Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2019

GIẢI THƯỞNG NHÂN DÂN, Nguyễn Thị Phụng


Truyện kí mini:
PHẦN THƯỞNG NHÂN DÂN

         Chợ chiều chen chúc chỗ ngồi.
       Tôi dừng lại cuối hàng cá bờ, chọn mua quả bầu non. Người bán rau ngồi bên cạnh ngước qua hỏi: “Xin lỗi, có phải cô… là cô Phụng đã nghỉ hưu?”. Tôi vừa gật đầu vừa dạ, đúng ạ! Người đàn bà ngoài bảy mươi, hơi gầy, đôi mắt sáng ấy nhìn tôi vẻ ưng ý: tôi đã đọc ở cô qua ba tập sách. Hay. Tôi ngạc nhiên: Vậy à, mà sách ở đâu có cho chị đọc!... Chị giữ cái nhìn thiện cảm: - Tôi mượn ở thư viện Tuy Phước. Mà sao sách cô không bán lại tặng vậy. Thay vì trả lời, tôi chỉ cười thăm hỏi: - Ủa, mà chị ở đâu? Chị nói là ở Phước Thuận, rồi hào hứng với bài viết về Bánh xèo ngày chủ nhật ở Mỹ Can, nào là Khi nhà thơ đi chơi ở Tây Sơn, nào là Nơi tình yêu giữ lại ở Lí Sơn nữa,…
         Tôi cúi người, đón bàn tay chị chìa ra ấm áp trong cái bắt tay lần đầu đầy xúc động: Cảm ơn chị, chào chị. Vẫn không quên trả tiền người bán quả bầu non, bước chân đã xa còn nghe chị tấm tắc: Văn đúng hay!... chen lấn trong buổi chợ chiều vội vã. Về đến gần nhà, đèn đường bật sáng, mới nhớ chưa biết tên chị là sao!...
24.03.2019/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2019

KHI GIỌT NƯỚC RƠI , Nguyễn Thị Phụng

  KHI GIỌT NƯỚC RƠI  



  (Đọc tập truyện ngắn Nụ hôn đầu của chim én của Nam Thi, NXB- Vh Vn. 2019).
      Không hẳn giọt nước trong lá sen kia mãi lung linh, rồi lá sen héo, nước sẽ bốc hơi. Sự chuyển động không khí, giọt nước rơi xuống đất. Điều kì diệu xảy ra. Thể như sau khi đọc tập truyện ngắn Nụ hôn đầu của chim én của Nam Thi cũng vậy. Giá trị văn hóa đời sống sẽ từng bước nảy mầm chỉ nhờ vào giọt nước ấy. Truyện ngắn chưa phải là thước đo thuần túy trong sự tinh lọc “thời cuộc” mà phận người là trung tâm. Nhưng với tập truyện ngắn đầu tay của Nam Thi góp vào đời sống tâm hồn bạn đọc sự ưu ái nào đó dành tặng tác giả hay tặng cho nhân vật trong từng cốt truyện đều không thiên vị.


      Sự đồng hành hai mươi lăm truyện ngắn được khép lại Trên chuyến xe buýt số 150*, có phải là chủ ý nơi gặp gỡ ban đầu vừa trẻ trung, vừa tử tế từ một góc nhìn đầy thiện cảm ở hai nhân vật: tôi và anh, để “Tôi thực sự mong gặp lại anh” đã là hiện thực “Tôi ngoan ngoãn leo lên yên sau xe anh”. Nhưng Người đồng hành* lại không thể níu giữ cái không thuộc về mình, nếu như chỉ có chung về sự lựa chọn thể chất như Thủy- nàng, với Thuận- chồng nàng lại có con với người đàn bà khác trên chuyến đi vượt mây trời kia. Ngẫm ra mỗi chi tiết xây dựng nhân vật, buộc phải dồn nén cô đọng trong sự liên tưởng vô cùng phong phú cho hạnh phúc chợt ùa đến, trọn vẹn hơn ở người cao niên (Bóng chiều trên đỉnh chóp vàng*, Giỗ người sống*, Nụ hôn đầu của chim én*). Khó nén cá biệt “Bản thiện” còn nảy nở ấp ủ sắc hương, cánh én chạm vào vô biên mây trời bất tận, dẫu Hiến pháp Nhà nước đã có Luật Hôn nhân và gia đình cũng bó tay trước những cánh cửa lộng gió kia ùa về ngơ ngác tuổi thơ, rồi tuổi thơ cũng được bảo bọc nuôi dưỡng (Nhành hoa huệ trắng*). Chỉ Một sao mai lẻ loi* trên đất Việt cũng được quan tâm chia sẻ, còn cái “sao hỏa” lạc xứ người định mệnh “Sao anh không biến đi” cạn tàu ráo máng ám ảnh nỗi lòng.
       Và khi “Lũy tre biến mất, con sông trở nên trần trụi, vô hồn. Mùa khô hạn, dòng sông thu hẹp như con mương cạn leo lách chảy giữa cồn cát lưa thưa những khóm rù rì cằn cỗi. Mùa mưa nước dâng cao mấp mé bờ kè… Không còn bóng những đọt tre quằn xuống mặt nước mùa đông, không còn tiếng gió xào xạc, kẽo kẹt với gió nam mùa hạ. Con đường gập ghềnh uốn lượn rợp bóng ngày nào nay nhường chỗ cho con đường bê tông thẳng tắp…”(Tảng đá mồ côi*) là tất yếu nhu cầu phát triển  xã hội, nên bà giáo Hương nhận ra sự lạ lẫm với chính con đường bà đã bao năm đi về kia khác nào việc ấp ủ những lá thư, tấm hình chỉ là mòn mỏi vô định, đốt không có nghĩa là xóa sạch kỉ niệm, trừ khi bà hóa thân với quá khứ riêng mình. Nhưng có những thứ văn hóa văn minh một thời muốn duy trì, thời gian là minh chứng như Bức tường rêu*: “…anh hiểu ông gắn bó với những kỉ niệm về căn nhà này mà bức tường rêu là gần gũi với ông nhất. Chính anh, ở tuổi bốn mươi, đã bắt đầu biết tha thiết với căn nhà tổ tiên nên đã chắt chiu mấy năm nay để về giúp cha tu sửa nó…”. Hay chỉ một Dấu chân hóa thạch* cũng muốn được hiện diện bên mình.


        Sự lặp lại văn chính là người, không thuộc bản năng mỗi cá thể, nó được bao hàm trong lớp tư duy thời đại, cũng không là trào lưu, xu hướng. Được xác minh qua sự chọn lựa giữa chân chính và lỗi lầm, vậy nên trong mỗi cốt truyện luôn gắn liền quá khứ gần và xa đan xen, khách quan trong từng sự kiện mỗi nhân vật chính, ít nhiều nhà văn dành thiện cảm về họ chính Đêm dài vô tận* ghi lại dấu ấn nhà văn dân tộc đề huề sáng tác văn chương khác nào Thế Uyên(1935- 2013), Mặc Đỗ(1917- 2015),… (nhà văn miền Nam trước 1975). Vụ án ngòi bút lá tre* từ tuổi thơ nơm nớp đòn roi, nhưng đành chấp nhận số phận cho cái kết tử biệt. Tử biệt khác nào sinh li. Nó song hành, không áp đặt, bởi viên đạn thời chiến chưa bao giờ biết ăn chay. Những phập phồng con nước, lênh đênh con sóng khơi xa sao có thể là yên tâm hơn, đọc lại đoạn văn để hiểu thêm nhận định: “Ở đây, có lẽ họ bình yên hơn những người trong đất liền cách họ vài cây số đang sống dưới làn bom đạn. Sóng biển dữ dằn nhưng không thù oán ai. Nếu tàu đắm, nhiều người có thể chết đuối nhưng không ai chết vì hận thù”(Sợi tóc mong manh*). Niềm tin cán cân đứng về giới trí thức “Sau mùa hè đỏ lửa” 1972, có lệnh tổng động viên. Vốn là một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn, thời thế buộc ông phải chọn lựa cầm súng và đứng về phía nào. Ông đã trở lại Sài Gòn liên hệ với bạn bè cũ… rồi thoát li”(Bóng chiều trên đỉnh Chóp Vàng).


        Chim có tổ, người có tông cũng là chủ đề trong Nụ hôn đầu của chim én. Cho người đọc thấu hơn những người mẹ chăm sóc trẻ em ở làng SOS, càng thương Thu, lớn lên từ trại mồ côi: “Lần đầu được thắp hương trước ngôi mộ mới xây, nàng ràn rụa nước mắt và khẽ gọi:- Mẹ ơi!”( Mẹ ơi*). Người vợ thẳng thắn dứt khoát, khẳng định: “Điều em quan tâm là đứa bé trong bụng cô ta. Nó phải có cha. Còn anh có nhận nó làm con hay không là chuyện của anh và cô ấy” (Người đồng hành*). Riêng Đốm lửa đêm ba mươi* có thể là bi kịch một cá nhân, mà gom lại là hạnh phúc một gia đình, thể như cổ tích giữa đời thường. Nhưng có lúc đầy vơi nỗi lòng như Thái, còn Tâm không muốn công bố bản di chúc, nhưng “xin được mang theo lư hương và tấm ảnh thờ…”(Di chúc một mối tình*) âm thầm trân trọng tình phụ tử thiêng liêng, tình anh em không bị sứt mẻ. Cách duy trì giá trị văn hóa ứng xử tình người từ sự ra đi vì thời cuộc và ngày trở về được mất những gì, thân phận đôi vai người đàn bà ở nhà lắm lúc nan giải, còn với khối óc những người đàn ông võ nghệ cao cường lại vô cùng từ tốn (Trước di ảnh người quá cố*) giữ hòa khí trong gia đình là mấu chốt truyện ngắn Nam Thi khi giải quyết Nợ tình của một linh hồn* cũng vậy.
         Đời sống văn hóa sinh hoạt nếp nhà trong truyện ngắn Nam Thi phong phú. Từ góc nhìn hoạt động mỗi cá thể trên từng chặng đường đời là sự kết nối sẻ chia nằm lòng trong cảm xúc nhà văn. Thật vậy, nếu không có từ Ánh mắt*: “một chiến sĩ biệt động hoạt động bí mật trong nội thành Sài Gòn…” ánh mắt đã thành ẩn dụ sự tiếp nối thế hệ xác minh lí lịch- cái hiện tại, không thể nhào nặn quá khứ áp vào hiện tại mà ràng buộc sự sáng tạo thế hệ hôm nay. Một Bức chân dung bỏ quên* không có tấm nhiễu điều phủ lấy, mà biết bao kỉ niệm tình đồng đội kiên cường, gian khổ, tri ân,… ùa về mất còn, khác nào bức tâm thư gởi lại thể như truyện kí ghi nhanh nhưng đầy đủ sự kiện, chứa chan cảm xúc nhân vật “tôi”, nổi bật vẻ đẹp Út Thuận- người chiến sĩ cách mạng một chút tự trào : “Địa phương bảo khai lí lịch để làm hồ sơ cựu chiến binh, tao cũng làm biếng chưa làm”. Một Tiếng hát dưới hầm* thánh thót thuở nào trong chiến đấu còn lại cái Zippo, ngọn lửa chân lí ấm áp chuyền tay lưu giữ.


          Trong đó, giá trị văn hóa tín ngưỡng luôn được duy trì như Người có hai nấm mồ* ngậm ngùi đau đáu khi con mình bị phơi xác… Truyện Con ngựa già của cha tôi* không chỉ là niềm tự hào về truyền thống gia đình, về người cha- công việc báo chí, trong những ngày bị đày Lao Bảo, kể về chú Trị- nghĩa tình, còn Hởi- con ngựa trung thành lúc sống, hay khi chết cũng đều tưởng nhớ nén hương. Góc Bếp lửa cuối đông* gợi lại văn hóa sinh hoạt gia đình ấm áp thuở nào giờ chỉ là kỉ niệm “… những lần thấy người ta đốt đồng, un trấu, nhìn thấy lửa và ngửi mùi khói là tôi nhớ cảnh chị em tôi sưởi mồ mẹ ngày đó. Mỗi lần cúng mẹ, chị lấy cái nồi một ra nấu cơm cúng và lần nào chị cũng khóc…”Nước mắt cũng vơi dần, nhường lại nụ cười đồng thuận trong Chuyện tình của cô đào thương* đi tập lại tuồng, ngỡ nghệ thuật sân khấu dân gian bị lãng quên, giờ được củng cố.  

         Văn học là gương mặt tiêu biểu văn hóa đời sống. Đọc truyện ngắn là tìm thấy văn hóa một thời. Không cần kiểm chứng, bởi trên mỗi trang truyện Nam Thi, thể như người thật việc thật ngoài đời ung dung nhập hồn con chữ. Những nhân vật phản diện có thể chỉ lướt qua, nhà văn chú trọng ở cốt truyện với nhân vật chính của mình, đó là cái đẹp tấm lòng nhân hậu mà bạn đọc nhận biết (Bếp lửa đêm ba mươi*, Người có hai nấm mồ*, Người đồng hành*, sao mai lẻ loi*,…). Có những truyện qua những biến cố sự kiện làm nên tính cách nhân vật, dẫu khách quan, nhưng vẫn thể hiện thái độ nghiêm túc của tác giả đối với thời cuộc đã qua (Tiếng hát dưới hầm*, Bức chân dung bỏ quên*,…). Hình tượng mỗi nhân vật trong Nụ hôn đầu của chim én, dẫu có lúc xưng tôi- tư cách tác giả, hay tư cách nhân vật trong tác phẩm cũng đều bộc lộ quan điểm sáng tác rất Nam Thi. Chỉ có điều, quá chú trọng cái chốc lát, cái khoảnh khắc thể loại truyện ngắn mà dựng lên cốt truyện. Đây là thế mạnh của Nam Thi, tiếp nối G. Maupassant,… Đôi lúc thiếu vắng một quá trình đời người như Chí Phèo (Nam Cao), Nhà mẹ Lê (Thach Lam), Kẻ học việc (Ma Văn Kháng), Hổ gù (Lại Văn Long)… ở một số truyện ngắn hiện đại thường gặp.
        Phải chăng thời thế và văn hóa vùng miền nuôi dưỡng tâm hồn nhà báo, nhà văn Nam Thi. Nụ hôn đầu của chim én chính là phong cách tác giả luôn tiềm ẩn vẻ đẹp tự trong giấc mơ, tất yếu thuần phong mĩ tục mãi được duy trì, như khi giọt nước rơi cho hạt kịp nảy mầm sự sống./.
Tháng 03. 2019/ Nguyễn Thị Phụng.
 _________________
*Tên truyện ngắn trong tập.



SẮC HƯƠNG TÌNH NGƯỜI, Nguyễn Thị Phụng


                            SẮC HƯƠNG TÌNH NGƯỜI


           (Đọc tập Tím một sắc hoa, thơ Phạm Thành Trai, NXB HNV- 2017)
        Với tựa đề, người đọc cứ ngỡ đây là một tập thơ “tình”, nhưng không riêng, thật đúng nghĩa. Chỉ bốn câu:
                 “Mỗi lần ngắm sắc trước gương
                 Mỗi lần ngắm lẽ vô thường phía sau
                 Vòng đời rồi cũng qua mau
                 Cái còn mãi gương soi nhau làm người”

                                              (Soi gương*)
        Để nhận ra giá trị cuộc sống, gương soi ngẫm lại chính mình. Một tình yêu đất nước và con người luôn thường trực trong cảm xúc thi nhân, chính là điều trân trọng sau khi đọc tập thơ Tím một sắc hoa của Phạm Thành Trai.

        Có thể nói xuất thân từ một nhà báo, nên góc nhìn luôn theo chiều hướng cấp độ khác nhau, nhưng chung quy chứa chan cái tình công dân với lãnh tụ, với anh hùng dân tộc(Bác Hồ*, Bác Giáp về quê*, Ba tượng anh hùng*), riêng đối với Đồng chí Fidel Castro*: “Khi còn sống Đồng chí mong gọi thế/ Lúc đi xa muốn hòa lẫn tuổi tên/ Không dựng tượng, không mọi điều sùng bái/ Giữa lòng đời sừng sững tượng Fidel”, với các bậc thi nhân từ một vụ án Lệ Chi Viên* đẫm máu, càng sáng danh một Chính trị gia- Nguyễn Trãi*: “Ức Trai rực sáng sao Khuê/ Ngàn đời còn thấm lời thề hiếu trung”, từ một Nguyễn Du* mỗi khi Đọc Kiều* sao mà đớn đau:
            “Đọc Kiều thấm lệ Nguyễn Du
            “Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”
             Xót xa từ bấy đến giờ
             Càng trong trắng sống càng xơ xác đời
” 


        Tím một sắc hoa không là khoảng cách không gian xưa và nay, giữa quá khứ và hiện tại luôn song hành. Chỉ một Cánh chim* mất và còn, muốn vươn tới tự do giành lấy sự tồn tại cho người đọc ngẫm nghĩ từ sự lí giải:
          “Lông chim khi bị đốt
          Cháy hết chẳng tàn tro
          Nhẹ nhàng từ cốt cách
          Để vươn tới tự do
”.
         Nhắc nhở lòng biết ơn chân tình, khẳng định Chính là đất, em ơi* từ một điều giản dị:
        “Ai ôm ta khi chết
          Nâng bước ta trọn đời
          Hiểu ta khi cúi mặt
          Chính là đất, em ơi
”.
        Tím một sắc hoa phải chăng từ một quan niệm sống hãy biết cho đi, là mưu cầu hạnh phúc. Vòng luân hồi đời người sinh lão bệnh tử. Còn với những ai chưa thấu, nhà thơ có trái tim la bàn: “Kiếp người đâu dễ tìm ra/ Trăm năm chỉ một sát na cõi trời/ Kiếp sau muốn lại làm người/ Kiếp này hãy sống trọn lời yêu thương” (Kiếp người*), cho mạch thơ Kiếp sau* tiếp nối định hướng chân tu:   
         “Kiếp sau muốn lại làm người
          Kiếp này giải nỗi đau đời chúng sinh
          Trước tiên tự giải lòng mình
          Đời này là chính bóng hình kiếp sau
”
          Hãy biết tự giải lòng mình, hãy biết sẻ chia đi, niềm vui là ngọn nồm xua nắng hạ. Sự giải oan từ một linh hồn Vũ nương “Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt/ Giải oan chăng lọ mấy đàng tràng” (Lê Thánh Tôn) ngày ấy chỉ ăn năn cứu vãn người sống mà thôi. Còn sự lí giải nỗi đau đời chúng sinh, ca dao đã khẳng khái: “Tu chi cho uổng tóc mai/ Không bằng em nhặt nhành gai giữa đường”.
         Tím một sắc hoa, tập sách 70 trang không dày lắm. Với 99 bài thơ, trong đó chỉ 7 bài từ mười sáu dòng trở lên cảm nhận vẻ đẹp con người, quê hương. Còn lại thơ tứ tuyệt (cách gọi chung thơ bốn câu). Đã là thơ tứ tuyệt, lời ngắn tình dài, biên độ cảm xúc dồn nén từ thể lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn nên trong quá trình tiếp nhận thơ Phạm Thành Trai thường thiên về ngữ nghĩa sáng tạo, nghệ thuật nhân sinh. Bởi theo thi nhân “Thơ là cô đúc. Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra như tiếng sét” (Chế Lan Viên) cho sắc hương tình người lan tỏa cũng từ cô đúc mà ra./.
                                                           05. 2018/ Nguyễn Thị Phụng
______________       
*Tên các bài thơ trong tập.

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

THÁNG TƯ GIẤU LỆ, thơ Nguyễn Thị Phụng


THÁNG TƯ GIẤU LỆ
Tháng tư giấu lệ nơi nao
Mà trong đôi mắt, lời chào còn vương
Qua rồi được mất đau thương
Mùa xuân đất nước dặm trường sang trang…

Ngỡ trông bốn bể thênh thang
Ao đìa lắm lúc bẽ bàng người ơi!
So đo cái giá vàng mười
Vẫn chưa cứu vãn tiếng cười từ bi

Bút nào xóa hết sân si
Ganh nhau tiếng gáy lạ gì thế gian
Thói thường cửa lớn nghênh ngang
Cuối đường hấp hối than van tội tình


Tháng tư dấu ấn tử sinh
Chiến hào loang lổ rừng xanh bồi hồi
Chứng nhân đất Mẹ ngoai nguôi
Tháng tư giấu lệ ngược xuôi một dòng./.
02.04.2019/ NTP

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

ĐÊM LẠC XỨ NGƯỜI, Nguyễn Thị Phụng.

Tui viết đây có đụng chạm ai không?! Xin thưa: Thứ lỗi.

Cha tui là thầy thuốc bắc. Ông ngoại, cố ngoại tui thầy thuốc bắc. Ông nội, cố nội tui yêu thích văn chương. Đời tui thương người như thể thương thân. Ngẫm ra một xã chỉ có một trạm xá, mỗi thôn có một ngôi chùa. Chuyện tín ngưỡng ở gia đình(Tui là thế hệ thứ tư- tục gia đình chẳng bao giờ đốt vàng mã, hay lên chùa theo Phật), chuyện tự do tôn giáo là quyền mỗi cá nhân. Trạm xá thì nhỏ, chùa thì quá to.  Dù vậy, khi ốm đau chỉ nghe thuốc tra, ma cầu. Cứu vãn tình thế cũng phải nhập viện. Ấy vậy mỗi khi sinh đẻ buộc lòng vào bệnh viện, than phiền bệnh viện thì nhỏ, không đủ chỗ nằm. Phức tạp. Tiền đâu mà xây chùa, do bổn đạo đóng góp. Tiền đâu xây cất bệnh viện, nhà nước lo, cũng trích từ một phần thuế của nhân dân,... Nếu như tất cả yêu chùa như yêu nơi điều trị chăm sóc sức khỏe bản thân, họ hàng mình thì việc than phiền bệnh viện không có chỗ nằm đã bị xóa đi. Bài thơ này cũng từ nỗi bức xúc. Phật ngự trên cao. Phật đâu có lỗi.



ĐÊM LẠC XỨ NGƯỜI.

Chuyện những đêm xa xứ
Có người kinh doanh “chùa”
Thùng phúc sương cơi nắp
Đếm ba ngày chưa bưa

Nào “dân đen… con đỏ” *
Cầu tài lộc rủi may
Chước mưu nào mê hoặc
Một ví dụ: mặn- chay

Muốn “có tiền việc ấy”**
Cá cược mất trí nhân
Cõi trần sao phung phí
Nghĩa địa đã lên tầng

Từ bi là bác ái
Cứu khổ bữa cơm chùa
Dặn lòng tâm tính Phật
Cớ sao còn sân si!...
_________         20.7.2017/ NTP
*Ý Nguyễn Trãi.
**Ý Nguyễn Khuyến
.


Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

MỘT TAY NÂNG CẢ MẶT TRỜI, Nguyễn Thị Phụng


     Tạp văn: MỘT TAY NÂNG CẢ MẶT TRỜI


           Tựa đề “Một tay nâng cả mặt trời” trích trong cặp câu “Một tay nâng cả mặt trời/ Hai chân đạp đất viết lời cho ai” của nhà văn Hồ Tĩnh Tâm xúc cảm tấm ảnh phụ nữ đứng trước biển Nha Trang. Như một lời nhắn nhủ. Người trong tấm ảnh ấy chẳng ai xa lạ- chị là hội viên Chi hội Văn học của Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định tham gia Trại Sáng tác tháng 3. 2019 tại Nhà Sáng tác Nha Trang.

        1.Bình minh trên biển Nha Trang:
        Trong những ngày cuối tháng hai âm lịch, nước biển rút dần ra khơi, lô nhô những tảng đá phủ đầy một màu biếc xanh ngỡ ngàng dưới ánh trời lựng đỏ. Người ta bảo đó là mùa phồn sinh loài tảo biển. Đặc biệt là chùm nho biển bám dày đặc chen lấn cả chùm rêu ấy. Và sáng nào cũng vậy, ngoài những chiếc thuyền thúng chứa đầy nho biển cứ lần lượt vào bờ., một số ít đi hái vội về rửa sạch dành ăn tươi, nấu canh. Bên cạnh những người tranh thủ gặt hái của biển trời ban tặng, phía bãi trên cát trắng mượt mà lại thu hút bao nhiêu cánh tay sải dài trên mặt nước, rồi thỏa thích ngụp lặn,… kì cọ bụi trần của hôm qua còn bám lại.


        Hướng về biển đông, tầm nhìn không vướng, cũng là cơ hội cho hai nhiếp ảnh Đào Phan Minh Cần và Hồ Ngọc Đan săn những tấm hình đẹp nhất. Cũng là dịp cho Nguyễn Đình Lữ- mĩ thuật điêu khắc và Nguyễn Xuân Quang- mĩ thuật hội họa thể hiện hết mình. Cho đến khi mùng bảy nước nhảy lên bờ, xóa hết vết chân du khách trầm trồ về những phiến đá lô nhô, bãi cát ngổn ngang bao nhiêu là rong tảo phơi mình đớn đau bị dẫm đạp, cuốn mình theo nắng gió, chờ bàn tay công nhân môi trường gom nhặt hóa thân.
        Tôi cũng hòa vào dòng người bình minh trên biển. Đưa tay hái một chùm nho bám trong kẻ đá. Rửa sạch từng trái nhỏ, đưa vào miệng, nhai thử. Vị mặn. Không mặn sao được. Lớn lên trong biển. Con người cũng vậy. Dựa vào biển, bởi biển nuôi sống con người. Một hạt muối trắng bé nhỏ thường ngày ta dùng cũng được sinh ra từ biển kia mà. Thiếu muối con người làm sao sống được, họ phải bảo vệ và giữ gìn biển khơi.
       2.Quanh thềm nhà sáng tác:

       Dọc đường biển hoa trúc đào sắc hồng khả ái. Một tách trà nóng bên cạnh Hòn Chồng cùng bạn Ca Dao NT mới gặp nơi quán nhỏ đón bình minh, mới thấy cảnh biển Nha Trang mình đã thu hút khách du lịch như thế nào. Tháp Bà Ponagar cổ kính của vương quốc cổ Chăm Pa cũng là điểm nhấn không thể không dừng chân. Về tín ngưỡng tâm linh “Trong tháp Chính, đặt tượng thờ nữ thần Ponagar. Theo bia ký, năm 918 tượng thờ được tạc bằng vàng, nhưng năm 950 bức tượng bị quân Khơme cướp đi. Mười lăm năm sau, tức năm 965 vua Sri Jaya Indravaman cho dựng lại pho tượng bằng đá như hiện nay, người Chăm tiếp tục thờ phụng Nữ thần. Đầu thế kỷ XX, người Pháp đã lấy đi đầu tượng và 02 tay… Hiện nay đầu pho tượng Mẫu được phục chế bằng gỗ”(Hoàng Quý). Còn tôi liều mình xin được một lần hóa thân vào tượng đá nữ thần(trong phòng trưng bày) đã vào tầm ngắm của Thiên Nga So Zuôn, người bạn văn cùng hội.

        Cũng ngày hôm ấy, 8.3.2019, những cành hồng thơm hơn từ nhà văn trưởng đoàn Trần Quang Khanh ưu ái tặng cho hai nữ. Một bữa tiệc nho nhỏ ấm áp không khí gia đình nhà thơ Như Hoài- Khánh Hòa hiếu khách cùng các bạn Dương Đăng Huệ, Hồng Đào, Đào Hoài (Ninh Thuận), Kiều Phương (Sài Gòn)… rộn rã tiếng cười còn đọng lại, lưu trong cảm xúc nhà văn Nguyễn Hữu Duyên, Ngô Văn Cư,… tiếp tục hành trình vãng cảnh Chùa đất sét (Khánh Vĩnh), tham gia giao lưu giới thiệu ra mắt tác phẩm của một bạn thơ Khánh Hòa được nghe kể lại.

        Tôi mang quà kỉ niệm trên từng trang sách Lão già mê đọc truyện tình (Luis  Sepulveda) kể về cuộc sống trước bao biến động bên dòng Amazon kì vĩ mà Nhà thơ, Tiến sĩ Lê Nhật Ký cùng đoàn đã tặng. Một tập Làm sao mưa thôi bay, thơ của Ca Dao NT ngọt ngào sâu lắng. Và Bên kia đường chân trời- Thơ và bình của Ngọc Thiên Hoa Nha Trang nâng tầm nhận thức thi ca.

3.Hạt gạo nhân dân, con người đất nước

        Hạt gạo nhân dân đã nuôi dưỡng chúng tôi trong hai tuần nơi Nhà Sáng tác Nha Trang. Có thể nói đây là lần thứ hai sau hai năm đợt trại Liên hiệp các Hội VHNT khu vực duyên hải miền trung, tôi có mặt nơi này. Tiếng hát nhạc sĩ Dương Viết Hòa, Trần Minh Phúc hòa âm viết về nắng gió Nha Trang, gặp gỡ KTV Lan Phương cho bữa cơm đạm bạc càng ngon miệng hơn, nhà thơ Đào Viết Bửu không đọc thơ tình lại hào hứng ca khúc thuở còn là sinh viên, riêng Khổng Vĩnh Nguyên là cả một Trường ca Nha Trang ngày trở lại. Cây bút nghiên cứu văn học dân gian như Lê Nhật Ký, lặn lội đó đây sưu tầm nét đẹp đời sống con người mọi vùng miền. Một Yang Danh, Thiên Nga So Zuôn mang vẻ đẹp người Ba Na miệt mài về phong tục tập quán nơi núi rừng Bình Định.

       Mười lăm con người đất nước về dự trại sáng tác lưu lại những gì?... Họ ăn hạt gạo ắt viết về hạt gạo, về người nông dân làm ra hạt lúa, về cánh đồng quê hương, về người bảo vệ đất nước, về sự đùm bọc sẻ chia, về cái thiện thắng cái ác, về công bằng bác ái, về bình đẳng giới,... Họ mặc chiếc áo đẹp ắt phải viết về người thợ trong nhà máy, về con tằm nhả tơ. Qua chắt lọc hạt giống, cái đẹp sẽ được chăm chút nâng niu, sẽ được sinh sôi nẩy nở. Ta, tay nâng mặt trời, nâng ánh sáng sự sống con người bất diệt. Hai chân đạp đất, điểm tựa vững chắc trụ giữa trần gian. Ơn hạt gạo nhân dân ta viết về nhân dân và đất nước. Là viết lời tri ân, nhịp đập từ trái tim ta vậy. Yêu lắm mùa nho tảo nơi biển kia cũng chỉ xuất hiện một lần trong năm dâng vẻ đẹp cho đời./.
12.03.2019/ Nguyễn Thị Phụng.




Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

BÊN ĐỜI MỘT TÚI HÀNH TRANG, Nguyễn Thị Phụng


BÊN ĐỜI MỘT TÚI HÀNH TRANG


          Cái duyên may mắn được thưởng thức Tiếng mùa của người đã từng phả hồn vào đàn bầu, hòa cung bậc thơ ngâm trên đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định trước đây. Cao Trọng Quế ươm mầm cảm xúc thi ca từ lúc nào, ngoài văn thơ tuyển in chung, bây giờ trọn vẹn tập đầu tay trình làng ở độ nghỉ hưu. Quả “cây bút trẻ”, trẻ lắm những cảm xúc tự nhiên vốn trong trái tim Việt Nam không có gì lạ. Lớn lên đất Nghệ quê cha, với một tình yêu nhạc cụ cổ truyền dân tộc cho anh gắn bó chốn kinh kì từ những năm là sinh viên trường Sân khấu Nghệ thuật, để rồi “Hành phương nam tôi mang nặng cung đàn” ấp iu bên đời một túi hành trang gom nhặt Tiếng mùa Quế Anh gần xa vọng lại.

       Khởi nguồn Tiếng mùa từ khoảng cách không gian thực trên một vòng cung nửa bên này mặt trời mọc, nửa bên kia mặt trời lặn. Và có ngược lại, vầng dương vẫn là định tinh tỏa đều nắng ấm cho sự sống vươn lên nâng tình yêu vĩnh cửu. Khơi gợi góc khuất trái tim ngỡ đầu hai cực giá băng. Giờ mạch nước trong veo và ngọt ngào tưới tắm tâm hồn giữa bộn bề cơm áo nắng mưa. Biết rằng nơi đất khách định cư quá đủ đầy điều kiện vật chất, cái cần chính là giấc mơ hoa hồn hậu, Quế Anh tìm đến với thơ theo mùa nhớ thương gần xa ngày ấy “Thôi thì ta lỡ gieo hạt nhớ/…/ Xin đừng dẫm lại dấu đau thương”(Lối xưa). Tiếng mùa ngân nga lắng đọng, cố nén khỏa lấp chênh vênh, rẽ gió mây đi tìm trăng sao bộc bạch. Thao thức nhịp điệu thời gian, khi giêng hai đằm lại, không gian tâm tưởng mở ra:
           “Tưởng trăng ngủ cõi bơ vơ
             Nào hay trăng thức trên bờ vai ta
”
       Với Trăng thức* chỉ cần cặp câu lục bát trọn tứ thơ hay. Trạng thái tưởng “trăng” ngủ mà thức, trong một bức tranh thi sĩ tự họa tĩnh và động, chỉ có nhân vật trữ tình bơ vơ. Trăng nào bơ vơ?!... cứ vời vợi trêu tình lay động: “Tháng nối tháng dài thăm thẳm/ Xa trông người vẫn chưa bưa/ Vầng trăng thu còn xa lắm/ Ta ngồi hoang phế tình xưa”(Miền cổ tích xưa) lắng đọng hao gầy cho Tiếng mùa bâng khuâng gởi lại.

       Chỉ một chút Tự bạch- Ta và Em* rất phong cách nghệ sĩ: “Ta là kẻ lang thang miền viễn xứ/ Bỏ sau lưng những được mất hơn thua/Ngựa quá vãn còn cất cao tiếng hí/ Yêu trăng nghiêng thích hoa nở trái mùa”. Đã thế, còn nhẫn nha mong gánh nợ chất chồng, dễ đi vào lòng bạn đọc: “Nợ em một giấc mơ trưa/ Lao xao cánh võng nhặt thưa ru hời/…/ Nợ em vọng một cung đàn/ Tiếng tơ tiếng trúc đêm tàn trăng treo/…/ Nợ em tình gác cheo leo/ Ngày xuân cõng nhớ lên đèo tìm nhau/…”(Nợ tháng ba). Rồi không kìm được đành buông trả: “Này em, ta trả lại đây/ giấc mơ của những chóng chầy hư hao/…”(Trả lại cho người). Quả thật, nếu không lang thang nào biết mưa chan nắng gió. Túi “ba gang” hành trang thi sĩ chẳng cần lãi suất thấp cao, thầm lặng ánh sao hôm vội vã thắp đuốc Tiễn đêm* đón ban mai ngự trị chốn bình yên tâm hồn.

        Một khát vọng yêu thương thuở ban đầu: “Nhìn bạn cũ bên nhau cùng hội lớp/ Tôi mừng thầm… trở lại tuổi đôi mươi”(45 năm, trường xưa) gợi nhớ Tiếng mùa trẻ trung náo nức một thời đã qua. Nhớ quay quắt: “Ta bên em mặc mưa phùn gió bấc/ Vẫn nồng nàn hơi ấm một vòng tay”(Nhớ tháng chạp xưa) sao tránh khỏi sự hòa nhịp trái tim nồng cháy, dỗ dành: “Này em, gác lại bộn bề/ Cùng ta sắm sửa… quay về cuộc xưa”(Yêu đi em). Có lúc thi sĩ Lỡ* ngân nga tơ lòng bằng cuộc chơi chữ hào sảng:
      “HỒN ta như kẻ cuồng say
       LỠ rơi lạc giữa hồ đầy thẳm sâu
       SA chân vào cõi u sầu
       VÀO ra vô nẻo biết đâu mà lường
       ĐÔI bờ đăm đắm kiêu sương
       MẮT kia ví tựa thiên đường huyễn mơ
       EM ơi ta chết không ngờ ...!”
     Dù chỉ Một thoáng* Ngại đêm*, Gọi* Tháng sáu mưa qua* thỏa ước nguyện, thế mà lại miên man: “Tháng bảy xứ người hạt nắng , giọt mưa/ Không đong đủ lòng mình sợi nhớ/ Tháng bảy nhà mình sao mà nặng nợ…”(Tháng bảy). Cái nợ thi nhân trải dài trên từng sợi nhớ, theo Tiếng mùa “Mượn hồn du tử đêm say/ Nâng niu hoa nguyệt, đọa đày phấn hương”(Lãng du). Phải chăng mượn cớ để trở về vùng kỉ niệm xa gần, nhớ Quy Nhơn Vòng tay của núi*,Nhớ thu xưa Hà Nội*, …cho Anh tình yêu vun đắp  cuộc đời. Chỉ một chút“Cảm ơn/ nhé/ những bộn bề/ Ươm dùm ta nhớ đủ vừa vặn thu”(Cảm ơn). Sự vắt cạn bao dung đã làm nên thi nhân từ một danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú tài hoa cho những ai trân quý.TrongTiếng mùa Quế Anh, ta nhận ra “Cảm động lòng người, trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa. Vậy đối với thơ: Tình là gốc, lời là cảnh, thanh là hoa, nghĩa là quả”(Lời của Bạch Cư Dị)./.
                                                                                     Tháng 10.2018/ Nguyễn Thị Phụng.
_______________
* Tên các bài thơ trong tập.