Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

ĐƯỜNG ĐỜI CHÔNG CHÊNH (Chốn bình yên để khóc- Phạm Kim Sơn)

Văn chương Bình Định

                   
 ĐƯỜNG ĐỜI CHÔNG CHÊNH
(Đọc tập Chốn bình yên để khóc, truyện ngắn Phạm Kim Sơn, NXB Văn hóa- Văn nghệ, 2015)
      Đáp số đường đời thường trải qua chặng chông chênh như những nhân vật trong truyện cổ tích, nhưng không có bàn tay của đấng siêu hình nào phù trợ, họ tỉnh táo kịp nhận ra giá trị cuộc sống đích thực có được là ở tự chính mình. Phải chăng tập truyện ngắn Chốn bình yên để khóc của Phạm Kim Sơn (NXB Văn hóa- Văn nghệ, 2015) thuyết phục người đọc đâu chỉ ở motip từ cấu trúc hình thức mới để chuyển tải nội dung mới về hiện tượng xã hội. Nếu không phát hiện, ngăn chặn kịp thời chẳng khác nào độ ẩm lâu ngày là cơ hội cho những nấm dại tự do kia tràn lên mặt đất, nhiễm khuẩn lây lan ảnh hưởng đến văn hóa gia đình nền tảng xã hội.
     Có thể nói trong mười một truyện ngắn, Phạm Kim Sơn lại chọn Chốn bình yên để khóc làm tựa đề tập truyện đủ khẳng định hạnh phúc con người đâu phải tự dưng có được, phải vượt qua những “tấn trò đời” trước mắt là mua vui cho thiên hạ, sau mới là công cụ cho mưu cầu lợi ích cá nhân, và hơn thế nhằm đẩy con người vào đáy vực xã hội. Đến lúc này làm gì có chốn bình yên để khóc. Bởi ngay trong gia đình, nếu chưa kịp lắng nghe, hay không muốn lắng nghe, đó là sự ngông nghênh bất cần và buông thả tuổi trẻ, để dẫn đến tình huống trớ trêu mà chính nhân vật “tôi” gần phút cuối cũng đủ tỉnh táo nhận ra “Cuộc trò chuyện của những kẻ “săn hàng” khiến tôi rợn người. Cơn say bay biến. Tôi nhẹ nhàng bật chốt cửa. Là toilet nam! Có lẽ vì quá say nên tôi vào nhầm. Ơn trời!” Và cho cái kết thật dễ thương “Ừ, thì khóc! Khóc để có thể quên đi những chuyện đáng buồn. Để gột rửa. Để biết rằng ngày mai mình vẫn còn một con đường để đi”(Chốn bình yên để khóc). Đây chỉ là một trong những thông điệp nhỏ về sự tha thứ và biết tự điều chỉnh tính cách cá nhân mà nhà văn muốn sẻ chia trong truyện ngắn đầu tiên.
         Còn trong Đường đời chông chênh , ta gặp cặp đôi “Nguyệt” và “gã”có chung ước mơ xây tổ ấm gia đình trong tương lai. Gã lên thành phố không ngoài mục đích kiếm tiền, từ việc bị bóc lột công lao động, đến bị mua chuộc, bản chất thật thà đã sa vào việc vận chuyển hàng cấm. Còn Nguyệt vào đại học có thánh thiện, hiểu nhầm, ghen tuông mù quáng đã đẩy nàng rơi vào cạm bẫy “Mã Giám sinh” và từ đó bế tắt. Con đường mà nhà văn mở ra cho nhân vật Nguyệt là ý thức chống chọi thoát thân bảo vệ mình, mà lỡ tay gây án mạng. Cuối cùng họ thành những phạm nhân ngỡ như không lối thoát, nhưng chính nơi trại giam đã cải tạo hướng nghiệp họ sớm hoàn lương. Nếu như ai đó bảo rằng con đường ta đi đến đầy ắp hương thơm và sắc đỏ hoa hồng, tôi có thể đồng ý. Nhưng có điều đằng sau hương sắc là chông gai thử thách, định kiến xã hội, dư luận xôn xao. Ý nghĩa giá trị cuộc sống đàng hoàng khó phân bố công bằng cho hệ tư tưởng những con người khi những nhận thức còn ám ảnh. Điều đó nhà văn đã lập luận đoạn đối thoại để tìm ra câu trả lời từ nhân vật “gã” trưởng thành trong trại giam “…Đó là cách giúp họ xóa đi mặc cảm, hòa nhập với cộng đồng. Cuộc đời vốn cay nghiệt. Nhưng biết rộng lượng với người cũng là rộng lượng với chính mình, anh bạn trẻ à!”, mở ra cái kết thật có hậu đầy ý nghĩa “Họ phải nổ lực nhiều để không rơi vào bế tắc. Cửa trại tù đã khép lại sau lưng. Phía trước họ là cuộc đời. Đường đời chông chênh, cay nghiệt, có sai lầm, có trả giá, nhưng không có con đường nào là tận cùng”.
       Không có con đường nào là tận cùng. Mà đúng vậy. Muốn có cây hạnh phúc phải tự tay vun trồng, chăm bón, vin cành cắt tỉa thường nhật. Đôi khi cây hạnh phúc gia đình là món quà, của biếu từ người lớn sắp đặt theo mục đích quyền và tiền. Chấp nhận luôn kèm theo sự cam chịu an phận cho cái gọi là trật tự của một gia đình “nề nếp” kiểu “phu xướng phụ tùy”, phụ nữ luôn là nạn nhân, như nhân vật “nàng”(Như chưa từng được khóc, tr.27) biết vượt ra phạm vi bức tường rạn nứt, tìm con đường sống đúng đắn. Phải chăng là một quyết định sáng suốt tự giải phóng bản thân mình.
       Cách tự truyện về mối quan hệ tình cảm qua văn bản trên internet trong Làm thế nào để biết nàng là cave (tr.39) chủ đề quen thuộc, lại rất mới. Từ trong lời thoại nhân vật thiên về trữ tình, đó có là sự thật hay không: “Đời em ghét biến cố! Nhưng tránh sao được hả anh? Anh khác với những người em thường gặp. Anh kiệm lời nhưng biết làm người khác ấm lòng. Nghề của em là phải che giấu thân phận mình. Càng nhiều càng tốt. Vậy mà em lại trải lòng với anh hết trơn. Sẽ thật nguy hiểm cho em nếu anh là công an. Mà em đùa vậy thôi. Anh trông giống nhà văn hơn. Vì nhà văn thường có cái nhìn cảm thông”. Chính sự cảm thông ấy, nhà văn trăn trở muốn được sẻ chia với bạn đọc “Hãy luôn đặt câu hỏi, rằng mình sẽ làm gì khi rơi vào hoàn cảnh xấu nhất? Chắc chắn mỗi người sẽ tìm thấy câu trả lời thỏa đáng để nhìn cuộc đời bằng ánh mắt dịu dàng hơn, đỡ cay nghiệt hơn. Tôi tin rằng, dù ở nơi được coi là tối tăm, bụi trần vẫn luôn có một góc khuất đã và đang neo giữ tâm hồn của mỗi con người.” Và luôn sẵn sàng nghĩ  tới nàng. “Nghĩ tới một lối đi khác dành cho nàng” đó là công ăn việc làm khi chủ quán cà phê sân vườn đang cần người tin tưởng giao công việc. Đọc hết Làm thế nào để biết nàng là cave ta thấy chỉ từ một thế giới ảo, nhưng thoát ra ngoài họ vẫn là những con người thật, đang tồn tại quanh ta. Vì thế “tôi”, người luôn quan tâm có trách nhiệm với mỗi thành viên trong cộng đồng, yêu thương và giúp đỡ…
Nhà văn Phạm Kim Sơn


      Phải nói rằng, nếu Phạm Kim Sơn là nhà văn trẻ trong mười năm nay anh đã xuất bản ba tập truyện ngắn, và lại càng già hơn cách xây dựng cốt truyện và gọi tên nhân vật đưa vào các tình huống đối lập có gì một chút đắn đo, nghi ngờ, rồi dè dặt, ngây thơ trước cuộc sống vất vả thường ngày để nâng cao vẻ đẹp về lòng thương người, sự năng nỗ vốn có ở Nhi, bên cạnh hai “cô gái” đội lốt nhà sư đi lừa niềm tin của người dân trong truyện Trưa và Tối (tr.67). Ta còn có một lão Thiền đã giúp “gã” nhận ra giá trị văn hóa tinh thần ở mỗi làng quê, hay nói cách khác đó còn là nơi che chở, tỏa bóng, kết nối nghĩa tình của dân làng cần gìn giữ và trân trọng: “Ngồi dưới bóng mát của cây sanh, lọt thỏm giữa những người xa lạ nhưng hồn nhiên, mến khách, gã thấy mình như hòa chung trong không khí vừa thâm nghiêm, trầm mặc, vừa ấm cúng, chan hòa với những người dân làng Vạn. Cảm giác ấy đến nhẹ nhàng như hơi thở. Như bản năng. Như từ lúc sinh ra và lớn lên, gã đã là con dân của làng Vạn. Tự dưng, gã thấy ý định mang cái cây về thành phố bán cho đại gia lắm tiền là một hành động ngu ngốc và báng bổ. Cây vốn sống tự do giữa thiên nhiên. Cây mọc từ đất. Vươn lên trời cao. Tỏa bóng. Chở che. Kết nối. Giữ giềng mối cho xóm làng, họ mạc. Cho những người của ngày hôm qua, hôm nay và cho những đời sau. Nó là thứ tài sản vô giá của người dân làng Vạn chứ đâu phải cho riêng gì gã, lão Thiền hay  vị đại gia nào đó.”(Không chỉ là cây, tr.73). Rồi có không khí làng quê được đô thị hóa lại ào ạc trong sinh hoạt, mà con người còn kịp chấn chỉnh để gìn giữ nhân cách mình trong truyện ngắn Gió lạ (tr.111).
        Chưa hết đâu. Nhà văn còn bóc trần mọi ngóc ngách lối rẽ của đàn ông như Tường trong cư xử vừa “nam quyền” đầy bạo lực (Như chưa từng được khóc, tr.27); Như “anh”, người chồng lí tưởng, khôn khéo tế nhị trong kịch bản có ý nghĩa sâu sắc mà tác giả miêu tả chi tiết trong việc cắt nghĩa hình tượng cặp đôi nhân vật đồng lõa giữa “anh và cô gái”(Ngoại tình, tr.87); Lại có “anh” bị “… ám ảnh của thứ tình yêu pha lê, mê muội hay vì bất trắc của cuộc đời mà người trong cuộc không vượt qua được? Tôi không biết! Chỉ biết rằng, thỉnh thoảng người đàn ông vẫn tìm đến quán. Ngồi vào góc quen. Im lặng trong hoài niệm cùng với li cà phê đen không đá của mình” (Giá anh đừng minh bạch với em…, tr.101); Lại có đàn ông ngỡ như đấng trượng phu mà dè dặt, toan tính bên cạnh Hương, trái tim phụ nữ dễ xúc động, nhưng cũng đủ nhận ra lẽ phải, việc nên làm.(Em phải về thôi, tr.129).
         Có lẽ Chốn bình yên để khóc chính là những trang đời được Phạm Kim Sơn đưa vào trang văn bằng cách xây dựng hệ thống tình tiết khác nhau nên không có sự trùng lặp ở mỗi cốt truyện nào. Cách miêu tả, kể, hay cả đối thoại, nội tâm của nhân vật không nhẫn nha mà chắc lọc từ những câu văn ngắn một vài từ ngữ, đến những câu văn dài trọn vẹn để phát họa tính cách nhân vật trong một thời điểm giữa một không gian nào đó.  Chốn bình yên để khóc mãi đọng lại trong lòng người đọc vỡ òa về thời tuổi trẻ nông nỗi dại khờ, một chút kinh nghiệm ứng xử đối với người thân, bạn bè,… Và còn gì hơn sự chia sẻ cùng cảm thông khi cơ nhỡ, lỗi lầm. Xích gần bên nhau để yêu thương và hàn gắn các bạn ạ!...
                                                             NTP.


Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

THƯƠNG CHỊ của Nguyễn Thị Phụng

THƯƠNG CHỊ
                Tưởng nhớ chị ba tôi

Chị trở về với anh trên con đường rải vàng cánh cúc
Tiếng kinh kệ a di đà… buông, giục
khóe mắt cay cay
Bên chị có các con, các em, các cháu,…
Chông chênh lối nhỏ ngang đời

Phía sau xe chị đi


Chị ơi, tám mươi năm cuộc người!
Nhớ bao lần chị kể
Tuổi thơ vấp ngày cơ cực
Năm mười bảy chưa biết tình yêu
Rồi theo chồng cư trú
Thành phố Ban Mê hơn nửa thế kỉ rồi
Giáp Dần, Rằm tháng bảy đâu nguôi
Trắng khăn tang, một mình chới với
Tay bế, tay dìu sáu con thơ dại
Tuổi xuân qua tháng ngày bương chải
Sum vầy cháu con…

Tránh sao một mình gồng gánh
Lâm bệnh tuổi già đớn đau
biết không cưỡng ý trời
“Chừng nào em Phụng lên thăm…”
như lời trăng trối
Em
Nghẹn nước mắt rơi
Lời tiễn chị
Chị ơi!...

Từ nơi chị an nghỉ nhìn ra.


Đã cuối thu đâu, còn đến bốn tuần
Vội vã chi sáng nay khóm dã quỳ se sắt
Những hạt ban mai lất phất
Bám vào nỗi nhớ tóc xanh…
24/10/2017- NTP.

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

DƯỚI VÒM XANH

DƯỚI VÒM XANH




Dưới vòm xanh nhà tầng, nhà trệt,…
mái tranh vàng ấp ủ trái tim xuân
Dưới vòm xanh đường mòn, lối nhỏ,…
đường vinh danh tên họ.
Này là đường bay không trung,
này đường hầm qua núi,
con đường mặt nước mênh mông,…
Dưới vòm xanh những quy định riêng chung:
Đường rẽ trái, đâm ngang,
đường rẽ phải, một chiều, cao tốc,…
Sự thật thế gian có nhiều con đường cố chấp:
Lại cấm dừng, quay đầu, quá tải,… lạ chưa!
Dẫu biển chỉ đường lồ lộ giữa nắng mưa
Cứ thẳng hướng hay vòng vèo
đều về thành Rome phía trước…
Dưới vòm xanh còn lắm đường mưu chước
Đèn đỏ…
báo dừng…
Chọn tuyến mà thông…
                    16.3.2014

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2017

BÊN LỀ NHÀ SÁNG TÁC NHA TRANG

BÊN LỀ NHÀ SÁNG TÁC NHA TRANG

           ĐÊM:
           Mọi tù túng trong toa tàu từ ga Diêu Trì về Nha Trang và sợ phải bước vào thang máy khi cơn say sóng dễ gì bỏ ta. Đêm đầu tiên trôi qua trong căn phòng tầng tư còn cảm giác bập bênh. Tiếng trống lân rộn ràng đường phố lấy lại thăng bằng cho đêm tiếp theo. Nhưng đêm thứ ba chờ đón rằm lại mưa mới lạ, trăng giấu mặt buồn. Hôm sau, 16 trở lại hồn nhiên dát vàng tròn trịa bình thản trên nền trời xanh pha lam ửng chút hồng chiều vàng đã ngả. Giờ trăng lại quyện vào ta. Dòng người dập dìu ngược xuôi tiếp nối dọc đường Phạm Văn Đồng ven biển. Chiếc áo phao màu cam, đỏ,… mờ dần, không còn có mặt. Đây đó gần xa ánh đèn những con thuyền nhấp nhô giăng bắt cá tôm. Biển khoác chiếc áo lấp lánh bạc mạ vàng kiêu sa, nhịp nhàng vươn ngực thở, có lắng nghe mới thấy sự bình yên. Rồi hạt thu rơi. Lũ ễnh ương, ếch nhái có dịp tha hồ uềnh uệch thâu đêm. Hạt càng rơi. Rơi. Rơi về khuya biển dồn dập từng cơn sao lắm nỗi niềm đến vậy. Không. Có lẽ con bấc từ ngoài khơi xa đổ về, chứ mạn bờ nào muốn ào ạt. Rồi hạt đêm rơi. Rơi. Xoay vần tiết trời thu phân cho người mong đêm mau cạn…
Trăng 16.8.2017 Đinh Dậu
                                       

     NGÀY:
             
                         
         Chút thu nũng nịu trong nắng sớm vơi dần, đưa bước chân tuổi thơ vào lớp. Cuộc hành trình không chùng bước giữa đường đời mê say. Không một chút chần chừ. Sự trở lại Tháp Bà kỉ niệm cây Trôm Côi mấy trăm năm gắn tình người và đất, cho tôi tìm hạt cuối cùng gieo mầm xanh hoa lá, ra quả ngọt khúc tình ca. Miên man tiếng chuông Nhà thờ Đá thánh thiện. Miên man tiếng chuông chùa Từ Vân (Chùa Ốc) độ lượng. Tôi yêu cả Chúa và Phật. Từ bi và bác ái tự lòng.
                                  
Bên cây Trôm Côi nhớ kỉ niệm
                                  

Nhà Thờ Đá Nha Trang
                                            

                                                                    
Chùa Từ Vân (Chùa Ốc)

        Thế mà cá tôm nào biết lựa chọn, bị giam hãm tù túng trong bể kính, bế tắc ngượng ngùng, biết làm gì với người. Có lẽ chúng yên tâm hơn. Chỉ lo góc biển nào đó, nước thải từ nhà máy đổ ra, đồng loại chúng phải giật mình thảng thốt. Những anh “Tôm bác sĩ” đóng mác cũng chỉ quây quần bên nhau, đâu thể tự tiêm thuốc điều trị, cũng phải nhờ bàn tay con người. Thế nên mới có ngành Hải dương học. Còn là nơi cho du khách ngắm nghía, trầm trồ, lưu lại trong bộ sưu tập ảnh. Cá tôm một đời yêu biển bên người.
                               
Tôm Bác sĩ


         Biển bao la đón nhận đêm ngày hiền hòa mưa nắng, lấp lánh ánh bạc cá tôm đầy khoang thuyền, rạng ngời đôi mắt yêu thương. Đôi lúc bão táp cuồng phong vồ vập khó trở tay, phải tìm nơi trú ẩn. Theo mùa bão trời có chi là lạ. Chỉ lo những chuyện cơ cầu khó né. Mà né bão người thế mạnh lại khổ hơn. Nào ai dung túng cho kẻ “đi lại nghênh ngang ngoài đường uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ…: (Trần Quốc Tuấn) từ xa xưa ấy, buộc lòng tuốt gươm trận mạc. Miền đau thương uất ức trào dâng. Giờ đây, nén nhang thơm trước Bia tưởng niệm 64 chiến sĩ Gạc- Ma ngày 14/3/1988, ở tại Khánh Hòa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vừa khánh thành hôm 15/7/2017. Làm sao chúng ta có thể sẻ chia hết tấm lòng những người mẹ ở Đà Nẵng, Khánh Hòa,… có con ở tuổi đời 19, 20; những người vợ ở Hải Phòng, Nam Định,… thường ngày nhìn con côi cút vắng cha,…Thời gian cũng đã làm nguôi ngoai thương nhớ, rơi rớt hận thù, mong xích lại bên nhau trong tình nhân loại cho hồng cầu không vỡ ra theo làn đạn mũi tên.
                                      
Tượng đài chiến sĩ Gạc-Ma
                                         
          Còn núi. Ai bảo núi soài ra biển, thể bàn tay ngón ngắn, ngón dài đặt lên nền màu nước ngọc ngà muôn thuở đẹp hút hồn du khách trên cung đường rồng lượn đến vịnh Vĩnh Hy (Ninh Thuận). Giữa cát biển và núi non trùng điệp bên cạnh Núi Chúa (cao 1040mét) bình yên, thu hút tầm mắt du khách yêu vẻ hoang sơ vốn đất trời ban tặng. Giá trị cuộc sống vĩnh hằng ở vịnh chính là làng chài, nhà mái lợp xanh, đỏ đan xen nằm san sát bên nhau, trong lòng vịnh chứa bao nhiêu là tàu cá ra vào tấp nập.  
                                 
Vịnh Vĩnh Hy- Ninh Thuận.


          Từng đợt sóng xô bờ chiều gọi bước chân anh Tường Huy (Đà Lạt) “dù bận rộn túi bụi, nhưng anh em văn nghệ gọi là tui có mặt liền!” Nhà thơ Trần Vạn Giã, Lê Khánh Mai, Như Hoài, Chế Trâm, Dương Đăng Huệ(Khánh Hòa) cùng bạn Nguyễn Quang Thành(Cam Ranh) cùng Nguyễn Kiều Phương (Sài Gòn),… Và các anh chị văn nghệ sĩ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận về dự Trại Sáng tác Nhà Sáng tác Nha Trang chung vui chúc mừng Tập truyện ngắn Những cuộc hẹn bên lề của Trần Trung Sáng (NXB Hội Nhà văn, 2017) đã từng giới thiệu tại Đà Nẵng, nay nơi góc phố Nha Trang. Một Võ Chân Cửu (Lâm Đồng) có mặt sẻ chia khi viết lời bạt cho tập truyện, về nhà văn thành danh năm 17 tuổi. Để hôm nay “Tấm lòng nhân hậu, luôn mơ ước cuộc sống tốt đẹp của Trần Trung Sáng gần như trải đều khắp các truyện…”. Mỗi bạn đọc được tác giả kí tặng. Thế mới biết cuộc chơi chữ nghĩa sang đến ngần nào. Trong buổi họp mặt, bên tách trà cà phê, Như Hoài lỡ say: “…Dốc cạn/ Sao hết những men cay?/ Khi tàn cuộc/ mây ngàn gió núi/…(Uống rượu). Một lãng đãng khát khao: “Nhiều khi tìm gì chẳng biết/ Ngu ngơ như thể vô hồn/…(Tìm, Lê Khánh Mai),… Rồi tiếng hát Phan Đình Dũng với Bóng cây Kơ-nia, “Thuyền và Biển” tha thiết trong giọng ca Hiền Loan, hay Nha Trang ngày về thuở nào man mác cho Chế Trâm tha thiết nhớ nhung,…
                                          
Nhà văn Trần Trung Sáng tặng sách Nhà thơ Lê Khánh Mai


         Chiều về phố biển Nha Trang dập dìu xe cộ, tôi giữ mấy câu thơ làm quà lưu niệm: “…Đi lâu con trở về nhà/ Vẫn còn nguyên bóng trăng ngà trên cao/ Từ trong hơi ấm ngày nào/ Dừa nghiêng bóng cũ ngã vào lòng con”(Trần Vạn Giã).
         Bất ngờ hôm sau, trong bữa cơm ở Nhà Sáng tác, nhà văn Trần Trung Sáng bộc bạch: Con bé hỏi chú ơi, sách có bán, con mua. Tôi nói ừ có, hắn cầm tờ 100 ngàn tiền thuê âm li, loa thùng vừa gởi để mua sách. Thấy nhỏ ham đọc, mừng, tiếc là không còn bản nào để tặng, vì số còn lại tôi đã ghi tên các bạn hết rồi.
                                                          


         Còn tôi thèm bước chân lên thềm Nhà Sáng tác như hôm mới đến, khi thuộc lòng tên các anh em cùng về dự Trại Sáng tác, tiếc phải nói lời chia tay./.
                                                                         
Đường hầm Đèo Cả 
                                                            



                                                              
NST Nha Trang 2017

 NST Nha Trang, 10/2017, Nguyễn Thị Phụng.



Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

CỐT CÁCH TRÚC- Nguyễn Thị Phụng


CỐT CÁCH TRÚC-  Trích Hương thảo thất, Nguyễn Thị Phụng



Thuở bé biết trúc trong lời ru mẹ hát “Trúc xinh trúc mọc bờ ao/ Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh. Trúc xinh trúc mọc bên đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh”(Ca dao) rồi chập chững ra đến đầu làng để được tận mắt ngắm tự thân nảy mầm măng vươn lên mọc san sát thành bụi có gióng thẳng thuộc họ hàng tre, trảy, vầu, mai, nứa,… Người ta đưa trúc về nhà chăm chút cắt tỉa ngắm nghía cho thỏa mãn đôi mắt khát khao, người ta trồng trước ngõ ra vào trở thành nét đẹp thanh cao trong văn hóa phong thủy cho “Ngõ trúc quanh co…”(Nguyễn Khuyến) mềm mại che bóng nắng hè oi bức, thanh lọc không khí trong lành, tránh ngọn gió bấc đang đông sau buổi đồng áng trở về với tình làng nghĩa xóm, cái nhàn tản của bậc thanh liêm nhắc nhở: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…”(Nguyễn Bỉnh Khiêm) đâu chỉ đơn thuần lặp lại ở nghĩa thực “ăn, tắm” mà còn là sự tôi luyện thể chất, thanh lọc tâm hồn mình. Cái cơ nhỡ ẩn trong câu hát đờn ca tài tử giao lưu trước những năm bảy lăm ở miền Nam “Thân đui tối tháng ngày lần gậy trúc/ Phần cơ bần cô bác rộng lòng thương”(Đào Tụng Phi nhắc lại) giúp con người vượt qua tăm tối. Thì ra trúc luôn gắn bó với con người từ xưa nay. Nhắc đến trúc, tôi nhớ  đoạn cây trúc nằm thẳng đứng đặt trong hộp kính có tên “Bảo trúc” treo sát tường nơi từ đường Danh nhân Văn hóa Đào Tấn ­ở thôn Vinh Thạnh 2, xã Phước Lộc. Cây trúc dài gần 1.6m, trong đó tính luôn cả phần bịt hai đầu đều bằng đồng có kích thước ngang nhau là 12cm. Đường kính chân gốc 2.5cm, mắt nhặt càng lên cao gióng dài thẳng, đường kính trên cùng 1.5cm, phần bịt đồng phía trên có khắc đầu đề và bốn câu chữ Hán, được chú Đào Tụng Phi, cháu cố cụ Đào Tấn đọc cho tôi nghe:
VẠN THỌ
Nhất vật kì lai hữu nhất thân
Nhất thân hoàn hữu nhất càn khôn
Sinh tri vạn vật cấu ư ngã
Khẳng bả tam tài biệt lập căn
Chưa xác định hoàn cảnh bài thơ, có thể là lúc Đào Tấn đang công tác hay nghỉ hưu, qua đó gởi gắm sẻ chia về sự tồn tại trong mối quan hệ giữa Đất- Trời- Vạn vật. Có thể hiểu được ý trong từng câu: “Sống lâu. Mọi vật vốn tự thân có sẵn/ Mỗi thân đều trở về vũ trụ/ Sự sống vạn vật gắn kết ta/ Ắt bả tam tài(Đất- Trời- Vạn vật) khi đứng riêng”.
Vậy thì Đào Tấn mượn cây trúc làm cảnh, đây là giống trúc tước bởi nó sẵn có trong vườn nhà, cây trúc đã thành biểu tượng cốt cách vẻ đẹp bậc hiền tài. Trở lại bốn câu thơ trên không ghi thời gian và tên tác giả, đâu thể khẳng định là của Đào Tấn được. Đó là bốn câu thơ đầu trong bài Quan Dịch ngâm([1]), thể thất ngôn bát cú của Thiệu Khang Tiết (Thiệu Ung) đời Tống. Chỉ khác một từ so với nguyên bản ở đầu câu thứ tư: “Năng tri vạn vật bị ư ngã” còn trên cây trúc lại ghi: “Sinh tri vạn vật bị ư ngã”. Có thể ngày ấy, Cụ xem đó như là một phương châm sống, một thú say thơ các nhà hiền triết, tâm đắc quan niệm nhân sinh thiết yếu của con người trong bất kì hoàn cảnh nào phải ý thức duy trì việc bảo vệ tự nhiên môi trường, nếu không con người tự đào thải mình ra khỏi vũ trụ.
Nhớ kỉ niệm 100 năm ngày mất Đào Tấn, đó là hôm rằm tháng bảy năm 2007, Giáo sư Anh hùng Lao động Vũ Khiêu về tự đường họ Đào ở làng Vinh Thạnh thắp hương tưởng nhớ Cụ, phải chăng đã xúc động về cuộc đời và sự nghiệp bậc Danh nhân Văn hóa, hay là Vũ Khiêu đã đón nhận bốn câu thơ trên cây trúc, và ngay buổi ấy, ông đã lưu lại bút pháp hai câu văn đối đầy trân trọng:
“Núi sông dồn cả tinh hoa lại
 Kim cổ bừng lên trí tuệ này”
(26.8.2007/ Vũ Khiêu)
Ngược hơn trăm năm về trước, ngày Nguyễn Tất Thành trên đường vào Nam đã đến thăm Huyện đường của Cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Tây Sơn, và có ai biết người thanh niên ấy cũng đã từng đi trên con đường làng Vinh Thạnh vào thắp hương Đào Tấn, mang hoa viếng mộ Cụ trên núi Hoàng Mai. Không còn là tương truyền, bởi “... Tôi may mắn được sống nhiều năm với cụ Nguyễn Sinh Khiêm, trong nhiều câu chuyện hễ nói đến Đào Tấn, cụ Khiêm đều sùng kính khẳng định: Đào Tấn là một trong những ân nhân của gia đình Bác…Lúc đó cụ Đào Tấn ở Nam An, ông Sắc ở Thanh Hóa. Hai người con của Đào Tấn là Đào Thụy Thạch và Đào Nhữ Tuyên - đều là học trò ông Sắc đã đứng ra lo việc tang cho bà Loan thay ông Sắc và thân nhân ở xa. Hai người con của Đào Tấn đã đứng ra đi vay cỗ quan tài của một người quen đem đến cho vợ thầy mình. Ân tình ấy không phai mờ trong tâm cảm Sinh Cung. Lúc đó cậu mới 10 tuổi…”([2]).
Trở lại bài thơ “Vạn thọ” gắn liền với thân trúc của Đào Tấn ngày ấy và bây giờ vẫn mang giá trị niên viễn.
24.3.2015



[1] 观易吟
一物其来有一身
一身还有一乾坤
能知万物备於我
肯把三才别立根
天向一中分体用
人於心上起经纶
天人焉有两般义
道不虚行只在人
邵雍

QUAN DỊCH NGÂM

Nhất vật kì lai hữu nhất thân,
Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn.
Năng tri vạn vật bị ư ngã,
Khẳng bả tam tài biệt lập căn.
Thiên hướng nhất trung phân thể dụng,
Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân.
Thiên nhân yên hữu lưỡng bàn nghĩa,
Đạo bất hư hành chỉ tại nhân.

Thiệu Ung




( Riêng ông Đào Đức Chương cháu cố họ Đào Tấn, đã dịch: Bài thơ khắc trên cây trúc Đào Tấn. Nguyên văn bản:

萬寿
一物其來有一身
一身還有一乾坤
生知萬物備於我
肯把三才別立根

Phiên âm:

VẠN THỌ
Nhất vật kỳ lai hữu nhứt thân
Nhứt thân hoàn hữu nhất kiền khôn.
Sanh tri vạn vật bị ư ngã
Khẳng bả tam tài biệt lập căn

Dịch xuôi: Vật này đến với ta tự nó đã có một thân/ Một thân mà có đủ cả trời đất/ Sống và biết rằng muôn vật cho ta đầy đủ/ Thì cứ cầm lấy nó là ta thâu gồm ba cõi mà nguyên chúng có từ những gốc gác gác riêng.
Dịch thơ:

SỐNG LÂU
Vật đến tự thân đã có rồi
Đất trời hội đủ một thân thôi.
Sống nhờ cung ứng từ muôn vật
Nắm gọn tam tài gốc khác nơi.

VIỆT THAO phụng dịch
(31- 10- 1994).
[2]Mối quan hệ giữa Đào Tấn và gia đình Bác của nhà văn Sơn Tùng.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

TÔI CÒN CHỈ CÓ MÙA THU - Thơ Nguyễn Thị Phụng

TÔI CÒN CHỈ CÓ MÙA THU*




Tôi còn chỉ có mùa thu
Lá vàng rơi rụng lời ru tháng ngày
Cuối trời mây trắng gió lay
Cánh bèo mặt nước vơi đầy tím trôi

Đường trần sao một mình tôi!
Bụi hồng chắn lối sương rơi canh dài
Nhạt nhòa chiếc áo hôm mai
Dấu chân bãi vắng biết ai mất còn

Tự tình sông biển đồi non
Có thương phận cỏ lối mòn từ đâu?!
Thẩn thờ ngõ trúc vườn cau
Bao nhiêu sắc cúc nhuốm màu thời gian

Bây giờ thấp thỏm thu sang
Cho tôi gởi chút ngổn ngang cuối chiều…
                              27.09.2009
_____________________

*Trích 

Nguyễn Thị Phụng EM VẼ TRÁI TIM MÌNH

NXB Văn học 2013.

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

NGOẠI CỦA NGÀY XƯA - Nguyễn Thị Phụng

      NGOẠI CỦA NGÀY XƯA- Trích Hương thảo thất

Cháu nội về thắp hương bà.

“Anh xin mời em đi về quê ngoại một lần thôi. Nơi anh chào đời, ngoại ru ngọt bùi, bao năm vất vả mưa nắng ngược xuôi…”. Tiếng hát ngọt ngào ấm áp  trong tôi hình ảnh quê ngoại ruột rà thương nhớ quá! Mà tha thiết nhất vẫn là bà tôi.
Có lẽ bà cưng tôi nhất trong những đứa cháu ngoại, vì tôi là thằng út của má. Còn má là con gái út  ngoại nên tôi được thừa hưởng tình yêu thương người lớn trong gia đình dành cho mình. Tôi quý ngoại trước hết là bà cùng ông có công sinh dưỡng đến mười người con. Thuở ấy là chuyện bình thường. Các dì, các cậu là anh chị của má (theo cách gọi của người miền Nam) đều được ông bà chăm sóc dạy bảo nên ai cũng có công việc đàng hoàng. Vì vậy bà yên tâm lắm.
Ở độ tuổi như bây giờ, bà chỉ đi lại trông coi nhà cửa, vo gạo nấu nồi cơm điện để đấy, con cháu đi làm về chỉ việc kho cá hay nấu thêm nồi canh nữa là đủ bữa cơm gia đình chuyện trò vui vẻ cùng bà. Lưng có hơi còng một chút nhưng xem ra bà còn cứng cáp. Qua lần giải phẫu, mắt sáng hơn sau cặp kính trắng bà đã nhìn thấy được con cháu mình khôn ngoan khỏe mạnh. Niềm vui nở trên khuôn mặt bao nhiêu là nếp nhăn năm tháng đi qua, lại càng hỏm sâu hơn cái đồng tiền ngày xưa tươi tắn. Bà đâu còn chiếc răng nào nữa. Người ta nói sinh một con mòn một răng. Mà bà có đến năm cậu trai, năm dì gái thế kia. Bảo răng nào còn ở mãi với bà được!
Cuối năm khi cái rét không còn nữa, công việc vẫn bề bộn, tôi phải sắp xếp thời gian về thăm quê. Lúc thì hộp bánh kẹo, cái khăn choàng cổ, chiếc áo ấm,… món quà nào bà cũng xuýt xoa, trầm trồ. Có lúc bà bảo, bà có nhiều lắm rồi, mua nhiều phí lắm. Biết ý, tôi thường lì xì “tăng sức khỏe người già” nên bà vui thêm! Tôi thích cầm bàn tay bà gầy gò trỗ đồi mồi nhăn nheo ấy đã từng hết bồng bế con, rồi đến bế bồng cháu. Bà thích được con cháu quan tâm thăm hỏi sức khỏe như ăn uống, thuốc thang, áo quần, dày dép,… kể cả đầu tóc bạc vừa cắt gọn bà cũng khoe. Đôi lúc đứng trước gương ngắm bộ đồ mới may về, khen màu này hợp với tuổi bà, vải tốt, mặc bền. Còn nhắc chuyện ngày xưa thời kháng chiến thắt lưng buột bụng, thiếu vải may áo quần, phải tận dụng luôn cả khăn sô đội tang trên đầu, hay câu liễn câu đối phúng điếu người chết, đúng ba năm mãn tang chỉ xé đốt một chút rẻo nhỏ, còn giữ lại, ngâm cho ra hết màu mực, giặt sạch may áo mặc. Khổ như thế đấy! Đâu như bây giờ, vải nhiều lại đẹp, mà may cứ hở trên hở dưới lỡ bụi bặm gió máy bám vào thì khổ thân thôi.
Cách đây ba năm, sáng sớm thức dậy, bà đến ngay trước cửa nhìn ra ngoài sân nói sao mấy ông, mấy bà đến nhà tôi làm gì, đi đi. Rồi quay vào phòng ngủ gọi dì tôi bảo đem cái lò lửa ra ngoài chứ để đây nóng lắm, con hư quá làm cháy cả mùng mền của bà. Dì tôi ngạc nhiên trước những sự việc không có mà bà nói vậy. Má tôi cùng dì và cậu bàn nhau đưa bà đi bệnh viện tâm thần. Bác sĩ bảo gia đình đã kịp thời đưa bà đến điều trị, chứ để lâu tắt mạch thần kinh, thường nói bị lẫn ở tuổi già. Dì tôi vẫn là người con trực tiếp chăm sóc bà. Đúng tháng sau, bà khỏe, sáng suốt hơn nữa, nhớ hết chuyện từ những năm nào. Tôi nghĩ thuốc hay thầy giỏi, theo khoa học là tốt nhất! Yên tâm sức khỏe bà.
Và thế là tôi được nghe bà kể về ông cố ngoại tên là Lê Hàm làm nghề thuốc bắc, mà sao chỉ cho bà học nữ công gia chánh: nấu ăn, thêu thùa,… Hay sợ bà được học chữ rồi đi làm xa như ông cậu anh Lê Đình Thọ vào Nam làm địa chính, ông cậu em Lê Đình Ban ra Bắc, phó hiệu trưởng Đại học y Thái Bình, bà dì em Lê Thị Trúc cũng ra Bắc, rồi về là viện trưởng VKS Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cho đến ngày nghỉ hưu. Nói đến đây, im lặng hồi lâu, bà nghẹn ngào trong nước mắt: có bốn anh chị em, một người mất trong Nam, một người mất ngoài Bắc, một người mất ở Tây nguyên, còn bà… chắc nằm lại ở đồng bằng miền Trung quê mẹ đây rồi, bà nói ngày xưa bà hai (chị ruột bà sau khi sinh năm người con gái, còn ra đi sớm) cũng nằm lại quê nhà!...
Thấy tôi bùi ngùi… và bà kể tiếp. Còn bà năm mười tám tuổi, nhờ mai mối, bà lấy ông ngoại gia đình nhà nho ở bên cạnh cách hàng rào duối, là con cháu ông cử nhưng nghèo lắm. Tôi cắt ngang câu chuyện, hay ông với bà đã từng đưa mắt, hò hẹn lâu rồi. Ai cấm được tuổi trẻ yêu nhau hả bà. Bà bảo hồi đó không dám. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ngẫm nghĩ một lúc, rồi cười nói tự nhiên: không biết là khổ hay sướng, có chồng phải có con. Cứ hai năm sinh một đứa. Bà như cái… máy đẻ không bằng, đàn bà ngày xưa khổ lắm cháu ơi! Đâu phải có kế hoạch như bây giờ chỉ sinh từ một đến hai con thôi. Được một chuyện ông thương bà lắm. Đẻ xong, ông kê toa hốt đúng một trăm thang thuốc bắc cho uống đúng một trăm ngày, sau đó bà mới ra chợ mua bán làm ăn. Tôi trầm trồ ông chu đáo quá! Chúng cháu bây giờ chắc phải học tập chăm sóc nhau như ông bà ngày trước. Được thể, bà tiếp tục. Lúc đầu mới về nhà ông, ngày đi làm, tối về thắp đèn dầu trong phòng riêng ông dạy bà học từng chữ cái, tập ráp vần xuôi vần ngược, tập viết, tập đọc. Có lúc mệt, bà lười, ông khuyên ráng học, còn kể gương học tập của ông nội(con gọi là ông cao tên là Nguyễn Táp) đỗ thứ 3/8 cử nhân khoa Ất Dậu(1885) Hàm Nghi thứ I trường thi Bình Định. Ông nhậm chức Giáo thụ, huấn đạo. Sau đó lại được hậu bổ tiếp làm tri huyện, cầm chiếu chỉ vua ban trên tay, chưa kịp đi, ông bị dịch tả rồi mất sớm lúc mới có ba chín tuổi. Bà bảo học giỏi như ông nội chết có tiếc không. Ông đưa tay che miệng bà: đừng nói dại, con người có số. Với lại ngày đó, không có thuốc thang là bao. Sau 1945, quê mình là làng kháng chiến, phong trào bình dân học vụ được mở rộng. Đêm đêm mọi người xách đèn dầu đi học. Bà vượt qua vòng kiểm tra trên đường đi trước khi vào chợ mua bán. Bạn bè lúc đó ai cũng ngạc nhiên. Cũng nhờ ông, bà ghi chép tính toán thu chi thông thạo, không mất mác đồng nào. Có vốn tích lũy, lấy đồng lời nuôi con ăn học.
Bà vuốt đầu tôi, vỗ vỗ vào vai bảo cháu có bạn gái chưa. Tôi dạ chưa ạ! Khó tìm quá bà ơi! Bà bảo khó thì đúng “Trước hồ sen sau lại hồ môn/ tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm”. Cưới chồng lấy vợ là duyên là nợ, là chuyện trăm năm. Một phần do mình nữa cháu. Tôi dạ, bà nói ca dao hay quá, tôi lẩm nhẩm lại… tìm khôn khó tìm.
Nhớ lời nguyện, những sớm chiều vất vả lên dốc xuống đèo kiếm miếng cơm manh áo cho con. Năm tám mươi tuổi, bà ăn chay ngày rằm mùng một. Trong mâm cơm vui vẻ chuyện trò bà cũng nói bằng tục ngữ: ăn trông nồi ngồi trông hướng. Bàn chuyện giáo dục con cái bà đọc ngay: con khôn cha mẹ nào răn/ ngẫm trông trái bưởi ai lăn nó tròn. Hay bàn chuyện tu hành, bà nói câu ca dao rất nhân sinh: Tu chi cho uổng tóc mai/ không bằng em nhặt nhành gai giữa đường. Việc thiện, việc tốt phải làm. Cứu người, giúp người lúc cơ nhỡ, hoạn nạn là tự nguyện góp công góp của cháu ạ! Cháu có nhớ ông Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga không? Còn biết bao nhiêu “nhành gai” khác mà chúng ta cần nhặt hết. Nam nhi phải thế. Tôi cười, nếu cháu là nhi nữ thì có “nhặt gai” không bà? Câu ca dao đó cũng chính là dành riêng cho con gái đó cháu ơi! Đưa bạn gái về đây giới thiệu, bà ngoại sẽ đọc tiếp những câu tục ngữ, ca dao hay hơn nữa. Tôi ôm bà cười hè hè… Cháu sẽ “tìm khôn” về cho bà trong thời gian sớm nhất!...
Tôi kính yêu bà. Cả họ hàng con cháu, xóm làng đều kính nể, quý mến bà. Đã ngoài chín mươi tuổi, bà yêu thích ca dao, tục ngữ ngày xưa xưa lắm… Má tôi cũng đã học được lời bà dạy! Cảm ơn bà đã sinh ra má cháu! Cảm ơn má đã sinh ra con! Và những đứa con sau này tiếp tục cảm ơn người mẹ sinh ra mình.

28.04.2010