc học nhất là từ lớp mười đến khi tốt nghiệp đại học ra trường đi làm đã hơn hai năm nay rồi, Kim chưa có một người bạn trai nào ngỏ lời yêu, thì mặc có sao đâu, cô đang chuẩn bị cho năm tới bảo vệ đề tài lấy bằng thạc sĩ nông nghiệp chuyên ngành trồng trọt, nên mới có chuyến ra đảo Lí Sơn, mà lại đi một mình. Đồng hành cùng cô là điểm dừng chuyện trò với người bán nước giải khát, là chị hàng cơm, là nhân viên bán vé tàu, là người ngồi bên cạnh trên tuyến xe buýt từ thành phố Quảng Ngãi tới cảng Sa Kì,… Kim biết xưa nay đám con trai có thói quen thấy con gái là trêu là đùa, nhưng cái trêu cái đùa của con trai miền biển đâu thể là ăn đàng sóng nói đàng gió, nó ngọt lịm như thứ đường phổi đường phèn nhai vào rùm rụm trong miệng, nuốt tới đâu khỏe tới đó. Nó như kẹo mạch nha trải lớp đậu phộng rang vàng hườm bên trên hộp, chỉ cần lấy chiếc đũa dích lên một ít bỏ vào miệng nhai đã dính tận chân răng thơm phức, chỉ cần ăn một lần là nhớ mãi, nhớ suốt đời nữa kia. Kim không nỡ bỏ đi khi người con trai có đôi mắt biển bình minh vừa đổ xong thúng đất nâu xuống lề đường, ôn tồn đến bên gợi chuyện:
             - Chị mới đến đảo lần đầu à! Ở đây bọn chúng tôi hay đùa với các cô gái lạ, chứ quen rồi thách thằng nào dám léng phéng, con gái đảo nhận chìm nước biển là chỉ có chết ngộp cả đời thôi, chị ơi thông cảm nghe!... Bọn chúng tôi ở đảo không đánh bắt cá thì tranh thủ làm đất găm tiếp củ hành củ tỏi cho nó lên xanh cũng nhọc công lắm chứ có sướng gì đâu chị!...
             Như thể gợi mở câu chuyện, Kim mạnh dạn hơn hỏi thăm từ cách lấy đất nâu dưới mấy chân núi trộn chung với phân bò rải đều lên mặt bằng rộng, sau đó mới phả lên trên lớp cát trắng lấy từ ngoài biển, và nếu lớp cát trắng qua vài năm trộn lẫn với đất nâu ngã màu vàng nhạt thì cứ tận dụng cho việc trồng lại hành cũng được. Sau khâu làm đất là chỉ việc lấy cuốc chỉa có răng cưa như cào cỏ, cào tới đâu là cấy hành xuống đó, thẳng băng như thể căng chỉ trông đẹp mắt lắm!...

           Chia tay người con trai đảo, Kim về lại phòng nghỉ Biển Đông trời đã về chiều, cô tranh thủ ra bờ kè gần bến cảng ngâm mình trong nước mặn. Nước trong xanh mát rượi, Kim cứ thỏa thích ngụp lặn cho đến lúc nhá nhem mới thong thả quay về dùng bữa chiều một mình tại quán cơm bình dân. Người phụ giúp bưng cơm không ai xa lạ chính là anh thanh niên làm đất ở ngoài bìa ruộng hành. Anh tò mò:
           - Chị dùng một đĩa cơm thôi à!...
           - Dạ, em cố gắng để thử có hết đĩa cơm của bác gái dành phần này! Nói xong Kim cắm cúi ngồi ăn, nhưng thực ra cô đang để mắt đến những người phục vụ trong quán cơm tuy nhỏ, rất đông khách. Một người đàn bà khoảng chừng năm lăm đang đứng xới cơm và gắp bỏ thức ăn theo yêu cầu của khách, một cô gái có dáng thanh mảnh cắt tóc ria trước trán và cột chỏm đuôi gà lên cao ở phía sau, gọn gàng trong bộ đồ thun xanh đen, một tay thu gom bát đĩa , còn tay kia cầm cái khăn lau sạch thức ăn rơi vãi lên bàn, Kim chào xã giao khi cô gái cầm họp tăm tre đến:
            - Nhà bán cơm vất vả mà chỉ có hai anh em giúp mẹ à!
            - Dạ không phải đâu cô, em là học trò của thầy Sơn dạy văn và chủ nhiệm lớp 12 đó cô, em vừa thi xong đại học và chờ kết quả, thầy ưu ái cho bạn nào có khó khăn thay phiên nhau đến phụ giúp bưng bê dọn dẹp rồi bà trả tiền công lao động thường ngày như mọi người, xong rồi là về nhà học bài làm bài,… Ủa mà cô mới chuyển về dạy ở trường thầy à, gặp được thầy Sơn là quý lắm, chỉ có một điều… Cô học trò chưa nói hết câu, quay sang nhìn anh thanh niên, rồi cúi xuống lau kĩ lại cái bàn. Im lặng. Chỉ có tiếng gởi trả tiền đĩa cơm, tiếng chào thầy Sơn tôi về nghe thân thuộc lắm. Thì ra anh thanh niên kia chính là thầy Sơn. Chắc vai thầy giáo chững chạc và đạo mạo lắm. Cô mạnh dạn mở miệng:
             - Sao học trò thầy Sơn lại lấp lửng, còn nợ cô cái điều chưa nói hết đó nghen! Tự dưng Kim nói được câu này, cứ ngỡ mình đã quen biết là bạn hàng cơm thường ngày với cô bé học trò của thầy Sơn.
            - Dạ, nếu cô về trường dạy thì biết hết!
            - Nếu cô muốn biết, nhưng cô không phải cô giáo thì…
            - Thì cô mạnh dạn hỏi điều bí mật, em chắc 100% thầy Sơn cũng đâu muốn giấu giếm chi cho khổ!...
             Kim đứng lên đưa tờ năm chục ngàn trả tiền đĩa cơm, cô bé bước đến quầy tủ mở hộc bàn cầm ba chục thối lại cho Kim, Kim gởi riêng cho cô bé học trò mười ngàn, nhưng bị từ chối, cô chỉ nhận lời cảm ơn. Về nhà nghỉ, chưa kịp thay áo quần, cô nằm xuống gường, hai mắt nhắm khít lại, đến khi tỉnh giấc nhấn điện thoại đúng bốn giờ ba mươi. Kim đứng lên, đến gần cửa sổ, vén tấm mành vải nhìn ra ngoài xa biển đêm còn lấp lánh ánh đèn, hơi sương ùa vào phòng lành lạnh. Trời sang thu thật rồi, không khí mát mẻ trong lành quá. Kim nhớ đêm hôm qua còn say bờ, cứ làm Kim dật dờ, mệt mỏi không ngon giấc như đêm nay.

        Cô chọn chiếc quần jean đen và áo sơ mi màu xanh da trời để mặc rồi đi ăn sáng, tiện đường ghé mua vé về Sa Kì, đến chiều kịp về Gia Lai còn một ít việc phải làm. Kim mở dây kéo túi xách lấy sẵn tiền để trả cho người bán vé, cái bóng ai đó đã đứng trước mặt Kim, thì ra thầy Sơn đang cầm cặp vé tặng cho Kim một ghế ngồi, Kim lúng túng đưa khoản tiền có sẵn trong tay mình cho thầy Sơn, nhưng thầy Sơn nói chỉ vừa cho Kim nghe tiện tàu sang bên kia bờ để học chuyên môn, tôi tặng chị một kỉ niệm gọi là chút quà người miền biển ấy mà, khi nào có dịp gặp nhau nữa thì chị nhớ tặng lại tôi một vé bay trên cao, tôi khao khát mà chưa có cơ hội. Kim nhe răng cười khì: tàu bay giấy thì đảm bảo muốn lúc nào sẽ có ngay! Rồi từ câu chuyện cổ tích tàu bay giấy vỡ lòng đưa hai con người ngồi bên cạnh xóa tan khoảng cách về không gian, về địa lí. Họ tiếc chặng đường mười sáu hải lí không thể kéo dài nữa, rồi tuyến xe buýt ba mươi phút càng ngắn hơn, thầy Sơn tặng Kim tập truyện Nơi giữ lại tình yêu vừa mới xuất bản. Kim ngạc nhiên và mến phục thầy giáo dạy văn có lắm nghề tay trái. Nào là làm đất trồng hành, nào là chạy bàn phục vụ cơm bình dân, nào là hướng nghiệp cho học sinh yêu lao động, nào là viết văn,..

         Theo thói quen, Kim mở trang sách cuối cùng xem phần mục lục, bởi đầu đề gợi cho Kim tính tò mò, chiếc xe khách lên khỏi đường đèo Măng Giang là kết thúc truyện. Kim thương nhân vật người đàn ông có tên Hậu cặm cụi hơn hai mươi năm nuôi mẹ vợ mù lòa nằm một chỗ, nuôi con khôn lớn bằng cái nghề trồng hành trên đảo… Thường mỗi câu chuyện hay phim ảnh kể lại trong thời chiến, các chị nuôi dưỡng mẹ chồng khi anh ra trận, đến lúc chiến thắng trở về hay vĩnh viễn ra đi thì người phụ nữ vẫn một mực gánh vác “giang sơn” nhà chồng.
             Và đấy là lần đầu tiên trong đời Kim đồng hành cùng thầy giáo Sơn đi tàu cao tốc trên biển, nói chính xác là người bạn trai ở tuổi trung niên dễ mến trong giao tiếp, dễ nhìn trên gương mặt, là ánh mắt chân tình, là bờ vai rộng, là vòm ngực bể khơi, là vóc dáng cánh buồm, là hòa chung hơi thở mặn mà biển khơi, nhưng biết rõ về anh chỉ mới phần tư chặng đường. Có một điều ở người “thanh niên” chưa bao giờ nhắn tin hay gọi điện thoại cho Kim trong giờ hành chính. Khác với những đồng nghiệp của Kim cùng cơ quan cứ tủm tỉm cười khi sờ tay vào túi mở ra đọc tin nhắn. Kim muốn ganh tị với họ. Kim chỉ đọc được mail anh gởi kể chuyện thường ngày trên đảo khoảng sau tám giờ tối. Thầy giáo Sơn chưa bao giờ có một thông tin: Kim thương, Kim nhớ, Kim yêu dấu của anh! Mà sao Kim thương, Kim nhớ, Kim yêu dấu anh theo từng nhịp đập con tim của mình…
             Dân trên huyện đảo xôn xao cái quán cơm bình dân cho người lao động, cho khách “du lịch” thuở nào đề thông báo: Nghỉ bán một tuần từ ngày… đến ngày… tháng … năm… sẽ bán lại. Thì ra thầy giáo Sơn lấy vợ. Tin thầy Sơn lấy vợ, các cô giáo trong tổ văn, trong hội đồng sư phạm nhà trường không khỏi ngạc nhiên khi cầm thiệp cưới. Một cô gái thành phố lớn ở tây nguyên về làm dâu huyện đảo. Rồi công việc làm sao, người bàn ra kẻ nói vào phụ giúp mẹ rửa chén bát, đi chợ nấu ăn. Người thì thêm thắc lo thầy Sơn xin chuyển về quê vợ. Còn số học trò đã từng học thầy Sơn cứ tíu tít đến giúp một tay quét vôi, sơn lại vách tường, sắp xếp bàn ghế, chỗ ngồi cho họ nhà trai, nhà gái,… và dành số ghế cho đám học trò là nhiều nhất. Kim quên mất lời ông thầy bói thuở nào, chị hạnh phúc sánh bước bên anh đến bến cảng Sa Kì vừa kịp chuyến tàu ra đảo lúc bảy giờ ba mươi sáng chủ nhật cùng thời điểm mà trước đây ba năm cô chỉ đi một mình.

             Nàng Âu Cơ của mười năm đầu thế kỉ XXI tự nguyện theo chàng Long Quân nhập hộ khẩu miền biển, chị chuyển công tác về phòng Nông nghiệp huyện đảo. Cây hành muốn lên xanh cho “lá bằng đòn gánh củ bằng bình vôi” như trong truyện ngắn Nơi giữ lại tình yêu mà tác giả thầy Sơn đã kể về nhân vật anh Hậu từng chăm chút cây hành trong cảnh côi cút nhớ thương người vợ buôn hành sang biên giới mà không thấy trở về, chỉ nghe dư luận bàn tán cô vợ anh Hậu theo mấy ông lá, ông tàu gì đó xanh mượt lời rủ rê. Quả bụng đàn bà, dạ con nít. Còn lúc này… ông trời khắc nghiệt như thể ganh tị với con người cứ trộn lửa trong nắng đổ xuống cả ngàn hắc-ta ruộng hành, chỉ cần sờ lên cát đủ bỏng cả tay, nguồn nước bơm đã cạn, nước trên hồ dẫn về cũng chưa đủ sinh hoạt huống chi là cứu sống cây hành. Dù trăm hay cũng đâu bằng tay quen, việc áp dụng khâu kĩ thuật vào việc trồng hành ở Phan Thiết rất thành công, không lẽ ở quê chồng chẳng muốn cho chị vẻ vang hay sao, chị rươm rướm nước mắt nhận về mình những lời hằn học, nào là trăm hay cũng đâu bằng tay quen, từ cha sinh mẹ đẻ lớn lên đã trồng cây hành cây tỏi, còn nào là da trắng tóc dài tóc suông thì cái ngữ ấy chỉ đặt trong tủ kính cho thầy Sơn ngắm, chứ dân biển này đã từng đem cây hành chống gió chống bão ngàn đời nay rồi!... Một chồng sách dày cộm, một hệ thống thông tin mạng đang “bí mật” trước đôi mắt mở to của Kim, không lẽ bó tay. Kiến thức sách vở là một phần trợ giúp cho chị, nhưng thực tiễn cây hành trên đảo mới là chính. Kim lần dò đến những cụ già, bà lão đã từng chuyên trồng hành xưa nay, cuối cùng dẫn đến một kết luận. Bổng lộc cây hành đôi lúc còn là trời cho, chỉ có thể che chắn nắng phần nào với những đám hành mới vừa lên xanh. Cây hành trên đất dẫu thất thu thì vẫn còn thấy đó, chứ đâu như mấy người bạn của Kim đã từng kể việc nuôi tôm nước lợ, lúc trời đang nắng to lại đổ mưa xuống thì ngỡ như đang sấm sét trong ruột trong gan chứ sướng được gì.

          Kim lấy lại sự tự tin khi bên cạnh chị còn có một số cán bộ nông nghiệp ủng hộ, một số hộ nông dân trồng hành cùng sẻ chia, thông cảm. Diện tích đất trồng cho mùa hành năm nay được mở rộng, bón thêm phân đúng thời điểm cho củ hành từ dưới lớp đất nâu đen đã bung nở nhiều củ cho nhánh thêm xanh trên mặt cát trắng. Chỉ cần đi ngoài bìa hành mọi người đã tận hưởng hương vị đặc trưng của lá mỗi khi cơn gió thoảng qua. Lá vẫn giữ độ xanh trong tô canh chua mà trước đây dễ bị ngã màu. Và câu chuyện đầy hào hứng hơn về “cây hành” trong mỗi bữa cơm thân mật của từng hộ gia đình trên đất đảo Lí Sơn.
        Đã gần ba năm rồi, bây giờ nằm bên nhau Kim mới nghe rõ hơi thở của Sơn đều đặn hơn cùng với hạnh phúc đang từng giờ lớn lên trong bụng chị gần năm tháng rưỡi, khi  anh vừa đặt tay lên bụng vợ đã bị một cú nẩy đạp mạnh tấn công nhô cao bằng quả trứng gà làm bàn tay anh nhô lên theo, rồi như thể chuyển sang phía khác, cứ thế mà tiếp tục đến hai ba lần. Sơn nhịp nhịp bàn tay mình trên bụng vợ khe khẽ : “-Này anh gì kia ơi!.. -Này anh gì kia ơi!...” chịu khó “tù túng” ba tháng rưỡi cộng thêm mười ngày nữa ra hít thở hơi muối mặn nồng, phổng phao như Thánh Gióng lướt gió lượn sóng vẫy vùng, biển xanh đang chờ con tiếp sức. Sơn vừa nhắc lại đến lần thứ ba: “Này anh gì kia ơi!..” thì Kim quay lại nhéo vào bắp tay anh một cái nũng nịu nói nếu không có “ Này… chị … gì …kia…ơi!...” thì làm gì có cái cục cưng trong bụng này. Hích.
             Qua khung cửa sổ, gió ngoài khơi như muốn ganh tị ùa vào xua tan cái màu vàng trăng mười sáu đang soi rõ hai gương mặt mà bao nhiêu đêm họ hằng thao thức, giờ mới thực sự viên mãn. Trên cao xanh không một gợn mây. Còn họ gối đầu trong câu chuyện cổ tích thuở nào rồi cùng khúc khích cười muốn vỡ cả ánh trăng hồn nhiên nhân hậu.
                                                                                                                 15.8.2013


Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

KIẾN, thơ Nguyễn Thị Phụng


KIẾN
                      Kiến tha lâu đầy tổ















(ảnh sưu tầm trên net.)


Vẫn là đàn kiến ngày đêm
Tha bao nhiêu hạt cứng mềm đầy hang
Thể như cơ hội chuyển hàng
Của rơi cũng phải của làng chẳng sao!...
Sợ chi cửa đóng tầng cao
Vượt tường luồng lách ra vào yên tâm
Hội hè yến tiệc tràn mâm
Tha hồ bu kéo vào hầm nhỏ to
Phổng phao quên lúc ốm o
Giật mình nước lớn đâm lo vỡ bờ  ./.
23.10. 2018/ NTP


Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN, thơ Nguyễn Thị Phụng


















LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN.
Xoay một vòng quay em lên thăm chị
mộ phần cạnh hồ nước trong veo.
Khói sương phả vào nắng thu 
man mác.
Ánh mắt tìm về
thuở xa xưa
đời chị...
Chỉ còn gió và gió
và mây trời đụn lại
ám ảnh chực mưa
Lòng hồ vẫn bình yên nơi ấy...
BMT,10.10.2018 / NTP


























































































Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

CỔNG LÀNG, thơ Nguyễn Thị Phụng


 CỔNG LÀNG*

















Cổng làng xưa nay vẫn
Một bể tình ung dung
Đón con mùa nắng ấm
Tiễn con chạnh mưa dầm

Gió nhẵn mòn va vập
Lại nổi những rêu xanh
Cổng bao năm gìn giữ
Nét mĩ tục thuần phong

Cổng làng không cánh cửa
Nhưng chỉ đóng âm thầm
Kẻ bao năm xa xứ
Về đong lại tri ân…

Bếp lửa hồng đánh thức
Bình minh trên ruộng đồng
Cửa làng luôn nhắn nhủ
Gìn giữ tình non sông

Này khuôn vườn khép mở
Cổng làng có thản nhiên
Bước chân người mãi miết 
Chở từng ngày bình yên
               08.06.2015/ NTP
 *Trích Bến Xuân (NXB HNX 2016)