Thứ Ba, 21 tháng 10, 2025

HÒA NHỊP KẾT NỐI - THỨ 6 (17/10/2025) Gặp gỡ tác giả Nguyễn Thị Phụng và Bến bờ văn chương

 

Chuyên mục Phát thanh:

HÒA NHỊP KẾT NỐI - THỨ 6 (17/10/2025)

Phát sóng: 10h00-10h30

Thời lượng: 30 phút

BTV: Kim Chánh

Chủ đề: Gặp gỡ tác giả Nguyễn Thị Phụng và bến bờ văn chương

 


-        Nhạc hiệu chương trình

MC: BTV Kim Chánh mến chào quý thính giả đang đến với chương trình Hòa nhịp kết nối trên sóng phát thanh của Báo và PTTH Gia Lai.

HOÀ NHỊP KẾT NỐI 17-10-2025 – Báo và Phát thanh, Truyền hình Gia Lai

(Chạm vào đường dẫn trên sẽ nghe Bến bờ văn chương tâm tình cùng BTV Kim Chánh nghen)


Quý vị và các bạn thân mến! Tháng Mười -  tháng của những bông hoa tươi thắm, của những lời tri ân gửi đến phái đẹp - những người phụ nữ đã lặng lẽ làm nên bao điều đẹp đẽ trong cuộc đời. Có người chọn gieo yêu thương bằng tấm lòng nhân hậu. Có người chọn dâng hiến bằng sự tận tụy trong nghề. Và cũng có người chọn neo lại bên bờ chữ nghĩa, viết nên những trang văn như những cánh hoa nở muộn - bền bỉ, tinh khôi và thấm đẫm tình người.

Trong chương trình Hòa nhịp kết nối hôm nay, mời quý thính giả cùng gặp gỡ tác giả Nguyễn Thị Phụng, một nhà giáo quê ở xã Tuy Phước - người vừa cho ra mắt tập tiểu luận và phê bình “Bến bờ văn chương” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2025.

Tập sách là kết tinh của một đời gắn bó với nghề, với văn chương, với con người. Ở đó, người đọc bắt gặp hình bóng của một người nhà giáo tận tụy, một cây bút nữ nhạy cảm và sâu sắc, luôn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của tình thương và lòng biết ơn.

(Nhạc chuyển đoạn): Từ tập thơ đầu tay Tự khúc đêm trăng 2009, tiểu luận Lặng trong hương lúa 2014, tiểu luận - phê bình Hồn cốt văn chương 2019 cho đến tiểu luận -  phê bình Bến bờ văn chương vừa phát hành, hành trình sáng tác của cô giáo Nguyễn Thị Phụng là hành trình không ngừng tìm kiếm vẻ đẹp của cái chân - thiện - mỹ trong từng con chữ.

Đó cũng là hành trình của một người phụ nữ chọn sống lặng lẽ, nhưng đầy kiêu hãnh trong thế giới của văn chương - nơi mỗi câu chữ là một bông hoa nở giữa đời thường.

Nhạc cắt

GẶP GỠ VÀ TRÒ CHUYỆN (20 phút)

1/. Thưa cô Nguyễn Thị Phụng, trước hết xin chúc mừng cô với tập sách mới Bến bờ văn chương. Cái tên gợi thật nhiều liên tưởng - vừa là bến đỗ, vừa là hành trình vượt sóng. Cơ duyên nào đã khiến cô chọn tên gọi ấy cho tập sách lần này?

Cảm ơn BTV. Với lời chúc mừng tập sách vừa xuất bản.

-. Tựa đề Bến bờ văn chương là cơ duyên khi đọc về tập sách Những vẻ đẹp thơ 1 – Cảm nhận và bình thơ của Nhà văn Lê Hoài Lương. Từ sự tiếp nhận của nhà văn với thơ, hễ tác phẩm văn chương đi vào lòng người thì theo tôi chính là bến đỗ thơ văn. Nên từ cảm hứng ấy tôi chọn tựa đề Bến bờ văn chương cho một bài viết, và chủ đích khi xuất bản chọn tên tập sách cũng là tiêu chí đặt ra vậy.

 

2.         Được biết cô từng là giáo viên dạy Ngữ văn ở Trường THCS Phước Lộc, Tuy Phước, và nay dù đã nghỉ hưu, cô vẫn miệt mài viết, miệt mài đọc. Cô có thể chia sẻ điều gì đã nuôi dưỡng tình yêu văn chương trong cô suốt nhiều năm qua?

* Đúng là gv dạy văn, nay đã nghỉ hưu lâu rồi. Nhưng sự miệt mài gắn bó con chữ vẫn thường ngày đọc và viết. Có thể nói tình yêu văn chương khơi nguồn từ câu hát ru của má, của bà cho tôi lớn lên. Lớn lên tôi được đọc sách báo của anh chị mua về, hướng cho tôi đọc sách, cho tôi nhận ra niềm vui trong cuộc sống. Đó là những cảnh vật, cảm xúc con người ngoài đời được đưa vào tác phẩm đã được thanh lọc kĩ càng, nên thích lắm. Không chỉ đọc mà tôi còn viết suy nghĩ của mình khi tiếp nhận tác phẩm.

 3.         Cô có thể chia sẻ một chút về khoảng thời gian thai nghén và biên soạn tập tiểu luận - phê bình này?

*. Như đã nói ở trên, không là dự định thai nghén. Cứ khoảng bốn hay 5 năm số lượng bài viết thấy hơi nhiều thì gom lại, chọn lọc cho xuất bản vậy thôi.

4.         Trong phần trích dẫn ở tập sách, cô đã viết: Nhà văn không là chuyên gia trợ giúp mổ xẻ câu chữ, mà là người cùng độc giả tâm tình với thi nhân. Câu ấy như nói lên tinh thần chủ đạo của tập sách Bến bờ văn chương, đó là sự nhẹ nhàng, chia sẻ, không phán xét, đúng không?

- Thiệt chính xác luôn. Từ góc nhìn của người sáng tác đó là chủ đích của họ. Có người thì khéo léo, hay vụng về như cách nói chuyện ngoài đời vậy mà. Nên khi tiếp nhận, riêng tôi quen cách sẻ chia tự lãnh nhiệm vụ hướng dẫn dư luận của bạn đọc, và đối thoại trực diện công khai với người sáng tác đó. Vì mang nặng thiên chức xã hội, nên trong cách phê bình văn học viết của tôi nghiêng về cảm tính của tùy bút, của điểm bình, của lời tựa, lời bạt cho tác phẩm nên luôn hướng thiện, nhẹ nhàng. Thưởng thức là công việc cá nhân, tự nghiệm vậy.

5.         Tập sách gồm hơn 50 bài viết. Cô có thể chia sẻ về cấu trúc hoặc chủ đề chính mà cô muốn gửi gắm qua từng phần?

* Tập Bến bờ văn chương, trừ phần Lời tựa hay Thanh âm tiếng đàn Kiều, có 50 bài viết. Sắp xếp vừa là theo chủ đề như hai bài viết về văn học thiếu nhi (trong đó có một tiểu luận văn học thiếu nhi của thầy Lê Nhật Ký, một truyện dài thiếu nhi của Mộc An). Còn như tập thơ Cồn (nhóm 8 tác giả có cùng phong cách sáng tác rất tự do), nổi như cồn nên tôi để đầu tập sách... Tiếp nữa là hai nhà thơ cao niên Tạ Văn Sĩ, Nam Thi quê ở Tây Sơn, có cách viết vừa truyền thống mà hiện đại. Tiếp nữa là Văn xuôi Bình Định tuyển tập. Sau nữa là đan xen bài viết về thơ, về truyện. Có những tác giả cần đối chiếu tác phẩm xuất bản trước và sau, như của Trương Công Tưởng, như Minh Đan, H. Man, Duy Phạm, Vạn Lộc, hay cuộc đời của cố Nhà Thơ Nguyễn Thanh Xuân. Phần kề cuối tôi dành cho tác phẩm của người thầy viết về trường lớp của tác giả là cây bút chuyên, hay tập thể nhà giáo không chuyên viết về Một thời bụi phấn sau 1975. Cuối cùng là cảm và bình 5 bài thơ đọc trên facebook thấy hay hay cần lưu lại thì viết.

6.         Trong tập tiểu luận- phê bình này trải dài từ thơ, văn xuôi, đến phê bình hiện tượng, tác giả. Có những bài viết như “Tạ Văn Sỹ - đau đáu một đời thơ”, “Đỗ lỗi cho ai”, “Vẹn nguyên là một vầng trăng”... Cô có thể bật mí đôi chút về quá trình chọn lựa và sắp xếp nội dung cho tập sách này?

* Tôi cũng hay nhạy bén cảm xúc, đọc thơ văn là biết người, họ chính là hình tượng tác giả gởi gắm vào tác phẩm của mình.

       - Nếu như một “Tạ Văn Sỹ - đau đáu một đời thơ” của một thi nhân thường ngày vật lộn (cuốc xe thồ, xe ôm) vì cuộc mưu sinh, nhưng cơm áo gạo tiền không đùa với khách thơ là thế. Tạ Văn Sĩ yêu thơ đã ưu ái mình bằng những bài thơ rất riêng Tạ Văn Sĩ: “Tôi bốc hơi như nước biển bốc hơi/Từng năm một, dần vơi đi những tuổi/ Mong được chút nhỏ nhoi tinh thể muối/ Để còn lưu dư vị mặn cho đời” (Phút đợi xuân sang). Dẫu gì trong cuộc sống, tìm chút vị mặn trong tinh thể muối góp cho đời bớt tẻ nhạt thì còn gì bằng.

       - “Đỗ lỗi cho ai”, là bài viết về truyện ngắn Giếng hoang của Nguyễn Anh Đào, tôi đọc trong Nhà văn và tác phẩm. Giếng hoang dễ đến với người đọc như một tiểu thuyết tâm lí xã hội, bởi nhà văn khai thác góc cạnh đời sống tâm hồn tuổi thơ với những ước mơ rất thực được sống có ba có mẹ như bao em bé khác, mơ về ngôi nhà bình yên, biết ơn người bảo bảo bọc, nhưng chưa đủ lớn để tự bảo vệ mình dù ở tuổi mười sáu khi bị cưỡng bức tình dục. Đó còn là nỗi đau chung của những người mẹ khi con cái mình bị xúc phạm thân thể. Đó còn là vẫn đề đặt ra của toàn xã hội cần bảo vệ tuổi thơ, nhất là những em bé nữ. Đến khi pháp luật can thiệp thì chuyện đã rồi, lại dẫn đến nỗi ám ảnh không nguôi đâu riêng gì bản thân người bị hại. Cũng là cơ hội kiếm tiền của “thầy bói toán” mà kẻ mê muội tin vào hủ tục sát phạt con người với nhau. Lẽ ra những người bị hại cần phải được bảo vệ và chăm sóc yêu thương nhiều hơn nữa.

      -“Vẹn nguyên là một vầng trăng” là bài viết về tập thơ Xóm cũ tên tập thơ thứ mười của Bạch Xuân Lộc (NXB. HNV.2024) có hơn trăm bài hẳn số lượng không nhiều so với cái tình đầy ắp yêu thương bên người thân, bạn bè, làng quê Vũng nồm, xã Quy Nhơn Đông mà trân quý. Mẹ-Tục ngữ Ca dao và thơ là nguồn cảm hứng sáng tác cho Xóm cũ, trở về trong vòng tay yêu thương của tình mẫu tử, của ruột rà: “Cảm ơn mẹ con sẽ về xứ Vũng / Quê hương xanh biển mãi vẫn mặn nồng/ Để nghe được những thanh âm / Bài chòi, hát bộ… xa gần tâm tư” (Cảm ơn mẹ).

         Việc sắp xếp tên bài viết về các tác phẩm thơ hay văn như vậy, cũng là thông điệp muốn bạn đọc đón nhận những tâm hồn con người, nhất là nhà văn nhà thơ, không mơ ước gì nhiều hơn là trở về với nguồn cội yêu thương cuộc sống từ gia đình, làng quê mình mà vun đắp.

7.         Nếu được chọn một bài viết tiêu biểu, thể hiện rõ phong cách phê bình của mình nhất, cô sẽ chọn bài nào?

* Nếu BTV đặt ra câu hỏi như vậy, cũng không làm khó đâu. Ngoài những bài “Tạ Văn Sỹ - đau đáu một đời thơ”, “Đỗ lỗi cho ai”, Có thể thêm như bài Nâng niu xuân đời, Một đời thanh Xuân,...

 8.         Theo cô, điều gì quan trọng nhất giúp một bài phê bình có “hồn”, chứ không khô khan, giáo điều?

     * Khi đón nhận một tác phẩm văn học, xem đó là đứa con tinh thần của người sáng tác. Tôi trân trọng tác phẩm như con người. Dẫu hình hài có phần khiếm khuyết thì bên cạnh ấy có những điều để ta yêu ta quý, tìm ra giá trị nhân văn tác phẩm thể như mưa nắng của đất trời cân bằng sự sống cho muôn loài

9.         Nhìn lại các tác phẩm trước của cô - từ Tự khúc đêm trăng, Bến xuân, Hồn cốt văn chương cho đến Bến bờ văn chương - dường như trong mỗi cuốn sách đều thấp thoáng một chữ “bến”. Có phải “bến” là hình ảnh gắn liền với hành trình sáng tạo của cô?

* Bến - không chỉ nơi đỗ, điểm dừng chân. Với văn học còn là điểm tựa, giao lưu hiện hữu tâm hồn đời người hôm nay tiếp nối cho mai sau. Trên cơ sở đó, việc sáng tác của tôi định hướng theo mục đích viết sống tử tế với nhau hơn.

10.       Giữa thơ, truyện ngắn, tản văn và phê bình, cô thấy thể loại nào là “ngôi nhà” thật sự của mình?

*. Thực sự câu hỏi này làm tôi giật mình mà lại hứng khởi. Vì mình đã có quá nhiều “ngôi nhà” được NXB cấp phép xuất bản phẩm từ thơ, tản văn, truyện ngắn, phê bình. Đến nay thì... chưa biết mình đang ở “ngôi nhà” nào. Bởi lẽ, có người đọc thơ thích thơ, rồi phổ nhạc, rồi ngâm thơ, rồi gửi tặng mình. Rồi khi ngồi chờ kết quả xét nghiệm trong bệnh viện, viết tản văn gửi được tuần báo văn nghệ đăng. Rồi ra chợ, gặp cô bán rau nắm tay lại hỏi phải là cô Phụng không. Vì cô ấy đọc sách tôi gửi tặng thư viện huyện Tuy Phước bấy giờ, còn kể vanh vách tản văn như Khi nhà thơ đi chơi, Bánh xèo ngày chủ nhật,... Rồi có người ngồi chuyện trò với nhau lại thích đọc lời bạt tập thơ cho bạn bè nghe. Rồi truyện ngắn được đăng báo, được bạn đọc nhắc đến tên truyện Nơi tình yêu giữ lại, Trăng sáng giữa miền quê,... Thể loại nào ư, câu hỏi khó trả lời. Phần “ngôi nhà” thật sự của mình thì có lẽ bạn đọc dành cho tôi thì đúng hơn.

11.       Cô có thể kể về cảm xúc khi cầm trên tay cuốn sách vừa in xong - cảm giác ấy có khác với những tập trước đây không?

*Thật sự mỗi lần in được tập sách, thể như uống một bao thuốc liều, in xong tôi mừng lắm. Xem như là đứa con của mình. Rồi sẻ chia cho bạn bè cùng đọc. Nhìn trang bìa của họa sĩ vẽ, cách trình bày trong ruột sách con chữ của mình hiện ra... tôi yêu nó vô cùng.

12.       Trong quá trình sáng tác, có người thân, bạn bè, hay học trò nào là “độc giả đầu tiên” của cô không?

*.Tôi hạnh phúc khi có độc giả đầu tiên là chị kề tôi. Mỗi bài viết xong là gửi cho chị xem, góp ý, kể cả lỗi chính tả. Hi...

13.       Trong bối cảnh mạng xã hội và công nghệ phát triển như hiện nay khiến việc đọc - viết cũng thay đổi rất nhanh, cô nhìn nhận thế nào về vai trò của phê bình văn học hôm nay?

*. Vai trò phê bình văn học có tác dụng lớn, viết như thế nào thu hút bạn đọc đến với tác phẩm, đó là cái khó nhất. Nên không thể áp đặt con chữ khen chê mà luôn là sự đồng cảm, từ đó nâng lên giá trị tác phẩm có tính trường tồn về đạo đức xã hội hành thiện duy trì kết nối nhân rộng;  Sự đa dạng bức tranh nhân sinh phức tạp cần chọn lựa, thanh lọc, bài trừ. Bởi dễ dàng dẫn Tính đối lập về nhận thức chống đối nhau cũng không có gì lạ, thuộc về phê bình đạo đức.

14/. Cô từng nói: Thơ hay không cần cao siêu, chỉ cần chạm được đến trái tim. Có phải đó cũng là điều cô mong muốn gửi gắm qua Bến bờ văn chương, rằng văn chương không xa vời, mà là hơi thở của đời sống?

Đúng là thơ hay không cần cao siêu, thể như tục ngữ ca dao trong thường ngày. Nhưng để có được câu thơ mang giá trị biểu cảm phải từ gan ruột mình viết ra. Như bài Mắc nợ mùa xuân của Nguyễn Thanh Xuân có đoạn:

        “Tôi mắc nợ tuổi thơ đồng tiền mừng tuổi

          Phân vân với đứa trẻ không nhà

          Phân vân trước rủi may những tờ vé dạo

          Mùa xuân nhiều khi ngơ ngác lạ

          Mãi xinh tươi như chuyện thường tình…”

 15/. Sau Bến bờ văn chương, cô có dự định tiếp tục ra mắt tập sách nào nữa không - có thể là thơ, hay tiếp tục là tiểu luận phê bình?

*. Với dự định năm tới xuất bản tập thơ. Còn Tiểu luận thì... chưa nói trước, đâu phải ngày một ngày hai là có liền, còn tùy thuộc sức khỏe, vào sự minh mẫn của mình nữa.

16... Nhìn lại hành trình sáng tác, cô thấy điều quý giá nhất mình nhận được từ văn chương là gì?

*. Hành trình sáng tác luôn song hành với đọc và cảm thụ tác phẩm. Đó là món quà vô giá tự mình thưởng mình đã là hạnh phúc.

 17/. Nếu được nói một câu gói gọn cảm xúc của mình về văn chương, cô sẽ nói điều gì?

·        Rất biết ơn thơ văn nuôi dưỡng tâm hồn mình là đây chứ đâu xa.

·       Xin cảm ơn BTV. với những câu hỏi đầy thú vị.

MC: “Bến bờ văn chương” không chỉ là tập hợp những bài tiểu luận - phê bình, mà còn là một hành trình tự soi chiếu, tự thanh lọc. Ở đó, ta thấy bóng dáng một người phụ nữ gốc Bình Định - kiên nhẫn, bền bỉ, và hết lòng với cái đẹp của con chữ.

Xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Phụng đã đến với chương trình hôm nay. Chúc cô thật nhiều sức khỏe để tiếp tục gieo những mùa chữ mới, để văn chương mãi là nơi neo đậu của yêu thương.
Chương trình Hòa nhịp kết nối kì này xin được khép lại tại đây. Quý thính giả có thể nghe lại chương trình trên website: gialaitv.vn

Chương trình do BTV Kim Chánh thực hiện, TCSX Khắc Hùng, Trần Hải, chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Thị Nga, chỉ đạo sản xuất: Hồ Xuân Ánh. Xin chào và hẹn gặp lại qúy vị và các bạn vào 10h sáng thứ Sáu hàng tuần.

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

GẶP GỠ MÙA THU 2025, của Nguyễn Thị Phụng

 

GẶP GỠ MÙA THU 2025

     Cái duyên Gặp gỡ mùa thu 2025 không là tình cờ, mà quý lắm sự sắp đặt thơ ca ngân nga từ tiếng đàn bầu của NSUT Cao Trọng Quế - Quế Anh cùng với vị lão thành Nhà báo, nhà văn Nam Thi. Và lúc này ấn phẩm Dấu lặng của Quế Anh (NXB.HNV.2025) đầy cung bậc bổng trầm trong từng nhịp thở, hòa cùng dòng chảy Sông Côn xứ nẫu, cho nẫu ngồi đây tâm tình đầy vơi thương nhớ, gần xa xa gần ánh mắt yêu thương…

        Nếu như tiếng hát Cửu Hùng không phả vào giai điệu “Ta chẳng còn ta ngày tháng cũ, mười lăm năm một cuộc quay về. Em chẳng còn em thời thiếu nữ đôi bờ sương đục trắng đêm khuya…” từ ca khúc: Mưa chiều Tây Sơn thượng (Thơ Phạm Văn Phương, nhạc Nguyễn Hữu Duyên) mở đầu, thì tin chắc rằng cơn mưa chiều hôm qua cứ dai dẳng đến giờ. Và làm sao có được những gương mặt họ hàng nhà nẫu mang theo những giỏ hoa tỏa sắc hương về dự Gặp gỡ mùa thu 2025 đầy ắp cái tình thơ trên từng trang sách bật ra: “Nắm bàn tay anh / Tôi không nỡ rời…/ Anh lại rắn rỏi, cố lên/ Đừng buồn / Đừng mệt mỏi / Đừng vì một chút suy tư mà làm “nhụt chí iêng hùng”(Đi và về)* Người năm bàn tay không xa lạ, thật chân tình lời gan ruột: “Khai mạc Gặp gỡ mùa thu 2025, Quế Anh kể một chuyện như đùa mà thiệt. Chuyện rằng trước khi về VN ra mắt tập thơ Dấu Lặng anh hỏi tôi vào cuối tháng 8 tôi còn ở quê không? Tôi trả lời rằng cuối tháng 7 tôi đã về Sài Gòn rồi - vì hết phép - sau hai tháng ở quê. Ai ngờ đã chuẩn bị hành lý thì đến tối 22-7 tôi trượt chân té, va phải chậu kiểng nứt 3 xương sườn, phải hủy chuyến bay, ở lại chữa thương. Nhờ vây tôi mới gặp anh và tổ chức Gặp gỡ mùa thu tại nhà tôi, để ra mắt tập thơ Dấu lặng của anh cho tôi có thể dự được, vì chữa chấn thương tôi hạn chế tối đa đi lại, vận động. Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, đúng quá. Số tôi hamzui nên tai nạn cũng đem đến cơ hội để vui. Nhờ vui vẻ nên khoẻ ra” (Nam Thi).

        Và hôm nay “nẫu” trở về trên sân nhà ở làng Thuận Nghĩa, bên bờ đập dâng sông Côn sóng soi bóng mây trời, thỏa lòng đôi mắt trong veo “ngắm bầu trời quê hương/ Nhìn lũy tre vi vút gió/ Nghe tiếng quê trong từng nhịp gõ để Đi và về /Với quê cũ, người xưa!” đang hiện hữu bên chúng ta đây… Xứ nẫu không chỉ là nơi gắn bó Dấu lặng trong tiếng đàn bầu của nghệ sĩ tài hoa mấy mươi năm với Nhà hát tuồng Đào Tấn, mà còn là cái duyên nối liền quê ngoại các con anh trên đất Tây Sơn này: “tui dìa với Xứ Nẫu đây/ Qui Nhơn giọt nắng còn đầy mắt em ?/ nhớ xưa tóc xoả vai mềm/ bay bay theo sóng bên Ghềnh Ráng vui/ bờ vai vạt tóc em tôi/ vẫn xưa rắn rỏi “cầm roi đi quyền”/ tui dìa tìm lại chút duyên/ trong đôi mắt ấy vẫn huyền hoặc tôi/ dìa Xứ Nẫu nhé em ơi/ vết xưa em giữ dấu rơi tôi tìm… / đường dài đã mỏi cánh chim/ tôi dìa bến cũ hỏi em còn chờ ?!” (Dìa xứ nẫu) *.

        Dấu lặng là một bài thơ trong thi tập, cũng là tên tập thơ với 41 bài gửi vào cuộc kiếm tìm giải tỏa tâm hồn cho nốt thăng trầm bộc bạch với mình, với đời. Phải chăng chính sự dồn nén mà Dấu lặng ngân xa… miên man tình yêu của một thi sĩ tài hoa kết tinh từ quê hương xứ Nghệ bén duyên với xứ nẫu quê mình như thế nào… “ở đây không có gió mây/ không lời ân ái không đầy hương hoa/ một ta biền biệt quan hà/ lặng nghe tháng sáu đi qua khẽ khàng/ở đây hết mộng xuân sang/ hết ôm giấc điệp hết mang mang tình/ một mình trong cõi vô minh/ lặng nghe khúc nhạc vô hình rẽ ngang/ có còn không một tiếng đàn/ đưa ta về lại mây ngàn lãng du …!?”(Dấu lặng)*.

        Gặp gỡ mùa thu 2025 có chút gì đó từ bậc thi sĩ tiền bối “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”… hòa tâm thức thi nhân chút vời vợi, chút ưu tư… Sâu lắng nhất mà chập chờn nhất: “Em là một giấc mơ hoa/ Quẩn quanh khờ dại trong ta bốn mùa !” (Giấc mơ) *. Giấc mơ hoa thi vị, vận vào câu từ vang vọng. Không là tiếng chuông nhà thờ ban mai thúc giục, hay tiếng chuông chùa rơi vào thinh không trong bóng hoàng hôn kia. Mà phím nhạc tơ lòng những xôn xao đâu đó: “em có hiểu chiều đông nơi xứ lạ/ ta bâng khuâng nhấn phím sợi tơ chùng/ nghe mưa đổ rì rào trên khóm lá/ giọt mưa hoàlời nhạc cứ rưng rưng” (Hát nữa đi em)*

        Trong khoảnh khắc giao mùa, mưa nắng bất chợt thất thường, nên cái ngớ ngẩn của thi nhân với thu đã mang màu sắc ẩn dụ vời vợi khó mà níu kéo, khó mà vỗ về cho một tâm trạng luyến lưu: “Ừ thì nước phải về xuôi/ mây theo gió cuốn phương trời biệt tăm/ ta đi lạnh chỗ em nằm/ lạnh nơi hò hẹn đã thăm thẳm mù”(Thu lạc)* mà thương nhớ không nguôi trong trái tim thi sĩ.

         Mỗi tứ thơ là nguồn cảm hứng sáng tạo, vẫn tìm ra được ẩn số cốt cách nghệ sĩ đàn bầu thi nhân. Từ độ rung một dấu lặng bên đời, tiếng đàn ban mai chạm vào hồn chữ nghĩa thăng hoa đầy thử thách: “Cứ đi cho biết đường đời/mới hay khúc khuỷu cuộc người dọc, ngang” (Xin thưa)*. Để rồi, chút trầm lắng khẩn cầu: “Xin em chút nắng vô thường/ Mà phơi cung bậc hoang đường bên song/ Đàn với tôi có như không/ Đành ôm chiếc bóng giữa dòng chiêm bao!” (Tiếng đàn ai)*

        Gặp gỡ mùa thu 2025 để nghe cho hết thanh âm tiếng đàn ai, hay của thi nhân lan tỏa trong từng lời diễn ngâm của các nghệ sĩ Phương Nga Thanh Đa, của Hồng Hạnh Hồng Thu, của Thanh Thúy, Duy Phạm,… đan xen ca khúc trữ tình Tiếng mùa được phổ nhạc từ thơ anh, của Trịnh Công Sơn, của Ngô Thụy Miên, … Cả những lời sẻ chia của bạn trẻ khi cầm tập Dấu lặng trên tay: “Nói thật cháu chỉ là người thích làm thơ nhưng chưa viết được những bài thơ nào về quê hương. Thiếu sót và có lỗi vô cùng” (Lan Quy).

          Gặp gỡ mùa thu 2025 quây quần bên bàn tròn thể “mười lăm năm một cuộc quay về …”. Cái mốc mười lăm năm tựa Kim - Kiều tái hợp, mà cũng có bạn trong đoàn nghệ thuật sân khấu ngày nào đã ba mươi năm giờ gặp lại... Khó mà tách bạch cái say trong gặp gỡ, say trong từng tứ thơ Dấu lặng, cả cái say trong li rượu tây rượu ta sóng sánh tràn đầy. Đâu là vị đắng cay của rượu, đâu là vị đời lưu lạc trăm năm. Trong gặp gỡ mùa thu 2025 làm sao giấu được “Ta chẳng còn ta ngày tháng cũ… em chẳng còn em thời thiếu nữ…” Tự trên cao, bàng bạc mây trắng giăng mắc há dễ gì che khuất được cả bầu trời thu xanh thẳm trong đôi mắt người hôm nay./.  

                                          31. 08. 2025/  Nguyễn Thị Phụng.

…..

*Tên các bài thơ trong tập Dấu lặng.

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

DÁNG DẤP MỘT SẮC HƯƠNG, bài viết của Nguyễn Thị Phụng.

 

DÁNG DẤP MỘT SẮC HƯƠNG


(Đọc Bóng hoa-Tập truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng- NXB.HNV.2024).

                         (Đọc Bóng hoa-Tập truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng- NXB.HNV.2024).

         Thể minh chứng đặt tựa đề cho tập truyện ngắn của mỗi tác giả, không là sự trùng lặp thông qua cốt truyện nhằm nêu bật chủ đề khai thác đặc điểm nhân vật. Nếu như trên vùng đất văn chương Bình Định, Bóng Rồng (2020) tập truyện ngắn đầu tay viết về đề tài lịch sử của Nhà văn Triều La Vỹ rất đậm chất thơ, ở Phạm Hữu Hoàng lại đậm chất văn: Bóng hoa (2024) là tập truyện thứ tư, sau Vương pháp (2009), Đêm ảo huyền (2015), Nguyệt cầm (2020) tất cả phảng phất thông điệp nhẹ nhàng mà trăn trở về các nhân vật lịch sử thời quá khứ, cùng với góc nhìn về những con người thời hiện đại. Với thể tài truyện ngắn, anh được vinh danh ba lần Giải B, Giải thưởng VHNT. Đào Tấn - Xuân Diệu cho ba tập truyện ngắn của mình.

           Dáng dấp Bóng hoa. Không là đối chiếu nhưng tiếp nối phần nào cái hay trong truyện lịch sử há thể vin vào uy quyền chế độ quân chủ làm mất đi những ứng xử văn hóa tự lòng người rất nhân hậu. Cũng như nội dung mượn tên các nhân vật lịch sử nói chung, cách Phạm Hữu Hoàng đưa nhân vật chính vào tình huống thử thách đối với bậc trung quân, khi đứng trước nguy cơ vận mệnh của dân tộc trong cuộc nội chiến thời Trịnh- Nguyễn, Tây Sơn, … cần chọn lựa việc bảo vệ vương triều và tình riêng gia đình, lưu lại hậu thế về một góc nhìn giữa tham vọng quyền lực đã có từ xa xưa. Bên cạnh vẫn duy trì cái đẹp kiên trinh, thuần khiết.

           Con người thời cuộc trong truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng.

           Đó là truyện Hoàng hoa tiên tử, viết về Trương Văn Đa- con thầy giáo Trương Văn Hiến là một tuấn kiệt đa mưu túc trí, từ buổi đầu theo Nguyễn Nhạc, được trọng dụng và cân nhắc làm phò mã, gã con gái Nguyệt Hương cho Trương Văn Đa. Khi tình hình phía Nam, Gia Định rơi vào tay Nguyễn Ánh, Trương Văn Đa xin được chinh Nam cùng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ. Hình ảnh Trương Văn Đa với vườn hoa tiên tử trong ba thời điểm: đó là sự ra đời của Nguyệt Hương và gắn với tình yêu với nàng; Thứ nữa, Trương Văn Đa thể là võ tướng, gắn bó với thiên nhiên, đưa Nguyệt Hương thăm thú vườn cây, kênh rạch,… và vườn hoa tiên tử trồng sau ngày dẹp yên giặc ở phía nam. Nhưng sau đó nội bộ bất hòa, thế cờ đảo ngược Trương Văn Đa bị giam và được thoát thân là nhờ vào quản ngục là người nhà với Nguyệt Hương. Sau cùng, từ nơi ẩn mình, Trương Văn Đa cũng bị phát hiện ra tình yêu vườn hoa tiên tử mà Vua Gia Long phát lệnh truy tìm. Trong mối giao lưu thâm tình, quan tri huyện sở tại thanh liêm hiền đức ứng xử rất nhân văn, cũng là cơ hộiTrương Văn Đa thỏa nguyện ra đi kết liễu đời mình về tình yêu bất tử đầy thăng hoa cảm xúc.

            Nói đến tựa truyện Én liệng truông mây, lại nhớ đến câu ca dao: “Chiều chiều én liệng truông mây/ Cảm thương chú Lía bị vây trong thành” phần nào giữa hai hình ảnh đối lập cánh chim và con người từ góc nhìn đâu chỉ thời kì ở Đàng trong chúa Nguyễn Phúc Khoát ăn chơi hưởng lạc. Quốc cữu Trương Phúc Loan chuyên quyền, quan lại bất chấp thủ đoạn vơ vét, luồn lách, riêng Lía ngỡ sức mạnh phi thường mà há thắng được bản ngã. Từ mối thâm tình đón nhận Vi Thượng ở Truông Mây, mà trước đó đã hàm ơn Vi Thượng- giàu nghị lực, văn võ song toàn, che chở cứu nguy hai mẹ con Lía. Để rồi hiểu được sự tình, Vi Thượng khuyên Lía giương cao cờ nghĩa, chống lại triều đình, được các nạn nhân theo về một mối. Nhân cơ hội cuộc thi võ nghệ mà tiến công vào phủ thành Quy Nhơn diệt Đinh Phiệt, tên quan Tuần phủ ấy đi kinh lí đã cho thuộc hạ cướp Trúc Nhã, cô gái đẹp nhất làng đang chờ ngày đại hỉ cùng Vi Thượng. Lía chấp nhận kế sách của Vi Thượng cứu Trúc Nhã. Ngược lại, tình đời khó đoán, Trúc Nhã rơi vào tay Lía, khi về Sơn trại bắt giam Vi Thượng với ý đồ: “Hay là giết phắt nó đi, Trúc Nhã không còn gì tơ tưởng, mình dễ dàng đạt mục đích”. Nhưng bất chợt lại nhớ tới ơn tri ngộ… nên không thể. Ân nghĩa tình đời cũng là thử thách lớn trong Lía lúc này. Lía bị rơi vào kế sách của quân triều đình đột ngột rút lui kết hợp với Trúc Nhã trong bữa tiệc khao quân. Khi tỉnh ra, biết mình bị lừa đành bất lực vùng dậy mang cả tấm phản bị trói vào thân chạy về bóng đêm mịt mùng… Âm thanh tiếng sáo Vi Thượng bên mỏm đá nơi Truông mây, đàn én bay về chỉ có được lúc này thể như chắp cánh cho tình yêu Vi Thượng và Trúc Nhã. Những rắp tâm phản nghịch mong chiếm đoạt đều bị thất bại, đớn đau. Nếu đề cao sức mạnh thể lực chưa kết luận được về người anh hùng, nếu thiếu dũng khí, ân tình. Cái kết Én liệng Truông Mây đã phần nào cảm thương chú Lía từ dân gian lưu lại trong cách xây dựng nhân vật của Nhà văn Phạm Hữu Hoàng đủ tường minh thể như bộ phim tình sử.

              Còn đối với bậc cao nhân Cao Bá Quát trong Man mác bên đời trọng hiền tài biết bài thi Lê Bân bị phạm húy trong khoa thi Hương năm Tân Sửu(1841) đã bất chấp dùng son hòa muội đèn chữa lại trong bài sơ khảo. Nên khi đang trong ngục, Cao Bá Quát được Lê Bân xin làm học trò, hiếu trọng khâm phục và ngưỡng mộ Cao Bá Quát. Bởi hiểu được Cao Bá Quát căm ghét bọn Tây Dương, gần gũi với dân cùng bảo vệ mùa màng, vận động thổ hào, sĩ phu,… quyên góp tiền của thóc gạo cứu đói cho dân. Từ bài hịch đầy nghĩa khí của Cao Bá Quát, để rồi trong tình thế nguy cấp lúc chống lại quân triều đình nhu nhược, Lê Bân toàn tâm khí khái hiệu lệnh: “Nghiệp lớn thành bại ở trong tay Quốc sư. Vì đại cục, hãy đưa áo choàng cho học trò và đi mau”.   Thanh ấm tiếng địch và những bài thơ Cao Bá Quát bên đời giữa núi rừng lúc ấy còn vọng lại đến hôm nay.

          Những nhân vật như Lê Sơn trong Huyết Lệ Chi thời Lê đã dụng mưu thua kế đàn bà, bị cuốn vào cuộc tranh chấp quyền lực chốn cung đình, thành tội nhân mà phụ lòng ân sư Nguyễn Trãi. Sự trăn trở của Lê Sơn không chỉ vì tình riêng mà còn nói đến tính cách con người khi bàn tay lỡ nhúng chàm thì không tẩy sạch. Cũng là tiếng nói của lương tri không vì mình mà hại người.

            Còn trong Ngun ngút cờ lau viết thời Đinh Tiên Hoàng thế kỉ thứ VIII, một Đinh Quốc Công- Nguyễn Bặc cùng bề tôi trung thành nhà Đinh chống lại Lê Hoàn đã thất bại, đầy trăn trở cho cái kết ngậm ngùi. Khi không lo mối nguy dã tâm nhà Tống xâm lược mà lại vướng vào chốn hậu cung.

           Hình ảnh từ  hoàng cung, khuê các trong truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng. Nói đến nơi khuê các, hoàng cung ở đây là dáng dấp vẻ đẹp về người phụ nữ có là vai trò quyết định vương triều thành bại hay không. Nhưng sự đối lập vốn có ở mỗi người.

            Nếu như vẻ đẹp tâm hồn của một Nguyệt Hương trong Hoàng hoa tiên tử đâu chỉ là sức mạnh từ một tình yêu chân chính mà còn là niềm tin cho Trương Văn Đa quyết chí lập công.

            Hay một Trúc Nhã đoan trang biết tự bảo vệ mình, khi bị bắt vào biệt phủ biết phối hợp kế bày để trói được Lía, vì háo sắc quên nghĩa nhân trong Én liệng Truông Mây.

             Hay một Giọt lệ nàng An Nhiên thời chúa Nguyễn Phuc Xuân, không ngại gian nguy, “nằng nặc: - Xin được theo chàng, gian lao đến mấy thiếp cũng chịu được” từ đón nhận không gian núi rừng thiên nhiên tráng lệ đẹp đẽ hiện ra trước mắt khác hoàn toàn dinh thự nguy nga gò bó tâm hồn khoáng đãng, để tháp tùng Tôn Thất Quyền, khuyên chàng tận trung báo quốc. Rồi, gặp hiểm nguy Tôn Thất Quyền tử trận, dẫn đến đau xót cho nàng An Nhiên, mà luận ra thắng thua thành bại thì đời ta biến hòa theo mây trời. Chỉ vẻ đẹp tình người mãi lưu giữ bền lâu.

           Đến truyện Duyên nợ trùng sinh, vẫn là nội chiến thời Trịnh – Nguyễn, nhà Tây Sơn, viết về Lê Văn Hưng với Ngọc Bích, chờ ngày nên vợ nên chồng, nàng bị Hắc Liệt dùng uy quyền cho người cướp về với dã tâm chiếm đoạt, nhưng nàng tự vẩn, để rồi trong giấc mơ tái hiện, trong hiện thực cảm xúc dạt dào sau thanh âm của người ca kỹ: “Lời thề xưa luôn nhớ/ Tha thiết nỗi mong chờ/ Long riêng ai thấu tỏ/ Đến bao giờ đoàn viên…”. Sự tái hiện một Ngọc Bích trong tiếng đàn lời ca ai oán là hình tượng khí tiết trung trinh cho tình tiết cái kết siêu thực ám ảnh, đó là phải thay đổi nhận thức lấy chữ nhân làm trọng.

         Giá trị văn chương truyện lịch sử của Phạm Hữu Hoàng vừa là thông điệp thẩm mĩ cho người tiếp nhận, đồng cảm luôn mở rộng trái tim chân tình duy trì sự sống đầy ý nghĩa hơn.

        Bóng hoa, là một trong sáu truyện hiện đại lại tiếp nối dẫn dắt niềm đam mê hướng đến cái đẹp trong cuộc sống. Đứng trước sự lựa chọn cho lối thoát tâm hồn đối chiếu. Mở ra nhân vật ông Nguyện, người ba đã nhờ “gã” dưa đến cuộc họp mặt bạn bè… Nếu cuộc đời là bức tranh vẽ, “gã” chọn bức tranh vẻ đẹp Bóng hoa là cách sẻ chia đời “gã” va vấp thực tế không mong muốn. Cũng là chủ ý nhà văn sắp xếp Duyên nợ trùng sinh (truyện lịch sử) tiếp đến Bóng hoa (truyện hiện đại) đều mang tính siêu thực thể như lời cảnh báo, thời gian luôn là sự tiếp diễn, về một phương châm: nếu không tử tế với mình dẫn đến nhiều hệ lụy cho người khác quanh ta.

               Với truyện hiện đại đầy trăn trở, nội tâm và thử thách hoàn cảnh của các nhân vật: Như Phương Anh trong Như mây ngàn trôi, một y sĩ được tăng cường vào vùng dịch Covid- 19, còn là vẻ đẹp của một điều dưỡng cũng như đội ngũ y- bác sĩ bệnh viện. Như gã và Hải hoàn toàn đối lập tính cách trong Tiếng gõ cửa cuối cùng, chốt cái kết thanh âm hi vọng thể ân huệ cuối cùng của đời người. Một sự cám dỗ trong Cầu vồng tình yêu viết về Lan Phương bị Trần Huy lợi dụng công việc chiếm đoạt thể xác và Thân- chồng nàng,  nhân vật xuất thân từ cô nhi viện, tìm về lối cũ thể như cuộc phiêu lưu truyện cổ tích thời nay. Cả Tiếng gọi đò trong sương, mô tiếp viết về người lính trong kháng chiến trở về, vẻ đẹp của sự hi sinh luôn có sẵn, còn tình yêu đôi lứa khó mà sẻ chia. Đến truyện Mino của tôi, với nhân vật xưng tôi- từ mối quan hệ người cháu trong gia đình có hai anh em hòa thuận, cô em gái dù ở ngước ngoài vẫn giữ được phong tục gia đình, yêu quý loài vật. Tôi- tự dằn vặt nội tâm khi người cô tin tưởng gửi gắm cháu chăm sóc dẫu chỉ là con Mino giữ nhà, khi một con chó còn biết nhớ chủ.

          Có thể nói tập Bóng hoa của Phạm Hữu Hoàng đã vẽ ra phép thử đối lập tính cách xoay quanh các nhân vật phản diện gò bó trong bức tường tù túng sân si, cuối cùng dẫn đến tang thương; Bên cạnh là đời sống tâm hồn luôn được chăm chút nâng niu, cả một không gian sắc hương hoa lá, núi đồi trùng điệp không thể thiếu, duy trì giá trị nhân văn trong cuộc sống, nên truyện ngắn vừa đủ dung lượng chuyển tải cảm xúc sâu lắng cho người đọc hôm nay./.

                                   10.12.2024 / Nguyễn Thị Phụng

 

 

 

 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2025

CÁNH DIỀU BẨY MỘT VẦNG TRĂNG. Nguyễn Thị Phụng

CÁNH DIỀU BẨY MỘT VẦNG TRĂNG.

          Thể loại: - Lý luận phê bình.
           Tác giả: - Nguyễn Thị Phụng

 (Đọc tập thơ Cồn- NXB. HNV. 2024 của Duyên An – Khổng Trường Chiến – Lê Trọng Nghĩa – Vân Phi – Hồ Minh Tâm – My Tiên – Trần Quốc Toàn –  Nguyễn Đặng Thùy Trang)

           Cũng từ trong cách bộc bạch, thơ mong tìm đến thi nhân làm điểm tựa. Thể cánh diều tựa lưng chừng trời đâu chỉ biết ơn sức gió, mà ơn tay người điều khiển. Cũng chẳng dài dòng khi đọc tập thơ đồng nhóm nổi Cồn chung 160 trang (NXB. HNV. 2024) dậy mùi men không kì hạn ngay từ lời bạt trang đầu “Cồn nhưng uống được”của Hồ Minh Tâm chuốt say từng trang chữ. Nếu trời chiều lỡ dần lặng xuống, kịp thời những Cánh diều bẩy một vầng trăng lên sáng cả trời xuân trong Cồn

          Quả Bình Định thơ ca ngoài những tác phẩm của riêng tác giả. Thì mười năm lại đây, từ nhóm đôi- Ký tự nàng(Mẫu Đơn và My Tiên), nhóm ba- Ba bờ nắng(Triều La Vỹ, Trần Hoa Khá, Lê Trọng Nghĩa). Lê Trọng Nghĩa duy trì kết nối với bạn đọc trên facebook của mình: “Cồn!” - Lời mời gọi say đắm từ 8 hương vị nồng nàn. Tập thơ này tựa như từng ly rượu thơ, đậm đà và để lại dư vị khó quên. Góp mặt là 7 “người con” từ xứ Bàn Thành Tứ Hữu, mang theo niềm đam mê cháy bỏng và năng lượng “cồn cào,” cùng một gã phong trần bạc trắng mái đầu vì thơ đã tìm về Bình Định…”   

        1.Chạm vào Cồn, hiện rõ đôi cánh vươn thỏa “khát” đời của một “gã phong trần” Hồ Minh Tâm dè sẻn từ câu chữ vun đắp, biết là trăng đến rằm trăng tròn, thế mà thèm viên mãn: “chúng ta lẹm vào nhau/ lẹm vào nhau mà tròn trịa với nhau” mà có được đâu: “thế rồi đêm/ đêm lưng chừng một mình vụng hát/ nghe lặng thầm nghiêng trở ngân nga” (Bài cho trăng đầu tháng), thử tiếp cách ví mình đối chiếu tinh tế: “khi con chuồn chuồn bay đi/ nó để lại đằng sau vết rách mềm lụa gió/…/tôi hơn chuồn chuồn nhiều thứ… // tưởng dễ mà bay!” (Bay). Từ đó từng nốt nhạc rung rung lên trong một hình hài: “giữa nó và cái thằng thơ/ một tia nắng gãy/ nó nằm ngay đơ như cái thước trời/ thằng thơ rón rén đắp đêm lên nó/ nỗi buồn bình minh” (cái thằng thơ) trỗi dậy hào hứng hơn “nó” hài hòa nhau.

           Giá yêu cái đẹp hình thể như yêu trí tuệ tâm hồn thì trái đất làm gì mỗi ngày phải nặng hơn: “thơ sinh ra chỉ để hoàn thiện hơn về định nghĩa cái đẹp, … trám vào sự thiếu vắng bằng nguyên bản cô độc của mình” (sống – có thể gọi nó là một bài thơ được không?). Rồi anh thỏa thích dự đoán “ứng trước đời mình hàng chục năm/…/ mỗi mặt – một đêm trắng/ bôi gì cho qua…” (Vẽ).” quá nhiều đêm trăn trở. Cuối cùng từ một vuông buồn đầy đặn ấy, an lòng (Cỏ thay em nằm xuống cạnh anh)*. Làm tròn chủ đề Quê nhà ở phía cơn mưa tươi mát nảy mầm tỏa hương. Không bi lụy, lí giải thơ là một nhu cầu tận hiến trong sự sống.


           2.Tha thiết lắm cõi trần mà dệt thêu biểu tượng ngôn ngữ thơ ca trên từng dấu chỉ tay ba cây bút nữ trẻ trung: Duyên An – Nguyễn Đặng Thùy Trang – My Tiên đồng hành trong Cồn.

          a. Theo chân chủ đề Thắp của Duyên An lần lượt bật mí trong lòng bàn tay nữ sĩ. Lắm lúc rối rắm chằng chịt đường vân ngỡ con kiến mà leo cành đào… trên chỉ dấu hoa tay khó trộn lẫn: “Giá mà bỏ Quy Nhơn vào túi/ Anh mang theo trên những dặm dài/ Như bỏ chiếc vỏ sò ngậm trăng chiều Phương Mai viên sỏi âm vang tiếng chuông Minh Tịnh/ Hơi gió mặn mòi xanh sóng trùng khơi.” (Chẳng thể bỏ vào túi mang theo). Dùng giả định để khẳng định dễ gì những sở hữu ngỡ thuộc về mình cố gồng lên, chỉ làm tổn thương vết cứa từng nếm trải chua xót an ủi. Chúng ta đã từng đón Ánh sáng và phù sa của thế kỉ hai mươi đầy cảm xúc thẩm mĩ: “Ta vì ai?” Khẽ xoay chiều ngọn bấc/ Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh” (Hai câu hỏi, Chế Lan Viên). Nhiên liệu thắp triệu chồi xanh là khơi mạch nguồn giá trị cuộc sống đón nhận (Tôi đi tìm mùa thu, Trên dấu môi kỷ niệm)* nhắn nhủ yêu vô cùng hạt gạo ngọt lành mà vô cùng vất vả, đón cái kết: “Bến nối bờ bằng câu ca dao mang màu xanh biển/ Biết thương về nguồn thành mưa” (Những dòng sông như đường chỉ tay), để nhận ra sự tự giác lặp lại thành thói quen định hướng(Chiếc đồng hồ sai lệch, Thắp) * dấu hiệu la bàn cho sự tất nhiên bung nở: “…mùi hương là cách đóa hoa tự thắp/ quỳnh sẽ kể chuyện đời mình bằng thời khắc/ loài chim sẽ gõ vào ánh sáng/ nhạc bay.” (Thắp). Không cần lí giải. Hương thơm, là cung đàn nốt nhạc lung linh tỏa sáng lan tỏa là biểu tượng ngôn ngữ thi ca.

           b. Còn Nguyễn Đặng Thùy Trang với Cõi mộng. Mà rất thực khoảnh khắc hối hả vào đời thể một cuộc dấn thân làm mới thơ mình: “Thành phố rượt đuổi chiếc nơ của người con gái/ tuổi trẻ nở những nụ cười không biết khi nào quay lại/…/ rực rỡ em/ chân sáo quần hồng/ rồi hàng cây xoay xoay điệu múa…” (Em và…). Những bước đi đầu tiên đẹp đẽ gửi lại sau lưng là khung trời kỉ niệm dấu yêu, sức trẻ náo nức thể cánh chim bay vào không gian thoáng đãng. Mà tình yêu duy trì bền vững, thoảng lời ca bắt nhịp: “…ai cũng một thời trẻ trai cũng từng nghĩ về đời mình…” (Trần Long Ẩn). Cách liên tưởng đời cây đời người cho sự cố định và di động, hẳn bóng cây và bóng người ám ảnh từ một “Miền xanh đậm/ Có trái tim mù mờ về những khoảng trời/…/ …/ Một lần nữa chào mời/ Sự mờ phai của số phận” (Cây). Hay sự chọn lựa được mở ra đánh đố giữa thực và mộng. Không nên kì vọng vào những hoài bão đam mê khuất lấp tất cả giá trị vốn có chính mình (Ở đâu đó con đường, Tự tình, …) *. Cõi mộng trong thơ Nguyễn Đặng Thùy Trang nghiêng về khơi gợi đầy hoan ca không tì vết: “… bông cải vàng ở lại mê mãi một điều gì/ chở về những chân tình”. Đáng yêu.              

           c. Rót đầy mùa nhớ là chủ đề thơ My Tiên tạc nên không gian bừng tỉnh vẻ đẹp bàn tay con người vốn có, chăm chút vun vén và khát khao tận hưởng. Đó là cái đẹp ban sơ không kiềm nén theo vòng tuần hoàn trời đất. Sắc hương hoa lan tỏa quyến rũ thật tự nhiên khi đón ánh sáng thường ngày, và con người cũng vậy, thật viên mãn: “Cứ xuân về/ em trở lại thanh tân” (Cánh hoa thanh tân). Em thỏa thuê bung nở cảm xúc trong từng câu chữ, không ràng buộc thuần túy Á đông, nề nếp khuôn khổ (Cánh hoa nhật thực) *. “Em” đã là chủ thể khát vọng hạnh phúc lứa đôi, sao “em” bị hà khắt thân phận giới khi con người sinh ra vốn mang danh con người (Cởi trói)*. Lời tự tình rất “em” dịu dàng và bay bổng thả mình: “Vô tư phơi thân thể trên đồng/ Anh hãy hôn như mây vờn trên núi/ Và hãy nằm xuống bên em” (Chiếc túi mùa thu), khẩn cầu mặc định từ một Vùng da thiêng* nghi lễ. Nếu như nói thơ My Tiên nghiêng về bản thể, thì bản thể ấy không thuộc về cá nhân, tồn tại rất hiếm duy trì cảm xúc phá vỡ cả khuôn mẫu tù túng rất riêng cho một chút lắng đọng yêu thương. 

         3.Từ chốn nhân sinh làm nên tâm thế bốn cây bút trẻ nam chững chạc phong cách sáng tác, duy trì cảm hứng thi ca, mạch nguồn nhịp thở.

         -. Nếu ở tập thơ Ba bờ nắng in chung trước đây, Lê Trọng Nghĩa rọi chiếu những cầu vồng lấp lánh, thì chủ đề Nồng nàn ly đắng trong Cồn hẳn bù đắp cá cược khoảnh khắc mà lực bất tòng tâm bởi những tác động khách quan bám riết.  Cho cách an nhiên bung tỏa cảm xúc, về giá trị sự sống vĩnh hằng tiếp nối, đối lập đời người hữu hạn kia: “Đôi khi/ Ta còn nhận ra những nếp nhăn giày vò kia/ Sự thản nhiên.../.../ Trong hơi thở yếu mềm.../.../ Những khóm non xanh vẫn xanh lên nhún nhẩy.../...” (Đôi khi). Hiện hữu nếp nhăn không còn là tuổi tác mà là vết cứa đớn đau khi va vấp tình đời, băn khoăn chất vấn đến cùng: “Khi ngắm bầu trời rộng lớn/ Em đã mơ điều gì khác/ Em có nghĩ đến anh không/...” (Em có mơ điều gì khác). Có lẽ cách độc thoại mãi thăng hoa khi chưa được đáp lại. Một trái tim yêu nồng cháy, không phân định bến bờ, rồi ví ngầm mọi vận động trong vũ trụ từ cánh rừng, trên trái đất, gió, mây, ... cho anh cách chọn lựa: “Chớp mắt bão bùng/ Phải xoay phía nào để được gặp em trong điều mới mẻ...”(Xoay phía nào).

             Điều mới mẻ chính là cung và cầu không thể thiếu năng nổ và dấng thân, không thể chấp nhận lặp lại ấu trĩ hẹp hòi, ích kỉ hay nhu nhược, trong nhận thức mọi mặt cũng khó tìm sự đồng thuận hướng đi tích cực, bởi chính thi nhân đang sở hữu từ “.. vệt sáng dài cô đơn”. Theo một hệ quy chiếu đối lập tương đồng với “một tia nắng gãy” của Hồ Minh Tâm từng vấp váp là vậy.  Thơ Lê Trọng Nghĩa đâu chỉ gợi hình, có thanh âm í ới gọi về từ trên cành xanh, của vị thơm môi ngọt mời mọc, cả ánh sáng vỗ lên cây ghita, nốt ruồi giấu trong hình nốt nhạc, ... (Tản mạn mùa đông, Điều gì đã trôi đi)*. Ừ thì, nào ai hôn được lên gương mặt mình, dẫu tầm tay ta với hụt chập chờn thực mộng (Anh không nắm bắt được gì)*, và một khi cảm hứng thăng hoa thì nỗi buồn nén sau con chữ bất tận ùa về trong thơ anh.    

         -. Ở Khổng Trường Chiến với Bóng tăm thầm lặng là thế mạnh về sự hồi tưởng năm tháng chiến tranh đã qua, đã lùi dần… đã không còn là nỗi ám ảnh dấu ấn riêng nỗi đau người con trong gia đình, cả làng xóm, hay cả trên da thịt đất đai dân tộc mình: “Nghe vết sẹo quê hương trăn trối dưới chân mình”.(Vết sẹo), minh chứng thông điệp từ một công dân, nhà thơ Khổng Trường Chiến nhận ra sự vun đắp tô bồi của thực tại, cũng thể là nhắc nhở tri ân cha ông chúng ta đã sống và cống hiến không hổ thẹn tuổi đời mình.

          Thơ Khổng trường Chiến khi thiên về thời gian thực tại thì hình ảnh những người lao động cần cù bao gian lao với dụng cụ búa rựa thô sơ cũng bị khép lại nhường cho máy móc khai thác tài nguyên rừng ào ạc mở ra, đến hốt hoảng bất ngờ như những (Dấu chân của làng, Người ngủ trên vai núi)*. Rồi trong cách sẻ chia với ngư dân đi biển, không còn là ngọn hải đăng chiếu sáng la bàn mà anh nhắn nhủ một điều ngược lại: “Những tấm bản đồ vẽ từ máu/ mồ hôi/ và/ muối/ hóa thành ngọn hải đăng/ cho ngàn giấc mơ tha phương lập nghiệp/ cho tiếng sóng du dương đánh thức câu hò bá trạo/ cho những ngày/ biển rơi mất yêu thương”(Tấm bản đồ trên lưng người đi biển). Cơ hồ trong kế sinh nhai đối diện với phong ba, họ còn là tấm bản đồ trọng trách nhân chứng xác định hải phận quê mình. Hẳn nhà thơ có góc nhìn thấu đáo về diện mạo đất nước dân tộc. Bên cạnh những bài thơ: Gốm vỡ, Lại nhớ mùi mắm cua đã là đặc trưng làng nghề cho đến văn hóa ẩm thực mà chăm chút, sao quên được từ quê nhà ra đi. Chủ đề Bóng tăm thầm lặng hiện hữu chùm sáu bài thơ nuôi dưỡng cốt cách niềm tin cuộc sống đáng trân quý.



          - . Trần Quốc Toàn với Phương trời gió loạn mà đằm sâu những tứ thơ như bài: Mộng Côn Giang, thể trường ca bến bờ con nước từ đầu nguồn ra đầm Thị Nại. Vẫn là nét riêng đầy tự hào lịch sử văn hóa trầm tích bao đời quê nhà Bình Định, bên những đau đáu mất còn không nguôi, cũng được khép lại. Tên núi, tên làng, tên sông, tháp cổ, ... gắn với di tích, thành quách còn kia, câu thơ truyền lại... mà sẻ chia, đùm bọc, từ đó ra đi để nhớ thương mà trưởng thành(Mộng Côn Giang, Những đỉnh đêm cát và gió, Ký ức tôi.)*. Ngỡ Phương trời gió loạn mà vô cùng bình yên, sâu lắng tiếp nối sau những kí ức biết mở ra, biết dối diện và chấp nhận từ trong sinh hoạt thật tự nhiên vốn có, cho cái kết ấm áp tin tưởng dốc tâm đường cày mỗi ngày, dẫu nắng mưa khô hạn không thể nào bỏ lửng công việc: “Theo dấu chân trâu vung ngọn roi trên cánh đồng khô hạn/… / và bếp lửa là bài thơ thắp sáng giấc mơ tôi..”(Đảnh lễ mùa màng).

          Thơ Trần Quốc Toàn không chỉ là thời gian của quá khứ ghi nhận, và sự tồn tại trong chừng mực hôm nay, đã là vẻ đẹp nghệ thuật thơ ca lưu trữ trong mỗi tứ thơ anh... tựa thong thả tận hưởng thiên nhiên ban tặng, lặng lẽ chút hương nhài hòa quyện cả không gian mở ra: “...con chữ hóa cánh chim bay về rừng/ sau cơn mưa/ trăng ló dạng/ những bông hoa ánh sáng rơi xuống con đường ngoài ô cửa khuya...”(Ngã lưng vào ghế). Cũng không nhập nhằng ngày và đêm. Có đêm có sắc trăng vàng, có ngày cũng có sắc vàng lúa thơm vào mùa bội thu thiết thực, hình ảnh ngầm đối chiếu những dấu chân trên đường kia với những bàn chân của mẹ cha nơi đồng sâu ruộng cạn tinh tế vô cùng(Nằm mơ giữa ngày). Thơ Trần Quốc Toàn chảy dài mạch cảm xúc không nguôi thể bất tận khai sinh mây trời sông nước rồi tụ về cái kết rất nhân văn.

           -. Còn Vân Phi với Trọ những cơn say, ngỡ chếnh choáng của gã lãng tử quên người, quên đời. Thực ra cái say duy trì tiếp nối từ đồng làng quê với dáng cha bên bếp lửa, bóng mẹ khói hương cuối đồng làng đủ gợi nhớ thương từ nơi xa thẳm. Mất còn lẽ tồn sinh, vẫn buốt lòng bấu víu vào không gian há riêng biệt của anh. Trong thâm tâm, lớp người trẻ luôn trăn trở hoài vọng về chốn bình yên quê nhà trú ngụ(Từ nơi ấy mẹ nằm, Đường về)*, bởi nơi ấy dấy lên ấm nồng của lửa, cay cay đụn khói chiều, bóng trăng đồng lúa chín tự tình: “Thăm thẳm vọng về trong khuya khoắt/ em gặt lúa dưới trăng/ lưỡi liềm cong như mí mắt/ cứa vào anh ran rát nụ yêu đầu”(Đường về). “Em”, hiện hữu cái nhìn từ bức tranh lao động chân chất, thuần thục đức hạnh nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân ấp ủ lên men tự lúc nào(Điều không định nghĩa)*.

              Rồi thoảng đó đây lưu đày cảm xúc vô tận, sao giấu được cái say khướt với trăng thanh. Phải chăng ánh trăng từ hai thời điểm khác nhau, cái say trăng hay say người hay một tình yêu đầu đời thơ mộng, với Vân Phi trở lại sự tĩnh tâm, nhận ra cái khát khao vô cùng chới với lắm không: “ta ngồi lại với ta thêm chút nữa/ nghe giọng mình/ khản đặc phía khơi vơi...”(Trọ những cơn say), chất ngất đời người cho cuộc di dân mưu sinh tồn tại như lửa thử vàng, gian nan thử sức trong đôi tay nghệ nhân khéo léo làng nghề truyền thống được mở rộng sẻ chia(Gốm lưu lạc)*, trong thử thách tâm hồn yêu thương thanh lọc chính mình(Sông ly hương)*. Cái say trong thơ Vân Phi sâu lắng bung chảy cảm xúc tự bên đời.  


       
            Cồn- kế thừa thể thơ tự do, thể như những cánh diều bẩy vầng trăng quê thơ mộng muôn đời mang sứ mệnh vị thần tình yêu cuộc sống bền vững, nhập vào thế giới tâm hồn tồn tại cõi nhân sinh. Nên chẳng thể điên rồ gọi tên Cồn cho một tập thơ rất “nẫu” đang độ nồng say, chếnh choáng từng bậc thềm ánh sáng lên trang sách, đầy dấu ấn duy trì thơ ca đương đại ./.