(ảnh sưu tầm trên net.)
Đừng gọi em nhà thơ/ sao bằng anh XuânDiệu/ Trái tim muôn nhịp điệu/ Em chỉ biết mộng mơ.../ Đừng gọi em nhà thơ/ sao bằng anh Tiến Duật/ Đêm Trường Sơn đỏ rực/ Xe không kính đường dài/ Đừng gọi em nhà thơ/ Chị Thanh Nhàn hương bưởi/ Khúc khích cười em tủi/ khung cửa sổ gió lùa/ Đừng gọi em nhà thơ/ Em chỉ biết mộng mơ/ Khoảng trời cao xanh thẳm/ Cứ ngẩn ngơ ngẩn ngơ.../ Nguyễn Thị Phụng
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018
KIẾN, thơ Nguyễn Thị Phụng
(ảnh sưu tầm trên net.)
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018
LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN, thơ Nguyễn Thị Phụng
LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN.
Xoay một vòng quay em lên thăm chị
mộ phần cạnh hồ nước trong veo.
Khói sương phả vào nắng thu
man mác.
Ánh mắt tìm về
thuở xa xưa
đời chị...
Chỉ còn gió và gió
và mây trời đụn lại
ám ảnh chực mưa
Lòng hồ vẫn bình yên nơi ấy...
BMT,10.10.2018 / NTP
Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018
CỔNG LÀNG, thơ Nguyễn Thị Phụng
Một bể tình ung dung
Đón con mùa nắng ấm
Tiễn con chạnh mưa dầm
Lại nổi những rêu xanh
Cổng bao năm gìn giữ
Nét mĩ tục thuần phong
Nhưng chỉ đóng âm thầm
Kẻ bao năm xa xứ
Về đong lại tri ân…
Bình minh trên ruộng đồng
Cửa làng luôn nhắn nhủ
Gìn giữ tình non sông
Cổng làng có thản nhiên
Bước chân người mãi miết
Chở từng ngày bình yên
08.06.2015/ NTP
Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018
THƯƠNG NHAU NÓN NGỰA ĐỘI ĐẦU, Nguyễn Thị Phụng


Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2018
NẮNG GIÓ VƠI ĐẦY, trích Cho anh xin lỗi(NXB HNV-2015)
Chị yêu những buổi trưa hè miền Trung mình nhất là ngày Hạ Chí. Bầu trời không một gợn mây, màu nắng vàng rực chưa bị con gió nào lay động. Bờ tre sau nhà có còn kẽo kẹt khắc khoải nữa đâu, chiếc lá xanh mỏng mảnh vốn nhạy cảm hiện tượng không khí trong khí quyển chuyển động thành luồng từ vùng có áp suất cao đến vùng có áp suất thấp. Thế mà lúc này lá se lại, phơi mình dưới lò sưởi từ trên trời phả xuống, trùm cả không gian bên ngoài. Từ bụi chuối hột bền bỉ gió mưa từng chiếc lá rách lành đùm bọc, giờ rũ xuống quắt queo. Cỏ hai bên đường khô cháy chỉ cần châm chút lửa là lụi tận gốc. Chỉ riêng cánh đồng lúa mơn mởn một màu xanh mượt mà bởi đủ lượng nước của Thủy lợi cung cấp, nhà nông còn nhọc công chăm bón phân lạc, diệt cỏ, trừ sâu,… cho một năm hai vụ để cuối mùa bội thu, giờ đang thách thức với khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt này. Chị ngồi trong nhà, mồ hôi túa ra, mắt vẫn không rời từng trang sách, thỉnh thoảng đưa tay vuốt mặt, còn chiếc áo đẫm ướt cả thân sau. Lịch hôm nay cúp điện, trời nóng lại càng nóng hơn.
Gần hai giờ chiều,trời mới chuyển gió. Đâu phải là gió nồm mát dịu ẩm ướt thổi từ biển Đông vào như ngày hôm qua mà ngọn gió Lào nóng khô thổi từ phía Tây đến. Chị nhớ mẹ bảo mùa này nồm- nam thường giành lộn nên trời rực lắm. Nói như thế thì ra gió cũng khao khát người, tranh nhau tìm đến người, sao lòng người chẳng bao dung chút nào hết. Chị nghĩ gió nào cũng là gió. Tự bản thân nó cũng xuất phát từ đất trời về lại đất trời. Góp nhặt chắt chiu cho lắm thành bão tố rồi cũng tan biến trong không gian. Theo từng mùa trong năm, dựa vào đặc điểm cấp độ nhanh chậm, gió có nhiều tên gọi khác nhau. Gió heo may nhè nhẹ của trời thu đem đến hơi lạnh và khô, gió bấc ngập đông lạnh lùng se sắt cả ngày đêm đơn lẻ, hay những con gió chướng tức bực nỗi niềm từ phía tây thổi đến, gió giật từng cơn điên cuồng mạnh lên đột ngột rồi như sực tỉnh lại yếu đi, đôi lúc giật từng hồi bỏ ghét, chỉ vì thỏa mãn tính khí ngông cuồng dữ dội mà gió lốc xoáy mạnh nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ thôi… Tất cả gió đến rồi đi lúc ào ạt dữ dội, lúc phe phẩy nhẹ nhàng chẳng khác nào tính khí con người sân si phẫn nộ,hay nhã nhặn dịu dàng,…! Nhưng điều duy nhất con người dù ở đâu thì gió cứ tự nhiên ập đến, ghét những kẻ cốt yên thân gió chiều nào che chiều nấy. Gặp những lúc gió táp mưa sa liệu có là cây thẳng đứng vững vàng giữ trời xanh. Còn đường trần gió bụi thì đôi vai gầy của chị cứ chông chênh, chông chênh. Chị đón nhận nó không than phiền như đón nhận cuộc sống trên đời này đã dành cho chị.
23.05.2010/ nguyenthiphung
Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018
CỬA LÀNG VINH THẠNH (Sưu tầm và ghi chép), Nguyễn Thị Phụng
(trước đây đặt tại đình làng Vinh Thạnh), nhưng qua biến cố giờ được lưu giữ tại tự đường Đào Tấn.
Sự
tồn tại tộc người luôn gắn liền với cộng đồng làng xã. Cửa làng Vinh Thạnh thuộc
xã Phước Lộc quê tôi tính đến nay tròn một thế kỉ. Nhân kỉ niệm 111 năm ngày giỗ
Danh nhân Văn hóa Đào Tấn, rằm tháng bảy năm Mậu Tuất (2018). Thuở ấy những chàng
trai trong xã, ngoài huyện mến mộ con gái tộc Đào, cưới được vợ là về ở lại Lí
môn, nên chăng đất lành chim đậu. Trong đó có thể kể ông cố nội tôi Nguyễn Táp(Nguyễn
Tân, đỗ thứ 3/8 cử nhân khoa Ất Dậu 1885- Hàm Nghi thứ I Trường Thi Bình Định),
làm quan huấn đạo huyện Tuy Phước, giờ chỉ còn lưu lại hai câu đối tặng cho thủ
khoa Lê Thân cùng khóa với ông: “Nhập
cách văn chương, học vấn nguyên uyên khả khảo/ Cao tiêu giáp đệ, giang sơn
phong vận thiên đa”(Dịch: Văn chương
trúng cách, học vấn uyên thâm thì xét được/ Tên tuổi đề cao, núi sông vận tốt
đã nghiêng về)***. Điều ấy cũng minh chứng ngày cụ cố tôi mất, trên liễn
ghi: “Cư quan bất cải điền viên thú/ Dung
sĩ tự hữu thiên vạn gian”**** đặt trước bàn thờ ông đến giờ. Sau này thêm tộc
Huỳnh, tộc Đặng, tộc Trần,... đều là con cháu rể họ Đào về ngụ cư tại làng Lí môn
Vinh Thạnh là
niềm tự hào chung về miền đất học của quê hương./.
15.08.2018- 2020/ Nguyễn Thị Phụng.
** Bia đá Đào Tấn:
***Trích Các nhà Khoa bảng Bình Định dưới triều Nguyễn- Tiễn
sĩ và cử nhân (1807-1919) NXB Thuận Hóa (Nguyễn Phu- Nguyễn Thiều).
**** Trên cặp câu liễn có ghi hai chữ 成泰 (Thành Thái)/ 丙申 (Bính Thân), tức năm 1896
Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018
SÓNG BẠC ĐẦU VÀ BIỂN BAO LA- Nguyễn Thị Phụng
(Đọc tập “Lãng Đãng Giữa Đời” thơ Trần Viết Dũng)
Tôi biết Trần Viết Dũng qua bài thơ “Vua và Em” và lần đầu tiên nghe anh đọc bài “Gái Bình Định: “Mới nghe đã hoảng hồn tôi/ “Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền/ Sao em đi đứng ngoan hiền/ Sao em má lúm đồng tiền duyên ghê ! Nói một cách nôm na là anh tán gái thật khôn khéo lại tự nhiên thấy vui vui và hay hay. Chàng thi sĩ hiền hiền trong giọng nói, trong mỗi tứ thơ để rồi tôi lần dò tìm đọc cả tập “Lãng Đãng Giữa Đời”(NXB Trẻ, 1993) của anh, nhà thơ đất võ làm thơ tình bén hơn cả đường gươm, cứ lâng lâng ngỡ đang ngụm chút rượu Bàu Đá quê mình mới lạ chứ!
Thường qua mỗi tác phẩm thể hiện phong cách người sáng tác. “Lãng Đãng Giữa Đời” chỉ vỏn vẹn ba mươi mốt bài thơ mang đậm chất trữ tình đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn và yêu cho hết mình mới thôi. Nếu “Lãng Đãng Giữa Đời” như vị ngọt của tình yêu đôi lứa, những trăn trở thường ngày là đề tài hấp dẫn nhà thơ, ta đọc hết ở thi sĩ sự chờ mong mòn mỏi:
“Người ơi, người nếu có về
Chớ cay đắng bạn, chớ thờ ơ tôi
Nụ tầm xuân nở biếc rồi
Hình như có bước xa xôi trở về”
(Ca dao)
Khi vận dụng những cụm từ “người ơi” “nụ tầm xuân” trong ca dao xưa để nói đến cách cảm mới ca dao hôm nay, muốn nhắn gởi còn e dè kín đáo của chàng trai mới lớn đang khát khao yêu. Thi sĩ chợt nhận ra: “Bắt đầu bàn tay nâng trái cấm/ Loài người từ đó biết khổ đau” để rồi: “Ngõ hạnh tôi, em bắt đầu bước lại/ Cây đau thương cũng từ đó bắt đầu”(Bắt đầu). Cái quả ngọt tình yêu đã nẩy mầm được trân trọng nâng lên, khi nó không còn là bản năng sinh tồn của loài người, nên trong dòng chảy cảm xúc luôn được thăng hoa mà đầy trắc trở: “Mùa thu, mang tim em sai nhịp/ Như lần đầu người nói dễ thương/ Giọt máu chung tình phong kín lại/ Chiếu chăn nhàu dỗ giấc triều sương”(Đi giữa mùa thu). Phải chăng đó là sự trái ngược trong lập luận của anh: “Như hơi chỉ bốc lên trời/ Như nước chỉ rớt xuống đời vu vơ”(Đối khúc) theo quy luật tự nhiên. Còn với tình yêu là khái niệm trừu tượng nhưng dễ dàng nhìn thấy qua ánh mắt, cử chỉ, thái độ, lời nói,…là bến đợi mở lòng sẻ chia:
“Lênh đênh con sóng thời gian vỗ
Sóng bạc đầu và biển bao la
Nửa đời, người chẳng nơi cư cố
Thôi, ta xin làm một quê nhà”
(Thuở xa người)
Hình ảnh “một quê nhà” trong câu thơ anh vừa ấm áp chân tình, vừa gần gũi bao dung như dang rộng vòng tay đón chờ. Bởi tiếng lòng anh tha thiết nhận ra: “Chúng ta lớn lên bên nhánh sông hiền / Xanh và đen như mắt người thiếu nữ / Cái nhìn khiến mềm lòng tên lãng tử/ Lúc quay về có bóng nhỏ đứng trông” rồi nỗi lòng khao khát: “Đã khuya rồi trăng đòi ngủ sau mây/ Ta đưa nhau về lòng nhớ nhung quá đỗi / Nếu vắng bé làm sao anh sống nổi / Dưới trần gian vốn đã chẳng vui này”(Về lại vùng tuổi nhỏ). Anh khẩn cầu không hoài công uổng phí những khao khát ấp iu cho môi thơm ngọt ngào vụng về cháy bỏng:
“Cho anh một nụ lôi thôi
Lần đầu run, lệch tâm môi đôi miền
Cho anh một nụ ngoan hiền
Rơi trong giấc ngủ hồn nhiên trăng tà”
(Những nụ hôn).
Theo Trần Viết Dũng, tình yêu ai nói bằng lời, ngoài nắm tay, “nụ hôn” mới chỉ là bước tiếp theo để biểu hiện cảm xúc nhẹ nhàng sao vụng về đến thế! Tiếng nói trái tim thật dịu kì mạnh mẽ, trái tim nhạy cảm đa mang nâng hương hoa tinh khiết làm cội nguồn chắp cánh hồn thơ anh bay bổng: “Em áo trắng xưa kia hoa khôi lớp/ Ta học trò bỗng chốc hóa nhà thơ/ Bài thơ đầu em mang đi đâu mất/ Lỡ vần tôi từ dạo ấy đến giờ…/ Lỡ vần tôi thân thế chẳng ra gì” (Hoài niệm hoa). Phải chăng đó là lòng biết ơn, có tà áo trắng bay bay trong nắng vàng với dáng Kiều em mới cho anh làm thi sĩ. Phải chăng đó là sự nuối tiếc và phải chăng tự trách mình là người đến sau! Hay là sự mặc cảm thân phận, cách sĩ diện thân thế chẳng ra gì, tính ích kỉ còn tồn tại ở một số “bậc mày râu” !
Đến “Lãng Đãng Giữa Đời” là đến chàng trai Bình Định, vùng đất địa linh nhân kiệt, nổi tiếng văn hay võ giỏi. Và tiếng đồn võ giỏi có sức lan tỏa mạnh, biết rằng thi sĩ người Bình Định nhưng thật khéo léo trong cách kể chuyện “Vua và em”. Đó là tình yêu của chàng trai Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân thuở nào. Có lẽ, trai Bình Định đến con gái Thăng Long, xứ sở của vương triều, lúc này thi sĩ rất tự hào: “Ta- trai Bình Định hơi khô cứng / Rất thật tình riêng phong cách miền Trung / Ô hay! Sông núi sinh người vậy / Mà lúc nào cũng độ lượng bao dung”(Vua và em). Vừa khẳng khái vừa độ lượng nhân từ, chỉ bao nhiêu đó đủ vốn để có thể chinh phục hàng vạn trái tim con người, đâu riêng gì một “Em” ?!... Điều gì đã không cho phép anh, nên “con gái Thăng Long” ấy dù “ ốm o mình hạc” thông cảm và hiểu anh hơn. Dù cho xã hội phong ưu ái phái nam có quyền đa thê. Mà hạnh phúc lứa đôi không thể có sự chắp nối. Đó phải chăng là giới hạn của tự nhiên, của hoàn cảnh gia đình, của xã hội quy định. Và dù có tham lam đến mấy thì anh phải có sự lựa chọn, cái tâm cái đức của bậc trượng phu nào cho phép anh làm ngơ trước lá ngọc cành vàng kia. Anh thắt lòng: “Và có lẽ, mai chia tay buồn lắm / Em ốm o mình hạc Thăng Long / Thương áo trắng đi giữa trời sương khói/ Ta đã yêu, thôi em cứ an lòng”. Vâng, “Ta đã yêu, thôi em cứ an lòng”. Không anh và em, mà ta và em. Cách lựa chọn vai vế trong xưng hô phù hợp với thời đại cũng mang tính cả quyết, đầy quyền uy, nhưng không thể bảo bọc sẻ chia cho riêng em được. Dù trong hoàn cảnh nào khi ta đã yêu thì không ai có quyền cản trở, em cứ yên lòng với tình yêu ta dành cho em trọn vẹn cũng như bao người con gái khác vậy. Ta yêu em chính là yêu cái đẹp. Đã là người không ai không yêu cái đẹp. Thưởng thức và trân trọng cái đẹp là thưởng thức cái chân thiện mĩ. Thi sĩ ngộ ra trong một tứ thơ ba câu rất mới giữa đời thực và mộng:
“ Nhiều khi thơ là phiến phù vân
Lững lờ trôi giữa chiều hoa định mệnh
Trong vô thường lặng lẽ bay đi
Và sự lặp lại:
“ Nhiều khi trời bong bóng vỡ, nhiều khi…
Em phù phép kéo ta về đời thực
Rồi tan theo bụi ô nhiễm nơi này”
(Tùy bút thơ)
Cách lí giải chưa đủ sức thuyết phục, độ tin cậy chưa cao, bởi đời thực tuy khó khăn thiếu thốn, ta vẫn biết chắc chiu gìn giữ lấy lề dù áo mặc rách bươm. Mọi chông gai chỉ là bước đầu: “Sau mỗi chuyến làm ăn thất bại/ Tôi với đời cay cú chuyện áo cơm/ Thơ bỗng về hòa giải- thiệt, hơn/ Và vỗ về, tôi cảm ơn biết mấy”(Gạch nối thơ). Cái gạch nối thơ và đời là hai mặt đối lập bổ sung. Nếu thơ là suối mát giữa trưa hè gay gắt thì đời chính là ngọn lửa giữa đêm đông. Nên đời yêu thơ bao nhiêu thì thơ yêu đời bấy nhiêu. Có thế thơ mới giải tỏa sầu bi bế tắt khốn cùng những lúc phải ngụp lặn giữa bể dâu ngỡ không còn lối thoát, thơ là khúc ca nâng cánh cho ta vẫy vùng giữa xanh thẳm trời xanh.
Đọc “Lãng Đãng Giữa Đời”, ta luôn bắt gặp những tứ thơ mang đầy tâm trạng, nỗi niềm của một tâm hồn đa cảm, đa đoan. Trần Viết Dũng đâu chỉ dừng lại những khung cảnh tuổi học trò hào hứng nơi bước chân đi qua ắp đầy kỉ niệm khi “Đêm trở lại Quy Nhơn”* từ ngã tư, ghế đá, góc quán, Cầu Đôi,… thuở nào cho thi sĩ nuối tiếc: “Đâu còn thuở mười lăm mười bảy / Ngược vòng xe liều lĩnh đi tìm” nữa. Giờ với anh “Trắng”* tất cả trong một bài thơ tám câu với tám từ “trắng” thật chạnh lòng: “…Ngược xuôi rồi cũng trắng tay/ Trở về sương gió trắng vai áo mình…” Và nếu thế thì… “ốm o mình hạc” không còn là của con gái Thăng Long kia nữa, mà chính là anh. Cái điệp khúc ngỡ yêu chưa đủ dày vò mãi cuộc đời đến lúc nào đó phải chết mòn trái tim thi sĩ. Hầu như anh cứ lận đận nhọc nhằn tình yêu đôi lứa, quẩn quanh:
“ Để đêm đêm riêng dưới mái hiên nhà
Em lặng rót trái tim làm hai nửa
Anh lặng xót mắt môi mình không nỡ
Thà như sương cứ lãng đãng giữa đời”
(Lãng đãng giữa đời).
Còn riêng mười hai khổ thơ, mỗi khổ bốn câu trong “Trường sơn khúc”* viết cho bạn bè bị động viên năm 1972, ở miền Nam không thoát ra được nỗi cô quạnh, mặc dù: “Đứng thẳng vói tay cao hơn núi/ Mới hay trời quá đổi cao xa/ Hỏi rừng, nay đã bao nhiêu tuổi/ Trải mấy thu đông rừng sẽ già”, nhoi nhói quặn đau: “Trường Sơn, Trường Sơn sâu gió hú/ Thú rừng gầm giọng động một phương/ Nghe thú: lạc đàn buồn bã lắm/ Nghe ta: mù mịt một quê hương”.
Dẫu biết rằng thơ với anh như dưỡng khí thường ngày hít vào thở ra, môi trường trong lành là đồng lúa uốn câu nặng hạt reo tay người rộn ràng mùa gặt, là mặt biển xanh dập dờn con sóng,…là cơ hội cho tứ thơ thăng hoa. Cũng như theo quan niệm của Viteslav Nezval: “Với tư cách nhà thơ, chúng ta không cần hạ thấp yêu cầu của chúng ta với thơ. Thơ cần là chính nó ngay khi chúng ta đặt ra cho nó những nhiệm vụ mới. Ngược lại nữa – chính do có những nhiệm vụ mới, thơ lại càng là chính nó ở mức cao hơn”. Cái cốt ở thơ không là loại thể, vần điệu, cái cốt ở thơ là chính nó gắn liền với cuộc sống của con người với đất nước và dân tộc. Chúng ta tìm được ở Trần Viết Dũng “ Khuyên mình”* với bốn câu kết: “Dù đời sống hành thơ kiệt sức/ Cũng nhoài người ôm giữ trái tim / Còn nhịp đập lẽ nào bất lực/ còn yêu thương thì phải cố công tìm”. Nào đâu là lời tuyên ngôn vẫn chắc như đinh đóng cột vậy. Chúng ta sẽ đón chờ ý tưởng cố công tìm của anh trong những tập thơ tiếp theo.
29.8. 2012
____________
*Tên những bài thơ trong tập








