Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2013

ANH ĐƯA NÀNG VỀ DINH…



                 ANH ĐƯA NÀNG VỀ DINH…
             Anh đưa nàng về dinh là cụm từ trong cả câu “Là đưa… í a… đưa nàng… đưa nàng… anh đưa nàng về… dinh,…” trong bài dân ca Nam bộ Lí ngựa ô. Hình ảnh con ngựa luôn gắn liền với những câu tục ngữ, thành ngữ, dân ca quen thuộc và người khớp con ngựa ấy chính là chàng. Chàng yêu nàng lắm mới đưa nàng về dinh để được chăm sóc nâng niu đêm ngày, bởi nàng có đôi tay khéo léo làm nên chiếc nón cho chàng đội đầu, tung vó ngựa trên mọi nẽo đường quê hương. Cũng từ đó chiếc nón chàng đội trên đầu có tên là nón ngựa.
 
alt
            Nón ngựa không mỏng mảnh như chiếc nón lá bình thường mà các mẹ các chị thường đội đầu khi ra đồng ruộng, lúc vội vàng bước chân đến chợ hay thong thả trên con đường làng về nơi lễ hội, hay che mưa nắng giữa những giờ lao động vất vả ngoài trời … Có lẽ trên yên ngựa chỉ chiếc nón cứng cáp mới có thể chịu đựng những lúc chàng tung vó phi nhanh đúng lúc kịp thời. Cho nên nói đến nón ngựa là phải kể đến sự dày dặn chiếc nón, công phu người làm nón, nón không chỉ độ chắc chắn còn mang tính thẩm mĩ cao bởi được dùng trong mùa cưới khi xưa cặp đôi hạnh phúc sánh bước bên nhau. Vậy ra nón ngựa đã có từ lâu lắm, nhưng với thời công nghiệp, phương tiện đi lại bằng xe đạp, xe máy thì chiếc mũ bảo hiểm chắc chắn an toàn hơn khi tham gia giao thông, dần dà nón ngựa chỉ dành cho một số người đi bộ yêu chuộng sự thuần túy Việt mới sử dụng thường ngày, hay là đồ vật trang trí bởi giá trị thẩm mĩ cao. 
 alt

 
alt
            Nói đến nón ngựa đẹp và bền chỉ có ở thôn Phú Gia xã Cát Tường huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định là nổi tiếng hơn cả. Ai đã từng đến tận nơi xem cách làm nón ngựa lắm kì công từ một làng nghề truyền thống ở một vùng quê của những người dân lao động thủ công mới thấy hết cảm xúc tâm hồn gởi vào đôi tay khéo léo của họ. Muốn làm nón trước hết phải có sẵn cái khung gỗ hình chóp mà đường kính khoảng hơn 40cm , đường cao thẳng góc ước chừng 20cm. Cùng những nguyên vật liệu như cây giang, lá kè, cây dứa, chỉ màu.
              Muốn giữ được độ bền chiếc nón ngựa và uy tín làng nghề cổ truyền thì dùng những vật liệu trong tự nhiên đúng thời điểm sang xuân nắng bắt đầu ấm, đem vào sử dụng thì mới có hiệu quả cao. Để làm sườn nón theo từng vòng tròn thì chọn cây giang tươi đủ tuổi từ trên núi rừng đem về chẻ đều vuốt tròn trên một miếng sắt đục nhiều lỗ nhỏ bằng nhau khỏi bị phạm chỗ dày chỗ lõm. Tiếp nữa là cũng loại giang ấy dùng để đan mê, luôn sườn phải cưa đúng kích thước sau đó chẻ nhỏ phần cật, phơi khô, vuốt đều như cây tăm, nạo sạch vỏ màu xanh bên ngoài. Còn để có chỉ kết chằm nón người ta lấy lá cây dứa (thơm tàu) ngâm nước khoảng ba ngày, tước lấy phần tơ rồi đem phơi gió cho khô, nhưng cách này hiện nay không ai dùng nữa vì tốn nhiều công đoạn và ít bền so với cước công nghiệp đều sợi mảnh mai hơn. Muốn có đường vành và sòi nón đẹp phải lấy rễ dứa rừng, chẻ thẻ, phơi khô chuốt tròn. Cũng như phải có chỉ màu để thêu hoa văn theo ý muốn. Và một thứ vật liệu không thể thiếu mà rất công phu tỉ mỉ là chọn lá kè (lá cọ), tước lấy sóng lá, phơi gió cho khô, vuốt lá cho láng bằng cách đặt úp miếng sắt dày(lưỡi cuốc) trên bếp lò than đỏ, một tay cầm chặt cái túi bàn là trên miếng sắt, một tay nữa đưa lá kè nằm giữa miếng sắt và bao đựng cát bọc lớp vải bên ngoài thật dày ấy đè trên miếng sắt vuốt nhanh lên bề mặt lá kè làm bóng láng lá hơn, cắt lá theo kích thước, rọc lá cho nhỏ, đến luông sóng, sau đó là rúp đều.
           Có sẵn vật liệu chỉ việc tiến hành làm nón theo nhiều công đoạn từ việc vào khung sườn với những khoảng cách đều nhau bằng những cọng giang vót sẵn, rồi đến đan mê theo hình tứ giác( hình chữ nhật)… như kiểu đan giỏ các khoảng cách cân đối mới đẹp, tiếp nữa là luôn sườn đứng đến thắt nan sườn, dọn vành hay kết vành vào nón, tỉa chóp, thắt chóp sườn, tra vành, vô vành giữa bằng ống giang đã chẻ và vuốt sẵn, tiến hành thêu hoa văn theo mẫu những con vật đem lại niềm vui và sung túc như long lân quy phụng, hay cây cảnh đặc trưng của bốn mùa như mai lan cúc trúc, hay những họa tiết khác nhau theo thị hiếu người tiêu dùng của mọi tầng lớp trong xã hội. Đến phần can ốc trên chóp nón đã làm sẵn rồi kết vào sườn. Khâu tiếp nữa là bủa lá theo hình rẽ quạt cho khoảng cách bằng nhau khi chằm làm sao cho đường chỉ thật đều với những nét thanh nhã. Hoàn tất các khâu làm nên sản phẩm đội trên đầu theo một phương pháp dây chuyền chỉ yêu cầu sự tỉ mỉ thận trọng từ đôi tay nhuần nhuyễn truyền lại đã bao đời nay, việc chằm nón ngựa không cần phải đi lại nên cũng rất phù hợp cho người khuyết tật đôi chân, để họ có công ăn việc làm thường ngày ổn định. Cho dù chiếc nón ngựa rất kén khách bới giá thành cao. Mà đúng vậy. Cầm trên tay chiếc nón ngựa lại càng yêu quý hơn sản phẩm thủ công mĩ nghệ bắt mắt này!
              Nhưng bạn đừng vội đội ngay chiếc nón lên đầu sẽ bị chòng chành như cách ví von rất thật, rất dễ thương “Chòng chành như nón không quai/ như thuyền không lái như ai không chồng…” Thế thì phải chọn quai thôi. Chọn quai nón theo thị hiếu thẩm mĩ người đội nón. Chất liệu vải có thể là nhung, là gấm,… và tùy lứa tuổi cũng như giới tính, người sử dụng tự chọn màu quai yêu thích. Như vậy là nón có quai như thuyền có lái, như gái có chồng. Và đến lúc này nón em làm ra như gái có chồng rất yên tâm vì đã làm nên giá trị cuộc sống. Cũng như bao thương hiệu khác, sản phẩm nón ngựa Phú Gia Cát Tường Phù Cát đã chiếm lĩnh thị trường hàng Việt Nam chất lượng cao, nó đỏng đa đỏng đảnh hơn nhờ có chùm dây ngũ sắc lúc la lúc lắc trên chóp nhọn kia tạo nên thị hiếu với người tiêu dùng, không chỉ trong nước mà cả người nước ngoài ưa chuộng. Và có ai biết nón ngựa phú Gia được cải tiến từ nón ngựa bịt khuôn bạc đúc sẵn có hoa văn trên chóp nón của người xưa đầy vẻ kiêu hãnh về văn hóa trang sức, là nét đẹp riêng bên cạnh những chiếc nón lá Gò Găng Nhơn Thành tảo tần hôm sớm của người Bình Định quê mình ./.
                                              25.6.2013/ NTP                     

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Phận mình lỡ bước sang ngang




Cắm sào ông lái nhẹ nhàng cố lên

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

CHÚT TÌNH ẤM VỚI NGƯỜI XƯA


CHÚT TÌNH ẤM VỚI NGƯỜI XƯA


(Đọc “Sáu mươi mùa xuân gởi lại”-trường ca của Lê Bá Duy, NXB Hội Nhà văn- 2012) 

           Để vinh danh một người thời quá khứ phải dựa vào những yếu tố của xã hội và môi trường tự nhiên làm cơ sở. Đó là trách nhiệm của hậu bối đối với tiền nhân, việc làm này không chỉ kế thừa những chứng cứ có sẵn trong lịch sử dân tộc, trong gia phả dòng họ, mà sự ngưỡng mộ ấy đã được nhà thơ Lê Bá Duy viết nên bản trường ca Sáu mươi mùa xuân gởi lại (NXB Hội Nhà văn- 2012) thể hiện cảm xúc chân tình trân trọng đối với “Lê Công Miễn là người học rộng, trung nghĩa, làm quân sư, thầy dạy học cho hai hoàng đế Thái Đức và Cảnh Thịnh, Thượng Thư bộ hình thời Tây Sơn, là đại văn thần dưới triều đại Tây Sơn, là danh nhân lịch sử. Tên tuổi và sự nghiệp của ông đáng để người đời tôn vinh”/
(Tóm tắt tiểu sử Lê Công Miễn)
        Với Sáu mươi mùa xuân gởi lại đâu phải tác giả “cũng liều nhắm mắt đưa chân” mà tinh thần thai nghén là cả một quá trình nghiên cứu đầy tâm huyết với thủy tổ họ Lê theo trình tự lo-gic của một đời công thần dù bấy giờ đang sống trong thời phong kiến, nhưng tâm đức sáng ngời của bậc hiền nhân đức độ: “Sức học và văn chương khó người địch nổi, kinh điển lại càng uyên bác” (Tóm tắt tiểu sử Lê Công Miễn):

            “ Có một dòng dõi Lê gia
                Thủy tổ Lê Công Triều gốc Nghệ An
                Sinh năm 1630
                Đỗ tiến sĩ năm Kỉ Hợi(1659)
                Quan thời Lê, dòng dõi Nho giáo
                Nhân Chúa Nguyễn vào Thanh Hóa khai cơ
                Đem gia quyến vào Quảng Nam lập nghiệp
                Tạo dựng cơ đồ…
                Hậu thế Lê Công…
                Lê Công Ái hữu duyên tìm về Tuy Viễn…
                                           (Chương I, Nguồn Cội)
          Chính nhờ “hữu duyên” làm nên câu chuyện tình yêu thương chân chất của bao đời con cháu tiếp nối: “Mười mấy đời mấy trăm năm có lẻ/ Dòng dõi Lê gia danh tiếng một thời/ Hòa trong triệu người con đất Việt/ Dòng họ Lê đóng góp cho đời”/ (Chương I, Nguồn Cội).
          Trường ca Sáu mươi mùa xuân gởi lại mang tính chất sử thi nguồn cội nên không thể không có những dữ kiện mang sức thuyết phục người đọc thông qua cuộc đời Lê Công Miễn: “Là con trai út Lê Duy An/ Với mẹ Đỗ Thị Chi”. Cần và đủ để xác định lí lịch ông được sinh ra và “lớn lên ở miền quê thuần nông/ Cùng người dân / Ngụp lặn dưới dòng Côn tươi mát/ Tắm không khí trong lành say cảnh sắc quê hương/ Nô đùa cùng lũ trẻ chăn trâu những ngày hè nắng gắt/…/Và những cánh đồng bát ngát phù sa/ Bám rễ vào hồn những con người chất phác…” /(Tuổi thơ) mà bao đời nay người dân quê mình cần mẫn lao động bám đất bám làng để làm nên cuộc sống yên bình, những khát khao vươn lên nâng tầm nhìn xa rộng đâu đến được với ông khi đã “Khăn gói lên đường đến kinh kì/ những ngày tháng ôn thi” nhưng đến “Ba lần đều không kết quả” Nhưng cứ âm ỉ cháy trong ông về chí làm trai những tấm gương bậc trung thần khẳng khái như “… Nguyễn Trãi đã từng giúp Lê Lợi mười năm khởi nghĩa chống quân Minh viết Bình Ngô đại cáo lưu mãi ngàn sau…” thôi thúc con đường thăng tiến mà dễ gì đến được với ông khi đất nước đang trong thời kì “Trịnh- Nguyễn phân tranh/ Trịnh chiếm đánh Phú Xuân chúa Định Vương tháo chạy”. Giữa thời buổi loạn lạc, ông “Lánh về quê dạy học qua ngày/… / Chắp cánh ước mơ cho lớp trẻ sau này…” Từ chối cộng tác với Trịnh Sâm, vị chúa có tầm nhìn hạn hẹp, “ông lẩn tránh vào Nam ẩn tích mai danh, vui thú điền viên/ Tháng ngày khát khao gặp minh quân giúp sức…”/ (Sự nghiệp) Rồi đến lúc được “ Vua Thái Đức phong Hàn lâm Thị độc/…/Ngày ngày vào cung/ Cùng thầy Hiến dạy vua học đạo/ Và được vua tôn làm sư phó”, cơ hội “cờ vào tay” không phải là cơ hội để ông tận hưởng vinh hoa, nịnh trên nạt dưới như những kẻ tham quyền bấy giờ, mà ông hết lòng phò tá triều Tây Sơn và tự hào “Nguyễn Huệ tài ba mưu lược/ Ông tin vào sự nghiệp đang theo” nên đêm ngày miệt mài nghiên cứu tham khảo những bộ luật kỉ cương phép nước sao cho hợp lòng dân, ấy phải chăng là lẽ đạo đời của một người tâm đức ngời sáng… Có được đường thăng tiến chính nhờ sự tận tụy hết lòng trung quân ái quốc, dù xa quê nhưng cũng là dịp làm người thầy dạy chữ cho vua đầy vinh dự, ông thể hiện tài năng và đức độ của mình, không phụ công lao to lớn nên “Được vua tin yêu thượng thư Lê Công Miễn/ Tận tụy công việc vua giao” và là người “chấp bút hoàn thành Bộ luật triều Tây Sơn” đầy tự hào của một thời quân chủ!
          Giữa sự sống và cái chết của một đời người phải đâu là sự trăn trở, sự nghiệp công danh cũng như chính nghĩa nhân quyền rất minh bạch, lẽ nào thắng là ta thua là giặc, cứ nhan nhản cái thời cho lòng lang dạ sói gian tà ác quỷ rình rập khi mà: “Hai năm sau triều Tây Sơn sụp đổ/ Gia Long lên ngôi đàn áp kẻ thù/ Ai liên quan Tây Sơn không khỏi liên lụy…” đến như cuộc đời Lê Công Miễn cũng đâu thể nào nằm yên dưới mộ cho Mẹ Đất chở che, ông may mắn khi được người “cháu ruột là thượng thư hình bộ Lê Đại Cang tổng đốc đương thời/ Đã thiên táng mộ ông về Phước Hiệp”. Ngẫm:
               “Mười lăm năm theo chốn quan trường
               Như bóng câu vút qua lịch sử
               Như ánh sáng lóe lên bừng chói
               Tựa ngôi sao giữa vũ trụ vĩnh hằng…”(Sự nghiệp)

         Sáu mươi mùa xuân gởi lại khi đã “Mười lăm năm chốn quan trường/ Giờ rêu xanh mộ vô thường thế gian/ Hai đời hoàng đế gian nan/ Một lòng giữ vẹn Thanh- Cần- Ái- Khiêm…/ Ba gian nhà trống thanh liêm/ Một trời công đức dày thêm sử nhà…”(Sự nghiệp) để không hổ thẹn với họ hàng làng quê đất nước. “Hai trăm năm qua/ Người về quê an nghỉ…/ Mảnh đất quê hương…/ Tạc tên người vào lịch sử/ Thiên thu…/ (Tôn vinh). Để người luôn được sống mãi tuổi tên trên những con đường, trường học, tiếp nối đầy tự hào cho con cháu noi theo: “Cuộc đời Người bản trường ca bất diệt”.
           Nhà thơ Lê Bá Duy chọn đề tài viết về một vị Đại Văn thần thời Tây Sơn dưới dạng trường ca đầu tay gần nửa ngàn câu là sự thử thách lớn sức lực ngòi bút của mình. Có lẽ thi sĩ không ngần ngại, đây là việc phải làm bởi anh chính là là lớp người sau, là hậu duệ của Lê Công Miễn, không thể không tri ân, tự hào, tôn vinh trung thực về cuộc đời của vị quan thanh liêm có công lớn để lại hai tác phẩm: “Bộ luật hình thư và Tập quần thư mục. Bản thảo hai tập này trải qua nhiều năm bị mất/ (Tóm tắt tiểu sử Lê Công Miễn). Trường ca Sáu mươi mùa xuân gởi lại góp vào kho tàng thơ văn ca ngợi con người lịch sử quê hương Bình Định của thời đại Tây Sơn, nếu như đọc kĩ qua mỗi chương nhất là Tuổi thơ, Sự nghiệp, Tôn vinh ta lại càng yêu thương trân trọng hơn cuộc đời Lê Công Miễn phấn đấu lấy công việc làm nguồn vui, lẽ sống đâu chỉ cho riêng mình./.

                                           06.01.2013/ Nguyễn Thị Phụng 

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

TRẦN MAI HƯỜNG VỚI NHỮNG GIỌT THƠ RƠI

 TRẦN MAI HƯỜNG VỚI NHỮNG GIỌT THƠ RƠI
     (Đọc Những ngọn sóng tỏa hương, thơ Trần Mai Hường, NXB Hội Nhà văn- 2012)
TRẦN MAI HƯỜNG VỚI NHỮNG GIỌT THƠ RƠI

         Ai đã từng gặp Trần Mai Hường hẳn không quên nụ cười, nhất là giọng nói. Hình như chị thích nói, muốn nói, mà nói là phải đúng lúc đúng chỗ, đúng đối tượng để được sẻ chia. Bởi qua hai tập thơ Sóng Khát (NXB Văn học) và Đó là Em (NXB Hội Nhà văn) là sự trăn trở về tình đời. Phải chăng" Đã mang lấy nghiệp vào thân” thì đừng trách lẫn trời gần trời xa được… Chị làm thơ đâu chỉ giải tỏa cảm xúc, bộc bạch nỗi lòng day dứt từ những điều trông thấy trước mắt cùng những va vấp trượt ngã giữa đường đời vốn thênh thang và cần khẳng định trách nhiệm người cầm bút trong việc định hướng cách viết cũng như dành tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam trong hôm nay. Chính vì thế Những ngọn sóng tỏa hương (NXB Hội Nhà văn, 2012) của Trần Mai Hường kịp ra đời đúng thời gian mong đợi.

          Với chị, làm thơ rất khó, ngoài cảm hứng từ sự việc, con người cho cái tình trào dâng thì tứ thơ mới xuất hiện. Trần Mai Hường rất cẩn trọng từng con chữ nhưng phóng khoáng, không khắt khe vần điệu nên mạch thơ theo dòng chảy tự nhiên như suối đổ ra sông, sông ung dung lượn lờ cũng ra biển. Biển tích tụ cho đời làm nên những hạt muối trắng phau nuôi sống người dẫu bao đời luôn nhịp nhàng theo con sóng. Chị tự khẳng định " Người đàn bà làm thơ/ Xô lệch từng đêm/ Vắt khô mình/ Nước mắt…Người đàn bà làm thơ/ Nửa đời mặn đắng/ Nén nỗi buồn/ Những/ giọt/ thơ/ rơi…Người đàn bà trong em/ Muốn tan chảy vào ngôn từ vô tận/ Không đắn đo toan tính/ Còn/ Mất/ Thiệt/ Hơn”(Em).Thì ra, Người đàn bà làm thơ biết bao trăn trở suy tư có khác gì với người đàn ông hay không?!      
          Những ngọn sóng tỏa hương đầy ắp tình yêu ban đầu rạo rực khao khát cháy bỏng trái tim đương xuân của thời con gái. Đó là vẻ đẹp tinh khôi "Mùa thiếu nữ/ Chảy tràn trên khúc lãng du/ Đắm mình vào góc lặng/ Tự mình hân hoan”/(Mùa). Như ngập tràn nắng xuân ùa về nhớ nhung đắm mình: "Ẩn hiện thơ em những khẽ khàng bối rối/ Viết những dòng về anh - cho anh”.Nhưng thực ra sự tưởng tượng của nhà thơ vô cùng tinh nghịch: "Em hay đùa anh – hai phương trời xa thẳm/ Có một mối tình ngộ lắm- tình chay”(Viết tặng mối tình chay). Để rồi xa xót nỗi buồn đọng lại chơ vơ, chị đi tìm kỉ niệm của thuở nào:"Bỗng nhiên nhớ những tấm ảnh của anh/ Đẹp lạ kì với sắc chiều đồng nội/ Những tấm ảnh như bước ra từ cổ tích/ Sột soạt mắt người”. Đọc đến từ  "sột soạt” cho tôi nhớ ngay đến câu thơ Hàn thi sĩ miêu tả Mùa xuân chín: "Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lí đón xuân sang”. Sột soạt của Hàn gợi chuỗi hợp âm náo nức rộn ràng làn gió tinh nghịch cho tà áo em cuốn bay, hay là nền xanh cây lá trong vườn xuân ấm áp ngọt ngào đầy sức sống mở ra phía trước. Còn Sột soạt  trong câu " Sột soạt mắt người” của Trần nữ sĩ là sự đối lập trong đó nước mắt ứa ra là yếu tố gợi cảm nhạy bén cho cái chớp mi liên hồi. Và chỉ có nhà thơ mới nghe trọn vẹn tiếng động ấy từ miền nhớ nhung xa xôi đau đáu, chất chồng bung nở trong khổ thơ văn xuôi ùa về: "Có một ngày đá bỗng thấy nhớ nhung nỗi nhớ vu vơ nơi nào xa lắm như mây mướt hơn khoe trời ngọt nắng ngọn gió mềm lay khẽ phím non tơ…”(Thơ cho người mong gặp).
           Những lúc khát khao chín mùi cháy bỏng chị mượn tứ thơ năm chữ trải mình không một chút bâng khuâng đắn đo:
                  "Ngực rằm đang mùa chín
                   Em khuyết một trăng non
                   Có bài thơ lạc tứ
                   Đắm vần chờ nguyệt lên”/(Giá anh biết)

            Nhịp nhàng thanh bằng thanh trắc đan xen từng dòng như là sự lặp đi lặp lại xa xót tột cùng dẫu chỉ là cái cớ để bộc bạch nỗi lòng trước mắt thật trớ trêu "Kể từ khi cha mất/ Mỗi khi đi ra đường/ Con không quên mang kính/ Tròng to và màu đen” vì:
                  "Chỉ để con được khóc
                  Lúc tủi thân đau lòng
                  Mà không ai biết được
                  Con khóc dù phố đông”/ (Nhớ cha)
          Có những lúc mượn hình ảnh của phận cỏ thấp hèn để nói đến cái tình người gắn bó vô cùng lớn lao về một giá trị nhân sinh chân chính, đôi lúc giữa người sống với nhau cũng có thể thờ ơ, quên lãng, nhà thơ nhắc nhở nhẹ nhàng trong thể lục bát truyền thống điêu luyện mà hết sức giản dị:
                     "Oằn mình dưới bước người đi
                     Nén lòng thấm tiếng thầm thì nhân sinh
                     Vì sương cỏ nguyện quên mình
                     Dâng đời từng sớm bình minh nõn nà
                     Mai này dẫu đã đi xa
                     Còn nghe trong đất vỡ òa mầm xanh”./(Cỏ)
            Sự lựa chọn nào tốt hơn giữa thật và giả. Dẫu biết cái giả luôn được đánh bóng lớp men tráng kĩ bên ngoài đủ lừa mắt thường làm sao thấy được. Dễ bị lún sâu trong lòng đất khi dẫm phải bùn, lúc này chưa có điểm tựa, ngay giữa buổi chợ đời vẫn còn đồng thau lẫn lộn: "Tôi đã hằng tin mây phải bay/ Tôi đã hằng tin sen phải thơm/ Tôi đã hằng tin máu phải đỏ/ ” Nhưng điều gì làm cho chị hụt hẫng, kịp thời nhận ra những "hồ li ” vất vưởng lúc nhúc đâu đó chẳng là gì so với đóa sen ngàn đời mãi tỏa hương thơm, máu đỏ không thể thay bằng màu khác. Đó là chân lí: " Và bây giờ/ Tôi vẫn dặn lòng/ Tin” (Niệm). Lòng nhủ lòng: "Đừng hoang mang tình người thất lạc nơi đâu/ Đừng hoảng loạn trước dối lừa đó kị " Người làm xiếc đi trên dây rất khó/ Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn…”/ ( Nhấn F5). Trần Mai Hường mượn câu thơ của Phùng Quán "Người làm xiếc đi trên dây rất khó/ Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn…”. Nào phải là một sự chiêm nghiệm hay nói về nhân tình thế thái, mà là thói quen thành thạo có ý thức trách nhiệm trong nghề nghiệp. Công việc Người làm xiếc là giải trí thư giản cuối tuần đem lại tiếng cười sảng khoái. Làm nhà văn đâu chỉ kể lại câu chuyện vui buồn đầy vơi trong cuộc sống, không thể thờ ơ lừa dối trái tim mách bảo những điều mắt thấy tai nghe. Tiếng nói của nhà văn là tiếng nói của lương tri, của dân tộc.
        Đến với Những ngọn sóng tỏa hương ta gặp sự chuyển biến ở Trần Mai Hường sau chuyến ra Trường Sa, chị dồn hết tâm huyết viết về đề tài biển đảo. Trong khuôn khổ chật hẹp trên trang giấy, chị vẫn dành trọn vẹn tình cảm chân tình sâu lắng nhất trân trọng ngợi ca Những ngọn sóng tỏa hương* để kính dâng anh linh những người lính anh dũng hi sinh trong hải chiến Gạc Ma ngày 14. 3. 1988. Chị bồi hồi nhớ lại " Ngày Trường Sa bầm đỏ” đã " Quặn thắt lòng đại dương”:
                " Nơi các anh ngã xuống
                 Máu đã thắm san hô
                 Anh linh hòa sóng biếc
                 Cứ tỏa hương từng giờ”
         Quả thật đây là nỗi đau lớn nơi thềm lục địa Việt Nam. Là nỗi đau chung của toàn dân tộc Việt Nam. Mà gần nhất là nỗi đau mất mát từ trong gia đình của những người mẹ mất con, của những người vợ mất chồng, của những người em mất anh, của những người con mất cha, … Từ trong sâu thẳm trái tim, giấy báo tử hòa máu và nước mắt đọng lại đâu đây giữa lòng đại dương cho nguồn nước biển ngày càng mặn hơn bật sôi lên những đợt sóng cuồn cuộn dâng trào. Đến với Trường Sa, chúng ta tri ân thắp hương tưởng niệm "người chiến sĩ” có một tình yêu Tổ quốc thiêng liêng cao cả. Cho "Trường Sa bình yên”*. Nơi ấy là sự sống của quê hương: " Đảo nổi đảo chìm ngắt màu xanh cây cối/ Những em bé bi bô tập nói/ Mỗi hoàng hôn thiêng liêng tiếng chuông chùa”. Nơi ấy là tình yêu tiếp nối bền vững: "Anh lính trẻ thầm yêu cô giáo trẻ/ Con ốc mặt trời giấu lòng mình kĩ thế/ Chợt bừng lên mặt lính lúc cầm tay”. Cho Miên khúc đảo* được lên xanh vời vợi: "Đảo đang già thoắt hai mươi tuổi/ Trước những cuồng phong/ Lại dịu dàng cổ tích/ Phút nụ bàng vuông bung muốt cánh mềm” dâng đầy niềm vui rạo rực cho khúc ca bình minh trỗi dậy "Sống lại ngày tân hôn” ùa về nhung nhớ. Và vẻ đẹp những phụ nữ là vợ những người lính nhà giàn đã hi sinh trên thềm lục địa năm nào đã Hóa Sóng* hiện ra theo mạch cảm xúc của Trần Mai Hường rạng rỡ ấm áp: 
                " Anh đây rồi
                  Dưới ngần ngật biển xanh
                  Đôi mắt bao dung
                  Nụ cười ấm sáng
                  Bộ quân phục hải quân tỏa rạng
                  Giữa trùng trùng san hô”
           Không thể đè nén cảm xúc xuân nồng trong tình chồng vợ "  Anh ôm chị vào lòng/ Như những ngày xưa/ Ánh mắt bờ môi nói lời của lửa/ Biển cuốn khúc phiêu linh cuồng nhiệt/ Trăng đầm đìa chiêm bao”. Âm thầm tận hưởng hạnh phúc đâu muốn sẻ chia: " Chưa bao giờ chị kể ai nghe/ Về những đêm/ Hóa sóng”. Thật vậy, trong Những ngọn sóng tỏa hương, với phụ nữ bao giờ cũng kín đáo tế nhị dịu dàng, đôi lúc còn hoài nghi trước cạm bẫy mà mắt thường dễ gì thấy được. Ta hãy nghe lời thủ thỉ nhẹ nhàng: "Biết đâu là lời thật/ "Ngày thấy em – tim rơi”/ Biết đâu là lời thật/ Ngôn ngữ người rong chơi/”cứ cuốn hút một cách kì lạ "Sóng lòng dâng gọi mời/ Em nép vào hoang dại/ Thương giọt sương mê mải/ Đu mình trong nắng xanh” (Đâu là tình thật). Chị tỉnh táo chợt nhận thấy vầng trăng kia sao tránh khỏi mây trời: "Gieo mầm từ hạt ngu ngơ/ Nhận về giọt giọt dại khờ vọng âm”. Cách dùng cặp từ "giọt giọt” trong câu bát như tiếp nối sự dồn đập tăng dần đến đỉnh cao ngẫm ngợi kéo dài dè dặt: 
                     "Lòng trăng từ ấy thôi rằm
                      Mặc cho đời cứ trăm năm cuộc người…”/ (Lòng trăng)
          Với vốn nữ tính ấp ủ từ trong bào thai, Trần Mai Hường âm thầm tích tụ nỗi buồn trải dài mở ra chiếm không gian lớn hiện hữu từ trong cảm giác, thị giác, thính giác: "Có nỗi buồn ngang gió/ Mộng du vào tóc tôi/ Thấy dại khờ thêm nhánh/ Tua tủa đau đâm chồi/ Có nỗi buồn ngang nắng/ Lung liêng như mới vừa…/ Xõa vào đêm giấc ngủ/ Nhắc những điều chát chua/ Nỗi buồn rơi ngang mắt/ Ánh cười sao lấm lem/ Mở tròn đôi mi khép/  Lần vách đời mà quên”( Nỗi buồn ngang). Thi sĩ dỗ dành hãy cố "Lần vách đời mà quên” không thể cho nỗi buồn ngang choáng ngợp. Bởi chị nghĩ rằng cuộc đời người nào ai trọn vẹn ba vạn sáu ngàn ngày. Mà dẫu có được đến ba vạn sáu ngàn ngày cũng là quá ít. Ta đã đem niềm vui nụ cười đến cho mình, cho những người thân, họ hàng làng xóm…? Lòng tự dặn lòng hãy tự chiến thắng mình dù nỗi buồn ngang cố tình len lỏi:
                    " Buồn ngang chùa gõ cửa
                      Bình tâm như chưa từng
                      Tinh diệu ồ chuông chín
                      Tự lòng thiền ngân rung”/
                              (Nỗi buồn ngang).
           Và lúc này, nhà thơ thấy yên tâm hơn, có thể thong dong vững bước. Chị bỏ lại sau lưng những nhánh dại khờ giờ đã héo khô, những chồi đau cũng theo thời gian mục rã.
            Nếu như trước đây "Biển ơi sóng khát giấc mềm/ Ta ơi buồn đã đẫm mèm mắt môi”(Đốt miền chay tịnh). Nếu như trước đây "Đêm- một giờ/ Một giờ năm mươi- đêm/ Con chữ nhông nhao điên cuồng đòi thoát xác/ Tỉnh-mê lẫn lạc/ Thắp lửa dẫn nhau về…”/ (Vào lúc một giờ năm mươi phút). Vâng, chị đã bắt con chữ thoát xác đổi mới thi pháp của mình để có một Trần Mai Hường rất riêng, mạnh mẽ lựa chọn tứ thơ diễn đạt không hề khập khiễng cứng nhắc như sự đối chiếu có nét tương đồng của những nhân vật trong một tác phẩm mà GS. Hà Minh Đức đã mạnh dạn vạch ra trong lời thoại của Chí Phèo khi nhận mình mang dòng máu Việt, không hề tuyệt tự: "Đừng lầm lẫn tôi với AQ/ Tôi xem thường thằng hàng xóm ấy/ Suốt ngày dương dương tự đắc/ Viết không tròn một chữ O”( Chí Phèo).
         Một lần nữa muốn khẳng định Trần Mai Hường rất chặt tay trong cách lập tứ, chị dùng những thủ pháp nghệ thuật của thi ca để nói lên tiếng nói nữ quyền của mình, của một thế hệ, không hề đắn đo toan tính vụ lợi, không e dè, nhút nhát. Chị viết những điều cảm và nhận được từ trong đất liền, từ ngoài biển đảo. Đó là một thực tế không suy diễn. Không vì thế im lặng làm ngơ. Đó còn là một nhân chứng của lịch sử đất nước của ngày hôm nay.

 Mai Hường và Sẻ Nâu ở Hầm Hô Tây Sơn
alt
          Tôi cứ đắm mình theo con chữ trong Những ngọn sóng tỏa hương của Trần Mai Hường, nuối tiếc chỉ vì một tập thơ mong mỏng, đếm đi đếm lại cũng chỉ có bốn mươi hai bài. Mỗi bài thơ là một đóa hồng trinh kia, ngan ngát tỏa hương theo cái tình chị chắt chiu gom góp gìn giữ, buộc lòng thổ lộ gởi gắm không một chút ngại ngần, còn tổng hợp cái sắc màu chính là thân lá cánh hoa lung linh mời đón. Cẩn thận thôi, khéo cành hồng có gai mà e dè dùng đến găng tay gom lại một bó làm mất đi xúc giác ban đầu, hãy thư thả từng bài trên trang giấy tận hưởng phút giây êm dịu cho tâm hồn ngát miền xanh. Nơi ấy ngỡ như "Không hình hài”* mà sao chị khẳng định” Có niềm tin nào vô nghĩa…”(Không hình hài), bởi đó còn là "Bí ẩn vỏ sò”* cặm cụi "Hút tìm ban mai xa”(Bí ẩn vỏ sò). Còn nữa, cũng như bao nhà thơ khác chị nào bằng lòng với thực tại. Bởi thực tại là những gì đã trải qua. Cứ mỗi lần bụi trần vướng lên tóc áo, nhà thơ phải dừng lại suy ngẫm, rưng rưng rồi mới tiếp bước. Tỉnh táo nhận ra làm thơ luôn là sự thể nghiệm, bứt phá. Đó là nhu cầu văn học. Chị chắt lọc những con chữ ẩn mình trên những câu thơ, phả vào đó hồn cốt tinh tế không hề dễ dãi nhưng đôi lúc dùng dằng những từ như "dại khờ, dại khôn, nỗi buồn, buồn ngang, buồn dài, đâm chồi, trỗi dậy, nhú mầm, mùa xanh, nảy xanh,…” ở một số bài thơ đầu trang sách có phải là điểm nhấn hay dụng ý của tác giả. Nhưng điều đó không hề giảm đi giá trị nghệ thuật thi pháp thơ đương đại thiên về hình tượng ngôn từ.  Cho nên mỗi câu thơ như cánh chim bay giữa bầu trời cao rộng. Cả bài thơ ngỡ từng đàn tung cánh ở trên không. Có lúc như thể hình cầu vồng lấp lánh, hay ngược là cánh võng đong đưa. Có lúc như đường viền chân trời sinh động biết bao. Đọc thơ Trần Mai Hường ta tìm ra tính hướng thiện, lòng nhân ái gieo trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người. Nhớ những gì cần nhớ để bảo vệ, để tô điểm, gìn giữ nâng niu. Quên những gì phải quên để cho nụ cười luôn nở trên đôi môi khi mỗi người biết xích lại gần nhau yêu thương và chia sẻ.
            Có đọc kĩ Những ngọn sóng tỏa hương của Trần Mai Hường ta mới hiểu được lời nói của Nicôla Ghiden: "Tôi thích xuất bản một quyển sách trong ba năm, hơn là ba quyển sách trong một năm”. Đối chiếu với thời gian tập thơ trước của chị đã xuất bản là năm 2010 là như vậy.

 20.10.2012
Nguyễn Thị Phụng .
___________
*Tên những bài thơ trong tập