Thứ Ba, 22 tháng 9, 2020

SAY NGƯỜI MẤY ĐỘ MÙA TRĂNG, thơ Nguyễn Thị Phụng.

 SAY NGƯỜI MẤY ĐỘ MÙA TRĂNG*




                   
"Đất say đất cũng lăn quay
                     Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười"
                     Ta say, say cảnh say đời
                     Cảnh say là một say mười người yêu

                     Cuối thu bóng ngả ráng chiều
                     Trời lênh lang tím gió hiu hiu về
                     Say gì cháy bỏng câu thơ!...
                     Ngôn từ rạo rực đê mê ráp vần.

                    Tiếc chi một áng phù vân
                    Say cho nghiêng ngả chín tầng mây xanh
                    Say người mấy độ mùa trăng
                    Say người mấy độ mùa trăng hỡi người?!
                                                03.03.2010
___________________________
*Trích tập EM VẼ TRÁI TIM MÌNH, thơ Nguyễn Thị Phụng
NXB Văn học 2013

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Sắc hoa râm bụt*, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

          Sắc hoa râm bụt* 



         K hi Yến tỉnh dậy là đúng hai đêm ngày trên con tàu ra quần đảo Trường Sa. Nắng, cái nắng giữa mùa xuân cứ vàng như đổ mật. Gió, con gió thông thốc mang theo hương biển mặn mòi len lỏi áp vào sau đôi mắt kính trắng gọng nâu, còn phần từ sóng mũi trở xuống đến cổ Yến cẩn thận che kín bằng cái khẩu trang màu xanh ngọc. Ngày mới ra trường khao khát đến Trường Sa giờ đã là một hiện thực. Sự mệt mỏi về thể chất cũng bị tan biến ngay khi cô đưa mắt nhìn bờ rào thưa chỉ vỏn vẹn có mấy bụi râm bụt với những sắc đỏ của năm cánh hoa uốn cong đều đặn, còn cái nhụy đỏ như một ống dài thòng xuống phía dưới cùng tỉa đều năm cọng nhỏ lấm chấm phấn hoa vàng đong đưa trong gió lay thức kỉ niệm tuổi thơ nhè nhẹ ùa về trào dâng như con sóng ngoài kia. 

        Đã từ lúc nào, cứ những buổi sáng chủ nhật nghỉ học dù là ngày rằm hay mùng một, từ phía bên kia hàng rào chú tiểu Mẫn có bận rộn đến mấy cũng đều ngắt năm cái hoa râm bụt đỏ gọi sang bên này: Ra đây nhận quà chú tặng. Yến dạ thật to nhanh nhẹn đưa bàn tay nhỏ nhắn vẹt nhánh lá xanh bóng láng hình trái tim có răng cưa, vội vàng chạy ra sau hè lấy lon sữa bò trống một đầu đổ nước vào để cắm cho hoa khỏi héo, rồi chơi trò cô giáo với lớp học hay trò mua bán cùng các em của mình,... Có lúc chú sang nhà còn bày cho Yến biết cách cắm hoa lên hai bím tóc thật đẹp, lúc ấy Yến mới vào học lớp năm. Còn chú Mẫn ở chùa gần mười lăm năm rồi. Nghe nói ngày vào chùa chú Mẫn cũng là một em bé chừng năm sáu tuổi, sau đó được sư thầy làm khai sinh cho đi học hết bậc phổ thông ở trường huyện, sau tiếp tục đưa vào trường trung cấp Phật học ở tu viện Nguyên Thiều như những tăng ni khác, nhưng chú bảo không muốn xa thầy, muốn hôm sớm với thầy trong cảnh chùa mà thôi. 



        Khuôn vườn nhà Yến nằm sâu cuối làng cạnh chùa Vi Nhân, gần một nhánh nhỏ dòng sông Côn chảy qua, chỉ trồng các loại cây ăn quả theo mùa và xen canh những khoảng trống là dày đặc những bụi sả bán theo vụ nên ít nhọc công chăm sóc. Ba mẹ Yến chỉ tập trung vào mấy sào ruộng nay lại thêm nghề đánh bắt cá cũng bữa thiếu bữa đủ cho năm miệng ăn. Sau Yến còn hai đứa em sinh đôi. Ba mẹ của Yến là người tàn tật không phải bẩm sinh. Chân trái của ông hơi khập khiễng đó là lúc đưa mẹ Yến đến bệnh viện sinh em, rồi trên đường về ba Yến bị tai nạn giao thông chứ ba năm ở chiến trường Tây Nam đầy ác liệt mà đạn mìn bôn-bốt cứ như chừa ba Yến ra; Còn mẹ Yến nhổ răng từ lúc bé bị nhiễm trùng phải mổ lại làm má trái tóp vô cho đến giờ khuôn mặt cứ méo qua một bên. Nhưng cái tình của họ trong gia đình mới là đầy đặn đáng quý. Có đôi lúc những đứa em Yến len lén ngắt trộm một cánh hoa dù đó là hoa râm bụt của chùa thế nào tối về Yến cũng mách tội cho ba mẹ biết.

        Tiếng chuông chùa không ai cầm được cứ ngân nga nhẹ nhàng khúc ru cho cả nhà Yến say trong giấc ngủ sau một ngày lao động. Thường mỗi chiều cuối tháng hay trước rằm, có chú Mẫn sang chuyện trò với ba mẹ, thế nào đêm hôm đó Yến nằm ngủ với mấy em trên cùng chiếc giường lén mở mắt nghe và dõi theo ba mẹ thầm thì, rón rén bước chân đi ra khỏi nhà... đến sáng sớm đã thấy ba mẹ về vai khiêng, tay xách nào là gàu thùng, nào là tấm lưới chài bao nhiêu là cá. Được ăn những con cá tươi nấu cháo thơm phức lên đến tận mũi nên mấy chị em của Yến ríu ra ríu rít cả buổi, còn đòi theo ba mẹ ra sông nhưng đâu có được. Lớn lên một chút, Yến phụ giúp công việc cho ba mẹ, mới biết có một số người mua cá sống ngoài chợ đem vào chùa để phóng sinh cầu lợi, chú Mẫn thương ba mẹ Yến khó khăn lắm mới nuôi được mấy chị em Yến ăn học nên đã lén sư thầy chuyện ấy... Một cây bút đẹp, một quyển sách hay, một chiếc áo mới,... của chị em Yến đâu chỉ từ những hạt thóc hạt gạo của ba mẹ thường ngày ngoài đồng mà còn là những con cá sông mắc lưới từ lúc rạng đông nhiều nhất là ngày rằm, mùng một. 



        Dần dà những con cá được “phóng sinh” cũng mắc vào những tấm lưới khác nhặt hơn, lớn hơn nữa. Cảnh ra vào chùa ngày càng đông đúc, người người cũng muốn tự tay mình khấn Phật rồi trực tiếp ra sông thả cá xuống dòng nước trong veo kia. Những tấm lưới nằm im lìm hai bên bờ ngược dòng chảy chờ đến khi bóng người quay về dưới tán cây bồ đề trong sân chùa, mới vội vàng chia khu vực phóng mình xuống sông. Dù cuộc sống vì bát cơm manh áo nhưng là lưới của ai người ấy gỡ, mong đức từ bi chúng sinh từ thập phương trở về chùa ngày càng đông hơn, phóng sinh cá càng nhiều hơn. Mong thì vẫn mong nhưng cũng có người đã từng bị nghe chửi nào là đồ súc vật hết nghề làm ăn hay sao mà chờ người ta phóng sinh cá chưa kịp xuống nước đã quăng chài kéo lưới, như ăn giựt ăn cướp của người khác, đằng nào cũng mắc xương chảy máu chảy mủ ra cổ họng cả dòng họ mày, rồi... lớn tiếng: trời đất xui chi cứ ngày mùng một, ngày rằm gặp lũ mặt người ruột chó, chứ ngày khác thì đây không tha đâu!... Tiếng chửi rủa, tiếng hì hục kéo lưới hòa vào tiếng chuông chùa rồi cũng nguôi dần tan vào hư không. Chuyện “phóng sinh” cá bé cá con cũng là việc làm có ý nghĩa, vì chúng chưa kịp lớn chưa đúng độ khai thác. Nếu ngư dân tiếp tục đánh bắt kiểu “giã cào” chẳng mấy chốc cá tự nhiên trên sông trên biển cũng cạn dần. 

        Hết chuyện cá nước rồi tới chim trời cũng được phóng sinh. Mà nói theo thuyết nhà Phật phóng sinh cho loài vật đã có từ lâu lắm vì kiêng sát sinh, ngẫm ra việc làm ấy cũng phù hợp với việc bảo tồn các loài vật quý hiếm, hiện nay cũng có nguy cơ diệt chủng. Nhưng có một số vật nuôi để lấy sữa, lấy trứng, lấy thịt là nguồn thực phẩm chính cho con người đáng được duy trì và phát triển ngày càng rộng khắp. Bởi nuôi vật là để dưỡng sinh kia mà. Thì thử nghĩ việc phóng sinh và dưỡng sinh đều cần thiết như nhau?!... Tiếng gù uất ức của những chú chim câu, tiếng lích chích bức bối của những chú sẻ đã bị nhốt trong những chiếc lồng sắt treo dày đặc trên cây nhãn ngoài sân, cả trên hiên nhà bếp sau chùa tính ra đã gần ba bốn ngày. Và cứ sáng chiều như vậy, chú Mẫn đong lon thóc đổ cho chúng ăn, hay khi chú đi ra cổng trước lúc vào sân sau chúng đều xoay đầu đưa mắt nhìn theo. Chỉ có mấy ngày như thể cả tháng cả năm gần gũi thân thương lắm. Sáng rằm hôm ấy, sau buổi đọc kinh cùng sư thầy, chú Mẫn mở chốt bật các cửa lồng sắt rộng ra lần lượt từng con bay lên cành khế gần, ngoái cổ nhìn lại, rồi lấy đà bay cao hơn, xa hơn... Còn đêm đến chú Mẫn cứ trằn trọc có phải là nhớ đến lũ chim câu chim sẻ không, chú đã từng thưa với sư thầy về những mơ ước của mình, nhưng đã gần hết năm rồi, thêm một tuổi nữa mà sư thầy cứ điềm nhiên ngồi niệm Phật. Còn hôm nay chú mạnh dạn sẻ chia từ những lũ chim phóng sinh cứ đến sáng bay về chầu chực ăn những hạt thóc của chùa, chú là thanh niên há nào... chưa nói hết câu, sư thầy lẩm nhẩm Mô Phật! Mô Phật!... Con đã suy nghĩ kĩ chưa? Mà con không phải tự xuất gia như thầy, thầy đâu dám ép! Thầy không ngăn cản mà cũng không động viên. Con cứ thực hiện theo ý của mình, chọn con đường nào đi cho hợp đạo làm người, hợp lẽ ở đời thì cuộc sống mới có giá trị. Vậy theo lịch tháng này con không phải cạo đầu nữa! Mô Phật, Mô Phật!... 

         Như thường lệ, chú Mẫn đứng trước chánh điện gõ từng tiếng mõ chăm chú nghe thầy đọc kinh. Sao hôm nay cánh tay phải của chú như thể rộn ràng muốn kết thúc hồi chuông cho nhanh. Phải chăng là tiếng hát “Lá còn xanh như anh đang còn trẻ, lá trên cành như anh trong toàn dân... anh trai làng...” trên loa phóng thanh xen lẫn tiếng chuông chùa buổi sáng sớm ngân vang thúc giục. Chiếc lá còn xanh trên cành như trái tim đầy nhiệt huyết của một chàng trai ở độ tuổi hai mươi tư, há nào tự tách mình ra khỏi cành cây sum suê rợp bóng chở che nụ cười của những em bé thơ ngây từng ngày từng giờ cất cao tiếng hát, chở che cho mặt đất lên xanh phủ kín nấm mồ nằm yên trong lòng Mẹ mà những người từng một thời trai trẻ đã xông xáo tiến công trực diện với ngoại xâm,... Cái màu xanh lá là sức sống của cây. Xào xạc bên nhau những trưa hè oi bức, lặng lẽ chống chọi cái sắt se khi đông tràn về. Dẫu thường ngày lá phải chịu đựng nắng mưa gió bão và khi lìa cành có thể tự hào đã từng cống hiến tuổi xanh... Còn bên kia hàng rào râm bụt, bé Yến mười bốn tuổi đang học lớp 9 chuẩn bị đến trường, nghe rõ tiếng cô phát thanh... Rồi dáo dác nhìn sang chùa như thể tìm chú Mẫn muốn nói điều vừa nghe được. Cả nhà cháu đều quý chú Mẫn, thương chú Mẫn nữa, chú biết không?!... Hoa râm bụt của chú ngày nào chỉ có sắc đỏ, bây giờ mới tỏa hương. Hương được tỏa ra từ người cầm hoa chính là chú Mẫn.



         Vậy thì... ở nhà tiếp tục làm cô giáo dạy em học. Chú là cánh chim trời tất bay đến nơi nào yêu thích, rồi đến một lúc nào đó sẽ phải trở về ngôi chùa đã nuôi dưỡng tuổi thơ chú, nếu không có nhà chùa chưa chắc chú có được như ngày hôm nay... Nhưng với sức lực và tầm vóc như thế này thì... chú không thể ở lại... Vừa nói, một tay chú Mẫn ôm Yến vào lòng, một tay vuốt lên bím tóc đuôi gà nguây nguẩy đỏ hoe... 

         Không thực hiện được ước mơ làm cô giáo, Yến học tổng hợp chuyên ngành báo chí. Thời gian ngỡ như chầm chậm, tính ra đã hơn mười năm rồi. Mái tóc đỏ hoe nguây nguẩy ngày nào cứ ngong ngóng cánh chim trời kia được một lần gặp lại. Sao cánh chim trời bay không biết mỏi. Từ bi của một chú tiểu lên chức thầy không có ruột rà máu mủ thì cũng có bổn đạo, xóm làng chứ! Hay là chú Mẫn sợ cái nhìn của Yến ngân ngấn nước hôm chia tay đầu năm ra quân. Chắc là vậy quá! Ai bảo Yến khóc. Nhớ những buổi giao lưu của trường với đơn vị bộ đội kết nghĩa, không có một ai trùng tên với chú Mẫn hết. Chú đến đâu khi giữa thời buổi công nghệ thông tin liên lạc chỉ cần nhắp chuột, nhấn nút là có xa ngàn dặm cũng nghe rõ cả tiếng nói, nhìn thấy cả người ngồi nói chuyện với mình nữa. Hay là chú... Yến không dám nghĩ tiếp!... 

        Ai dám bảo hoa râm bụt là hữu sắc, hữu sắc thì càng đẹp đóng góp sắc màu cho cuộc đời thêm sinh động. Sắc lá biêng biếc bóng mượt, sắc hoa đỏ thắm giữa nắng vàng lại càng đẹp hơn. Hoa nào lại không có sắc, còn hương ư?!... Có loại có mùi hương dìu dịu nhè nhẹ thoang thoảng, có mùi hương nồng nặc ngai ngái hôi hôi,... đâu chỉ đều nhằm quyến rũ con ong cánh bướm chập chờn đến hút mật, thụ phấn cho hoa mà chính bản thân hoa không tự làm được, mùi hương còn đánh lừa khứu giác cho con người mê hoặc. Chỉ riêng râm bụt tinh khiết lắm, ấy thế mà ngày xưa chú Mẫn chỉ hái mỗi hoa râm bụt cho Yến chơi, còn bảo yên tâm với loài hoa này, chị em Yến khỏi bị ngộ độc mùi hương... 

        Con gió cát, gió muối sát lên tay người cứ rít vào da thịt Yến, cô ra khỏi phòng khách, bước chân xuống hai bậc tam cấp mà mắt không rời bụi râm bụt suýt nữa thì đụng phải anh nuôi trong tiểu đội hậu cần từ dưới bếp đang cầm phích nước đi vào hớn hở thân mật bắt chuyện: 

       - Hình như trong đất liền không có loại hoa râm bụt này phải không chị!... 

       - Dạ...! Dạ không phải ạ!... Yến giật mình ngạc nhiên đáp lễ cứ ngỡ như người đối diện biết hết điều Yến vừa nghĩ đến. 

        - Chị ơi, trong đoàn ra đảo đợt này có mười một cô vừa là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và có cả nhà “ca” nữa, thế thì xin lỗi chị có thể bí mật trước, chị thuộc “nhà” nào để chiều nay có buổi giao lưu văn nghệ chúng tôi còn chuẩn bị quà tặng riêng cho các “nhà” đấy nhé! Yến ngẫm nghĩ “nhà ca” là ca sĩ, tủm tỉm cười để lộ đồng tiền nho nhỏ bên trái rồi thể như đánh lạc hướng:

       - Nếu như em thuộc diện bốn nhà thì anh có bốn phần quà nào cũng bật mí cho em biết trước có được không?...  

        - Câu hỏi khó trả lời quá chị ơi! Nếu “chị” thuộc diện khác như nhà “tôi” thì... đơn giản, bí mật và đầy bất ngờ hơn chẳng hạn đưa môi mình đặt lên má nhà “tôi” theo sau là tiếng vỗ tay kéo dài của đám lính chúng tôi đua cùng tiếng sóng bất tận...  

       - ... 

       Yến ngượng đỏ mặt, nếu như trong đất liền thì thế nào anh lính cũng bị Yến chỉnh lại một câu, nhưng lúc này Yến trợn tròn đôi mắt, rồi cả hai cùng cười.Yến theo anh nuôi vào khu nhà ăn khang trang sạch sẽ. Trên mỗi bàn dành cho bốn người đặt một cái mâm i- nôc hình chữ nhật nhiều ô đầy kín thức ăn: Rau xanh đã luộc chín, nước mắm ớt tỏi, bốn con cá nục lớn chiên vàng, thịt heo xào với măng khô, một nồi canh chua nho nhỏ bên cạnh thau cơm trắng ngần nóng hổi phả hương thơm phức mời cả bàn cầm đũa cho buổi trưa đầu tiên dừng chân lên đảo. Người lính trẻ trong bộ quân phục hải quân ngồi đối diện mời cơm và tự giới thiệu mình ra đảo gần bốn năm, lúc đầu nhớ nhà ghê lắm, ở riết trên đảo đâm ghiền tiếng sóng rì rầm chị ơi. Yến cười đáp lễ rồi tập trung đưa đôi đũa gắp một miếng cá bỏ vào miệng nhai tấm tắc khen ngon quá! Các anh quanh năm thưởng thức cá tươi như thế này thì còn gì bằng... Nói đến đây, Yến nhớ mỗi lần trong mâm cơm mẹ Yến tự hào một thời thanh niên nhờ quen tay và biết chế biến thức ăn nênba Yến nấu ăn khéo lắm, rồi Yến vanh vách theo dòng hồi tưởng đầy tự hào là thời ba Yến là bộ đội chiến trường Campuchia từ năm 1978, đương chức binh nhì, rồi năm sau lên được binh nhất nhưng không trực tiếp cầm súng nữa vì bị sốt liên miên, ba Yến được đưa về quân khu điều trị, tuy là sức khỏe có yếu đi nhưng dạn dày rắn chắc hơn thời còn là học sinh phổ thông nên ba Yến xin được chuyển làm công tác hậu cần ở biên giới Tây Nam đất nước. Cái nắng giữa mùa khô ở Tây Trường Sơn rông rốc, thuận tiện cho việc bếp núc lửa củi ít vất vả so với mùa mưa. Nhưng dẫu là mùa mưa hay mùa khô, để có từng chảo cơm trắng thơm phức không như bây giờ chỉ vo gạo và đổ vào nồi, canh mực nước cắm phích điện nấu chín là dùng ngay. Phải tội lúc ấy chưa có máy lọc sạn, muốn nấu cơm trước hết phải ngồi hàng giờ đãi gạo, lúc đầu chưa quen, nên khi ngồi vào bàn ăn cơm chính ba Yến lại nhai phải những hạt sạn còn sót lại làm ghê cả hàm răng chẳng thấy cơm ngon chút nào. Ba Yến hay tự khen là để nấu được một nồi cơm chín ngon ở biên giới còn khó hơn đánh giặc!... Bởi xưa nay ba Yến chỉ ăn cơm người khác nấu, đâu biết cái vất vả phải ngồi canh lửa củi thế nào để cơm không bị tầng lớp: sống, nhão, cháy, sạn. Từng chảo canh rau thịt ngọt thơm phức mùi hành, những con cá hấp đến tận núi rừng càng vàng giòn hơn trong mỗi chảo dầu ăn cho ngon miệng. Đâu riêng gì ba Yến, các chiến sĩ hậu cần ai cũng vậy.

          Vết thương chiến tranh biên giới trên đất liền sau những năm bảy lăm của thế kỉ trước hằn sâu trong kí ức mỗi công dân Việt Nam và khi khơi gợi thì nó cuồn cuộn theo cùng con sóng ngoài khơi cứ đỏ quạch như râu ngô trên nương rẫy khó mà hòa trong biển cả, hay đó còn là da thịt máu xương những chiến sĩ nằm lại quanh đảo Gạc Ma thuở nào. Chỉ nghĩ đến thôi mà khối chì từ đâu như chực sẵn thừa dịp đè lên trong lồng ngực của Yến, Yến cúi xuống cố và cho hết miếng cơm, nhưng chén cơm vẫn còn nguyên, không dám nói thêm cái điều mất mát đau thương mà các anh nơi đây đang từng giờ từng ngày đương đầu với thử thách lớn...



        Lúc này bất chợt cả hai cùng im lặng. Cái im lặng không lâu khi anh lính hậu cần bắt gặp ánh mắt Yến chớp chớp liên hồi... Bởi cả hai đang nghĩ về những năm tháng chiến tranh về những người đi trước, những đồng đội của cha anh, của bạn bè đang ngày đêm canh giữ biên cương hải đảo, rồi nghĩ tự dưng mình lại... là cán bộ tuyên huấn, mà được làm cán bộ tuyên huấn càng tốt chứ sao đâu!... Anh lính chuyển lại “đề tài” nhắc Yến là chị có thích quanh năm thưởng thức món cá tươi như thế này không? Yến cũng đã hiểu ngồi trong bàn ăn với nhau cần thoải mái hơn nên chị mau mắn:

        - Nếu em thích thì sao, còn không thích thì sao! 

        - Nếu chị thích thì ngay chút nữa đây làm lễ đổi vị trí nhá! 

        Vừa nói vừa cười, anh lính như được thể sẻ chia cũng có người chẳng bao giờ muốn đổi vị trí như trung úy của tôi, say sưa mấy năm liền hết ở trên nhà giàn này đến nhà giàn khác, chỉ lên đảo chưa giáp tuần lại nhớ nhà giàn mới lạ chứ! Anh ấy còn nói ở trên đấy bốn bề là gió đâu cần điều hòa, bạn với cánh chim trời, độc nhất chỉ một loài chim biển. Chúng là là bên nhà giàn rồi đậu trên vai các chiến sĩ, có một điều lạ là khi anh ấy đưa tay vuốt ve mỏ quặm chúng, thì chúng như thể được dịp ngẩng cái đầu lên cao như muốn bảo rằng loài hải âu đâu chỉ bền sức ở đôi cánh dài mà rất lợi hại chính là ở cái mỏ này thôi. Yến bảo ước gì được gặp trung úy của anh để nghe kể tiếp về loài chim biển dễ thương ấy!.. Anh lính thao thao như được dịp ngợi ca cấp chỉ huy của mình, vừa nói vừa nhìn ngón tay áp út trên bàn tay trái của Yến đeo chiếc nhẫn có đính một hạt đá trắng, anh chững lại: Chị biết không, đúng ra giờ này các anh chị được ngồi dùng cơm cùng trung úy, nhưng vừa rồi vợ thiếu úy Thắng sinh chưa giáp tháng, nên anh ấy trực thay phiên cho thiếu úy Thắng trở lại Trường Sa lớn chăm vợ một tháng nữa. Hay chị ở lại trên đảo nổi với chúng tôi có tiếng nói cười của phụ nữ rộn ràng hơn. Yến phân vân trả lời đi theo đoàn mà! Chị còn định nói thêm chỉ hai tuần nữa... rồi chị đưa bàn tay phải che kín chiếc nhẫn đã đính hôn trong ba tháng trước khi ra đảo. Nhưng lúc này ở đây nói ra cái điều ấy thì... không thể, chị hẹn chờ dịp khác sẽ cùng một người nữa ra đảo thăm các anh và biết đâu đất lành chim đậu!... 

          Nghe kể lại trong đoàn có hai Yến, nhưng có phải Ngọc Yến tuổi chưa tròn trăng sang chùa chia tay rồi theo sư thầy xuống sân vận động huyện tiễn anh lên đường, chú tiểu Mẫn ngày nào giờ ngồi chăm chú lên màn hình vi tính tìm trên gương mặt quen thuộc và nhận ra cái nhìn sắc bén trong đôi mắt đen dưới hàng mi cong vút. Đúng là Yến rồi! Yến của anh, nhưng sao không là cô giáo!... Những ý nghĩ thoáng qua rồi vụt tắt khi con sóng lớn đập mạnh vào bờ đá, anh giật mình với những cảm xúc riêng tư gò bó quá. Với anh, nghề nào cũng vậy, vinh quang sẽ dành cho những người hoàn thành nhiệm vụ, ý thức thái độ tích cực với công việc luôn được trân trọng. Anh vẫn hằng nhớ và thầm ước ao Yến làm cô giáo để sáng sáng những cánh râm bụt bung mở trong lon sữa bò trên đầu hè mười lăm năm trước kia giờ chỉ là kỉ niệm!...

         Anh nhìn ra ngoài có một chút gì đó thể như nuối tiếc, thể như khát khao, không sao tránh khỏi cái nắng hạ vàng tự nhiên của trời đất được, có lẽ nắng hạn sẽ chỉ kéo dài theo mùa, còn sắc hoa râm bụt trong mắt anh vẫn thắm như xưa... 

                            5.5.2014/

*Trích Nơi tình yêu giữ lại, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng (NXB HNV- 2018)


Thứ Ba, 11 tháng 8, 2020

Người không thể dậy, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

       Người không thể dậy*


       Cả làng chúng tôi chờ đợi và nghĩ thế nào cô cũng đến. Mà quả thật, thằng bé lên năm ngồi chơi bên thềm nhà reo lên: 

      - Mẹ ơi, có phải cô mang đôi giày đen đội cái mũ rộng vành màu tím đang tiến dần vào sân nhà mình, mà lạ lắm, không như người khác chỉ liếc qua, còn cô ấy đứng thật lâu, thật lâu trước tấm bia mộ, đăm đăm đôi mắt vào những giọt máu nhỏ xuống của bà con làng xóm mình. Mà hình như cô ấy còn mấp máy đôi môi như là đếm từ trái sang phải từ một giọt, ba giọt, hai giọt, ba giọt, bốn giọt, rồi tiếp một giọt, ba giọt, một giọt, ba giọt, và cuối cùng ba giọt, hai giọt, hai giọt từng cụm với nhau. Những giọt nhỏ có phải là máu của con của bạn con, những giọt lớn hơn là của mẹ của ba, của các dì các chú, và những giọt lớn hơn nữa có phải của các ông, các bà phải không mẹ?!... 

      - Ồ, đúng đó con trai. Những giọt máu hình quả bầu chới với giữa chân không như đời đời kiếp kiếp cứ lơ lửng rơi trong tầm mắt quan khách. Bàn tay hội họa tài hoa ở trần gian đâu chỉ phản ánh còn gởi cả hồn mình vào đấy rồi nên mới có sức thu hút đôi mắt những người như cô ấy vậy.

     - Như cô ấy là sao, con ứ hiểu!

     - À, lớn lên chút nữa con sẽ hiểu. 

     - Mẹ lạ ghê, tính đến nay đã gần nửa thế kỉ rồi, ngày nào mẹ bảo con còn nhỏ chưa đi học được. Rồi hằng đêm mẹ ôm con vào lòng à ơi, mẹ nói cả nhà chúng ta chỉ dừng lại tại đây, có muốn già đi cũng đâu được. Cả xóm mình cũng như ở một số vùng khác nữa đâu có diễm phúc được theo quy luật tự nhiên sinh lão bệnh tử như thế nào Mẹ không nhớ à!...


       Người mẹ quên mất những gì thường nói với con mỗi khi màn đêm buông xuống. Có những lúc trăng lên, nhất là rằm Trung Thu, chị ước ao cho thằng con trai mình xách lồng đèn ngôi sao năm cánh vàng tung tăng với các bạn trong xóm, vừa đi vừa hát “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp xóm làng, ...”. Đời con mình không thể. Chị ôm con vào lòng, không hát ru nữa mà nó ngủ từ lúc nào, chị trầm ngâm ừ nếu không có ngày ấy... thì giờ tuổi mình cũng vào thất thập. Cũng lên đến chức bà nội bà ngoại rồi còn gì, có khi lên đến chức cố nữa kia! Chị quên là phải, bởi lúc đó chị mới vừa ôm thằng bé nằm đong đưa trên võng đã nghe chó sủa tới tốc rồi mọi âm thanh đùng đùng, ầm ầm gầm rú dội tứ bề át cả tiếng chó, tiếng gà xao xác vỡ tung ổ trứng của mình, tiếng vịt quáp quáp hốt hoảng thể như chuyện lạ xưa nay.   

          

        Còn chị bế chặt thằng bé chạy xuống hầm tránh bom. Bất ngờ trước mắt chị một màu xanh da beo đứng chặn ngang cửa ra vào, chị nghe tiếng xí xố xì xồ phát ra từ cửa miệng, nếu bình tĩnh định lại để so sánh với một tiếng nói nào đó thì khó mà so sánh được. Nếu tiếng hươu, tiếng nai quả là hiền hòa. Nếu là tiếng dê, tiếng bò tiếng trâu tiếng ngựa thì chỉ biết reo vui khi ăn no cỏ, chỉ có loài sói, loài cọp thì đôi mắt tập trung rồi nhanh như chớp nhảy đến vồ con mồi của mình ngốn ngấu trong miệng... Đằng này mọi thanh âm tứ phía trộn lẫn vào nhau, từ ông bà già đến chị em phụ nữ, trẻ con lớn nhỏ bất ngờ với tay không làm sao chống lại được những vũ khí tối tân nhất. Đùng, đùng, đùng,... thằng bé ngã theo chị trong tư thế ngửa mặt lên trời cao, mà trời cao chưa thấy chỉ thấy mái nhà tranh đã chuyển màu tím ngắt, rồi màu đỏ đòng đọc từng chòm rơi xuống, còn thằng bé nằm im bên chị, mặc cho lửa nóng liếm nhanh lên tóc, lên áo quần, lên cả da thịt. Chị nằm im trên nhà mình cho đến khi không còn tiếng súng nổ. Hai mẹ con chị nằm bên những người cùng số phận... 


        Nắng cuối hạ rực cả lối đi, hàng cau đã được trồng lại từ lúc nào, giờ đứng lặng im và cái bóng cô gái đi một mình bên ngoài ấy ngỡ dấu chấm câu kết thúc trưa hè cũng đứng lặng hơn trước nền nhà chị dâu tôi, cô ấy ngó vào những cây cột bằng gỗ quý nằm lại giữa làng Sơn Mĩ, lũ ve ở đâu về sinh sản nhiều lắm trong bụi rậm cứ the thắt, thắt the não nề thống thiết lắm. Oan ức nào cũng phải giải tỏa. Mà đã giải tỏa chưa. 


Người đàn bà mặc chiếc áo đen tay trái bế con, tay phải đang còn cài nút áo có trong tấm ảnh treo ở Bảo tàng Sơn Mĩ ấm ức: “- Thân phận tôi là đàn bà, lúc ấy đang ở thế bị động phải giằng co níu giữ đứa con lên ba bị thằng đàn ông lớn lắm, nó cao gấp rưỡi tôi, đưa tay vứt đứa con tôi sang một bên, con tôi lòm còm ngồi dậy, rồi sợ quá, không dám thét tiếng thứ hai, ấm ức ngồi trước mặt tôi, lắm lét đôi mắt hoảng hồn vào tôi, và có lẽ lần đầu tiên tuổi thơ không biết nói cái cảnh mẹ nó giữa nhà đầu tóc rối bù, thân mình trần trụi tái tê phải nằm dưới thằng đàn ông to gấp rưỡi mà trên lưng còn súng ống băng đạn lục cục va nhau vào bình đông nước. Sau khi xả cơn dục vọng, nó đứng lên, đi ra ngoài. Nhưng thằng khác đâu cho mẹ con tôi yên, chúng vào nhà lùa cả mẹ con tôi cùng ba người hàng xóm bên nhà ra đứng góc sân ấy. Tôi chưa kịp tủi nhục với chồng, với con, với anh em, với cha mẹ,... tôi chưa kịp rùng mình ớn lạnh, hay hằn học với thằng người to lớn ấy, hay nói đúng hơn chưa kịp hoàn hồn, thì khẩu súng trước mắt chúng tôi lóe sáng, tôi chới với cả người rồi đôi chân khụy xuống khi cháu nhỏ còn trên tay tôi!...”


     - Cả hai mẹ con chị cùng hai mẹ con mình đều nhập nhoạng vào hư không cho đến bây giờ con ạ! Người đàn bà cứ rưng rức theo tiếng ve mà the thắt lòng.

    - Vậy sao đã mấy mươi năm rồi bây giờ mới kể con nghe vậy mẹ!

    - Ôi, chuyện người lớn tò mò bức tranh của mấy phóng viên chiến trường thời đó mà!

    - Sao con chẳng hiểu gì cả!... Thằng bé cứ hồn nhiên nghe ngóng! 

    - Có lẽ con còn bé, con chưa hiểu điều gì, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sự thật chiến tranh chẳng thể già đâu con ạ! Chiến tranh đồng nghĩa hủy diệt. Mà hủy diệt chỉ có tiêu vong. Làm sao đứng dậy được. Người không thể dậy chính là chúng ta ở nơi này. Sở dĩ cô gái đi một mình ngoài kia khát khao một lần đặt chân trên mảnh đất quê mình, và cô đang đứng lại, nhưng không, mẹ nhìn theo cô gái vẫn đang tiếp tục sang khuôn vườn bên cạnh, à cô gái bước vào nhà thắp hương cho cả gia đình chú út, cô gái ấy không dám đi ngang qua căn buồng nhỏ nối từ nhà trên xuống bếp. Mẹ thấy cô ấy khựng lại, cúi đầu quay người ra sân, rồi đi vào căn bếp, ngắm nghía vật dụng trưng bày nào là cái cối xay lúa, cái mâm gỗ, chén bát đất, cái trã, cái trách kho cá cũng bằng đất nung, một mớ tre gai làm củi đốt ngả màu vàng ệch được bó chặt lại để bên dưới chân ông táo đã cũ lắm. Nào là thúng mủng, cái dừng lúa, cái sàng gạo cũng bằng tre, kể cả cái lồng bàn bằng tre cũng nằm im trên tường đã nói điều gì đâu mà đôi mắt cô gái cứ rươm rướm vậy!... 

      - Thật hả mẹ!

      - Ừ, chuyện con chưa biết thì mẹ nói. Đừng hỏi lại. 

      Thằng bé im lặng ngẫm nghĩ chỉ nhớ một điều mẹ nói “Chiến tranh chẳng thể già đâu con ạ!” 

                                                           05.09.2013

_________________________

*Trích Nơi tình yêu giữ lại (NXB HNV 2018)


MÙA CỦA XUÂN XANH, thơ Nguyễn Thị Phụng

 

MÙA CỦA XUÂN XANH

 

Anh bảo mùa của thi ca là cánh én, là hương sen,

là lưng chừng mây trắng là màu nắng nhuộm vàng

hay là cả đông tràn buốt giá

cánh đồng làng run rẩy những dấu tay...

 

Cho em thêm mùa của hôm nay

là màu áo trắng lương y trên tuyến đầu chống dịch

cứu lấy bệnh nhân thoát khỏi tử thần Cô-vid

đêm dõi đêm, ngày dõi ngày tất bật

khống chế lây lan làm suy hô hấp con người

quên cả thân mình những đôi mắt yêu ơi

vì tất cả Đà Nẵng ta, sông Hàn se thắt!...

nâng vũ khí hăng say là tinh thần diệt dịch

là màu áo “chiến binh ra trận” thường ngày

đón đưa dân mình về điểm cách li

dẫu rào chắn nắng chen mưa còn rơi rụng

chia nhau những hộp cơm thơm từ bếp ăn chật vật

ấm no mỗi bữa trong ngày...

là những con đường “khẩu trang”,là nhắc nhở rửa tay

tránh nhiễm Cô-rô-na ngấm ngầm tai họa

là nhắn nhủ ân cần giãn cách

là nén nụ hôn đầu giữ nguyên vẹn ban mai./.

08.08.2020

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

TRĂNG RẰM GIỮA MIỀN QUÊ, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

TRĂNG RẰM GIỮA MIỀN QUÊ*


          Trăng ở miền quê tôi đẹp lắm, cái đẹp tự nhiên của đất trời ban tặng con người. Và con người có quyền chiêm ngưỡng thưởng thức. Có ngắm kĩ mới thấy nó tròn trịa phúc hậu, nó tinh khiết và bình yên đáng yêu làm sao. Giả như có đêm rằm nào đó, những áng mây đen khó tính ganh tị che khuất tầm mắt người, thì hôm sau hoặc hôm sau nữa, hay tháng sau tháng sau nữa,… trăng vẫn sáng một màu, cái màu vàng ròng bất tận vô giá chảy xuống trần gian khó mà kim cương hột xoàn nào đánh đổi được. Nói đến cái đẹp của trăng không chỉ có rằm tháng giêng đến với ngày hội thơ tình người của đất nước. Cũng không phải là đêm rằm tháng tư của Phật lịch ngàn năm đón chào đấng Thích Ca Mâu Ni ra đời, cứu nhân độ thế, hay chay trai cầu nguyện lòng thành tích đức cho con cháu mai sau. Cũng không phải là rằm tháng bảy lễ xá tội vong nhân, Vu Lan báo hiếu cha mẹ trọn đạo làm con, ơn nghĩa sinh thành. Cũng không phải là rằm tháng tám dành riêng cho tuổi thơ tung tăng rước đèn kéo quân, phá cỗ vui chơi thỏa thích. Nhưng với tôi, giờ đây mới nhận ra được giữa mùa xuân trăng đẹp đến lạ thường!...

Đó là trăng rằm ở miền quê tôi.

      Khi chiều tím lắng đọng phía chân núi mờ xa thì đằng đông trăng đã hiện ra từ lúc nào nếu lấy thước đem đo phải ước hơn cả hai cây sào dài tính từ mặt đất lên. Trăng lơ lửng giữa cái nền xanh thẳm ngỡ như đang đứng trước biển nhìn ra màu trời nước bằng một giải phân cách đậm nhạt như tranh vẽ. Ô, trăng sáng giữa bầu trời tháng hai!


          Có lẽ lúc này, cả làng quê đều bận rộn. Người thì lo cho bữa cơm gia đình, người thì lo tắm rửa giặt giũ áo quần cho con cái, người thì lo gà vịt vào chuồng, che chắn cho bò heo khỏi lạnh, … Còn tôi, vẫn thói quen thong thả đánh đều tay nhịp bước 30 phút trước khi mặt trời lặn. Rồi chợt nhớ chiều nay quên đi chợ, thế là thẳng hướng ra khỏi cổng làng đến nhà chị Thư mua vài trứng vịt về luộc dằm nước mắm chấm rau cải xanh cũng ngon miệng lắm.Nhà chị Thư nằm cạnh quốc lộ 19, gần chợ nhỏ, cách Tháp Bánh Ít chừng hai cây số. Phía trước hiên nhà , chị kê cái tủ bán hàng lặt vặt nào bánh ngọt, mắm muối, thẻ nhang, cặp đèn cầy,… Tôi chờ chị thối tiền cho người ta xong, mới nhắc chị mua thêm bì muối iod nữa. Cạnh cửa ra vào là một cái xách nhựa trong đó đựng hoa tươi, chuối,…Tôi nhắc chị có ai đã để quên, chị Thư nhìn tôi và bảo không đâu em, chút nữa chị chở ra mả cúng dì. Thế là chị cho em đi với, từ hôm dì mất đến nay hơn nửa năm rồi, em thật có lỗi chưa biết mộ dì chỗ nào! Tôi chưa kịp nói không có em ở nhà, sáng đó em đi Buôn Mê Thuột. Chị nhớ có tên em hôm đó mà! Như chứng tỏ chị không bỏ sót danh sách người nào đến phúng điếu má chị. Tôi ngạc nhiên: Trời đất ơi, chị nhớ chi cho kĩ vậy! Theo em chuyện phúng viếng đem đồ lễ đến nhà có tang để thăm hỏi và tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất là việc làm tự nguyện, sẻ chia, ai mà đòi hỏi chờ người trong gia đình mình mất rồi họ có đi lại không?!... Cũng như đám hỉ thì đến chúc mừng, chia vui, chụp hình gặp gỡ thân tình lại được chén một bụng no nê còn gì sướng bằng. Chị nói một mạch để phân trần: nghĩ như em thì ai nói làm gì, chuyện điếu là việc tang và hỉ là việc mừng đều quan trọng cả. Chị kể dì út Tám ghi ngoài phong bì đi điếu chị ba, cháu Thư nhận.Có người còn nhắn hỏi nó có ghi tên tao đi điếu nữa không. Mà em xem hai nhà cách nhau chưa được trăm mét, dì Tám không đến được thì còn con gái của dì phải không em?! Chị nghĩ đến thắp cây nhang chia buồn với gia đình là chị cảm ơn nhiều… Nhưng chị không bao giờ quên một ai.

        Tôi hiểu và quý chị như dì ba.Lúc dượng chưa kịp đi tập kết, cơn đau bụng quằn quại trong hai ngày rồi mất, chị Thư mới vừa lên năm. Từ quê chồng Phù Mĩ, dì ba trở về Tuy Phước, chăm chút con gái, âm thầm giúp đỡ bà con hàng xóm, nhất là gia đình người thân có chồng, con đi tập kết. Dì gởi miếng cá, lọ tương, bó rau, cái bánh ít,… và phía sau là câu chuyện liên lạc dượng sáu bị địch bắt ở Pleiku, chuyện trao trả tù binh, chuyện chị Phương lên gặp dượng sáu, chuyện chuyền tay nhau tấm hình từ ngoài Bắc gởi vào mà nén nước mắt. Chị Thư học ở dì tính thích cho, gởi biếu.Thường từ chối nhận lại đến phát ghét khi tôi đem những quả xoài đầu mùa chín mọng tươm mật đến. Tôi ra nhà sau lấy con dao gọt vỏ rửa sạch, cắt một miếng đưa lên miệng khen ngọt lắm, cắt miếng thứ hai mời chị mới đưa tay cầm nếm thử rồi tấm tắc: chị tưởng chua chứ!...Tính chị Thư là như thế. Dì ba mất, chị sống một mình với đồng lương hưu tiện tặn cũng đủ cho sinh hoạt cá nhân ở vùng quê này. Gần sáu năm nay chị thừa hưởng thêm hàng quán bé nhỏ tại nhà từ lúc dì ba còn khỏe lắm!...

       Chị tiếp, thường là mùng một, rằm chị đều ra thăm dì, nhưng không đi sớm vì khi cúng xong, nhang chưa kịp tàn, mấy đứa nhỏ chờ sẵn lấy hết chuối bánh, chị không thích điều đó. Em nghĩ coi, cúng xong để tàn nhang chị cũng cho chúng nó ăn, chứ má chị có ăn được đâu, đã đem ra mả cúng thì ai lấy về làm gì. Trên đường đi chị còn kể tiếp chuyện bà Thơm mang hoa quả ra mộ cúng ông Thơm, quay về nhà lấy hộp quẹt, khi ra lại không còn thứ gì đặt lên mộ để cúng nữa em ơi! Bà Thơm khấn vái xin ông thứ lỗi. Chuyện cúng kính nghi lễ với nguời đã khuất đã có từ xưa nay, người sống đối với người mất ngoài cái tình còn hiện vật mới biểu hiện sự quan tâm nữa hay sao! Hương hoa chưa đủ nói hết lòng nhớ thương tử biệt này!...

        Dọc con đường bê tông hơn cây số, trời đêm càng lúc càng sáng hơn, trăng lạnh có phải là hơi sương giữa mùa xuân còn chùng chình luyến tiếc chưa muốn rời xa con người, hay là cái cảm giác vắng vẻ nơi nghĩa địa lúc này chỉ có hai chị em tôi. Đêm trăng hôm nay đâu chỉ là chiếc đèn soi bóng chị dắt chiếc xe đạp chở cái giỏ xách phía sau, tôi lo lắng hỏi:

       - Thế đêm ba mươi, mùng một chị cũng đi một mình à!

       - Thì… một mình có sao đâu em! Chị đem theo cây đèn pin, nhưng cũng có lúc giật mình khi mấy đứa nhỏ núp sẵn trong mả, thấy chị đến, nó chạy trốn chị đấy. Ai xa lạ đâu em, như anh em thằng Lươn, thằng Lịch con bà Thổ trong xóm mình. Đâu phải hộ nghèo.Mà nói thế, nếu chúng nó không lấy về ăn, chỉ để ruồi bu kiến đỗ, mình cũng phải dọn sạch đem đổ ngoài bụi cây.Cười.

       Nghĩa địa làng tôi là một cái gò rộng nằm giữa đồng, thường gọi là gò Ông Trới, cạnh con mương thủy lợi. Thường ban ngày, dù nắng hay mưa, mỗi khi tiễn một người trong làng mất theo tiếng trống đưa ma, tiếng kèn đưa đám réo rắc lòng người, âm thanh là một sự lặp lại không bao giờ thay đổi, không phân biệt giới tính, tuổi tác, giàu nghèo, bước chân tôi cứ nặng nề trên con đường mòn dẫn vào phần mộ đã đào sâu ba lớp đất… cho đến khi hạ huyệt xong, mỗi người vốc một nắm đất đắp thêm cho phần mộ vun cao, rồi hồi trống kết thúc số phận một con người, thì ai về nhà nấy, lòng trĩu nặng bâng khuâng.

        Lần đầu tiên tôi đi thăm mả dì ba, cũng là lần đầu tiên đến nghĩa địa vào ban đêm.Không phải là đêm ba mươi. Đêm rằm tháng hai, trăng sáng vô cùng. Bốn bề im ắng, im ắng đến lạ lùng. Thường giữa đồng không như thế này, ếch nhái rộn ràng trò chuyện, nhưng từ hôm tết tới giờ trời chưa mưa. Cũng không có tiếng vạc kêu đêm, tiếng chim lạc bầy gọi nữa. Chỉ có gió, gió thì thầm với tóc với áo rồi len lỏi vào sống lưng tôi, tôi rùng mình nhìn dáng chị Thư mảnh khảnh nhỏ nhắn trong bộ đồ màu đen, dựng chiếc xe đạp,  lui cui chiếc xách bên tay rồi bước đến phần mộ trước mặt bảo má chị nằm đây nè em. Chị vói tay lấy cây chổi phía trên quét sạch trước cửa mộ, đặt cây đèn hột vịt bật lửa thắp sáng  cạnh tấm chân dung của dì. Bên phải là lọ hoa cúc, bên trái là đĩa chuối mốc to chín vàng cùng hai phong bánh bột huỳnh tinh mà lúc sống dì ba rất thích ăn sau bữa cơm, uống ngụm nước trà cho thơm miệng. Chị Thư thắp ba cây nhang rồi lâm râm khấn như thầm thì điều gì với mẹ.Tôi cũng thắp nhang cho dì tự giới thiệu tên mình, cầu mong linh hồn dì sớm siêu thoát nơi miền cực lạc, còn chốn dương trần thì chúng con cố gắng sao cho trọn bổn phận làm người. Đôi mắt nghiêm nghị của dì từ lúc nào sao giờ lại nhòe đi, hay khói hương làm cay mắt, hay dì xúc động có đứa cháu đến thăm dì giữa đêm rằm, hay dì còn muốn nhắn nhủ điều gì nữa!.. Ngọn đèn dầu ấm áp soi rõ khuôn mặt của ba người. Người nằm dưới mộ sâu kia một đời trọn vẹn thủy chung với chồng con, với họ hàng làng xóm.

        Và đến khi ánh vàng đêm trăng âm thầm vô tư chảy mãi miết trên mái tóc hai chị em chúng tôi, gió lùa vào khoảng lặng, chị mới đứng lên cắm nhang các mộ phần xung quanh cũng không đủ, hương theo gió khép kín các mộ phần khu nghĩa địa. Những cái mả gió (còn gọi mả cô hồn) nằm cạnh dì ba cũng được chị Thư cho người xây lại theo hình chóp nón chừa một lổ nhỏ để cắm nhang, chị đặt lên đó một nhánh chuối nhỏ rồi lâm râm khấn: xin người láng giềng để má tôi được nằm bên cho vui. Chị vừa cười vừa đưa tay chỉ cho tôi xem phía trên phần mộ dì ba là một ô hình chữ nhật được xây một lớp đá chẻ ngay ngắn là nơi mà những người làm mộ cho dì ba đã chọn dành cho chị sau này, rồi chị nói không có nằm ở đó đâu. Tôi ngạc nhiên: A, thì ra chị sống suốt đời?!... Chị đang nghĩ (mà nói riêng với em thôi) là sẽ hiến xác, nhưng chưa biết cách nào đây! Tôi phì cười, đến lúc đó, chắc gì nội tạng chị đảm bảo đủ 100% không đấy! Chị dứt khoát với tôi là đủ 100% tốt lắm, chị không đau bệnh gì, kể cả… chị ngập ngừng không nói tiếp. Tôi đùa kể cả còn…con gái chứ gì! Ha…

      - Mà sao chị ở một mình?

- Ở với má chứ sao một mình, em khéo hỏi.

Được thể tôi mạnh dạn hơn, đây là điều chưa ai dám mở miệng về chị:

        - Không, em muốn biết tình yêu của chị kìa!

        - Chị mang trầu cau đi hỏi mà người ta không chịu, không ưng, nên chị ở vậy. Rồi chị đánh lảng, em lung tung quá.

        - Em mà nghe chị nói sớm cái quy định chế độ mẫu hệ áp dụng và duy trì cho người kinh lại hay đó nghen. Bọn đàn ông chỉ có nước ế vợ như chơi, lúc đó “ mua về mà bỏ trong lồng cho kiến nó tha”.

        Cả hai chị em thoải mái thư giãn giữa nghĩa địa chỉ có trăng mênh mông, trăng nhìn xuống, trăng im lìm, trăng ngờ vực, trăng ngậm ngùi,…


       Điện thoại reo: em đang ở đâu? Ra ngoài xem trăng đêm nay đẹp lắm, tròn lắm, to lắm. Thời sự VTV1 mới đưa tin đây! Đâu phải bây giờ tôi mới ngắm trăng, tôi đã ngắm từ lúc chiều, trên đường ra nghĩa địa, trong nghĩa địa và đang về nhà đây.Quả thật trăng đẹp.Tôi có thể khẳng định chỉ có miền quê trăng mới đẹp, màu vàng lung linh vô tận, công bằng sẻ chia cho tất cả không phân biệt với một ai, cái đáng trân trọng của tự nhiên là như thế.Ngọn đèn đường lúc này tự thấy mình có thừa ra không? Tôi không dám đề cập đến việc tiết kiệm điện, với tôi, chỉ có ngọn đèn thiên nhiên mới là trong lành,vĩnh cửu.

        Đêm nay, ngồi trên ghế đá trước nhà, thức cùng trăng đi ngang qua đỉnh đầu.Tôi chẳng vướng bận lo âu một điều gì, con cái cũng đã lớn, ngoài đồng lương hưu hàng tháng nhận về tiêu hết là xong. Tôi cũng chưa nghĩ như chị Thư lo đến cái chết cho mình, mà quý chị ở cái tình đi mua từng lạng đinh về đóng từng cái đòn nhỏ cho hết người này đến người kia, bỏ vào bao đem tặng nhà chùa để khi ngày giỗ các bổn đạo vào bếp ngồi nấu nướng cho đỡ mỏi chân. Chị phân loại tặng mấy cái đòn nhỏ cho các cháu ngồi mua bán đồ hàng với nhau, dành những cái đòn lớn xếp chồng lên ngay ngắn để ngay trước hiên nhà mình cho anh chị em công nhân sáng sớm ngồi chờ xe đưa đón, còn bảo tôi lúc nào đi Sài Gòn lên ngồi đây chờ xe cho đỡ mỏi chân nghen! Những cái đòn làm ra từ việc tận dụng những miếng gỗ vụn, gỗ tạp chị mua về nấu nước mà làm nên sự quan tâm thật đơn giản trong cuộc sống đời thường. Nhưng tôi làm sao quên được vào những buối chiều cái dáng chị đang ngồi đóng đòn, mắt cứ nhìn chừng sang bên kia đường, rồi vui vẻ đứng lên bảo chờ chút theo sau tiếng gọi: Bà hai ơi, dắt cháu qua đường! Đó là tiếng của mấy cháu nhỏ trong xóm đi học về, mà cha mẹ chúng còn bận đi làm chưa đón kịp.

        Nếu như hồi đó…chị cũng có những đứa cháu như lũ trẻ bây giờ gọi bằng bà nội, bà ngoại kia! Nhớ trên đường đi về, hai chị em chậm bước, chị kể hồi đó anh ấy yêu tha thiết lắm chứ! Mà sao thời con gái, lúc ấy chị ba mươi rồi, chị cũng chờ và khao khát cho anh, thế nhưng đến với nhau, anh lại dè dặt, còn bảo chị hãy cố giữ gìn. Mà chị thì…chị thèm chút hơi hướng đàn ông sao anh không cho, không đáp lại.Hay là chị nghèo, gia đình anh cũng thuộc diện cơ bản mà. Rồi tên anh có trong danh sách đợt  đầu tiên của xã đi kinh tế mới Cát Tiên Lâm Đồng, anh nói đi vài năm hoặc cũng có thể lập nghiệp nơi ấy, chưa hẹn ngày về. Chia tayanh trong nước mắt từ lúc ấy và anh khuyên chị lấy chồng. Lúc đó má chị nói hay là… giờ má còn khỏe, con có ý định đicùng với nó lên đó mà lập nghiệp làm ănlà tùy ở con quyết định. Còn chị thì đang đi làm, sao bỏ việc nhà nước, nên cứ buồn buồn làm sao, muốntheo anh lại thương mẹ cả một thời thanh xuân góa bụa, giờ thì tuổi tác già nua, sao chị nỡ đành…

        Hình như, nghe nói là ba năm sau anh lập gia đình. Nghĩa là sau trận ốm sốt rét li bì trời đất, được cô điều dưỡng ở bệnh viện còn chăm thêm anh miếng cháo, miếng canh, cho tình anh gần gũi thân thương tự nhiên nảy nở, như hoa gặp nắng cho sắc đậm màu, cho hương ấp ủ. Vậy là Tâm, vợ anh là bạn cùng lớp với bọn chị. Tự nhiên chị thấy tưng tức như con người ghét những áng mây đen che khuất ánh trăng rằm. Bất chợt, chị nhìn lên bầu trời trong xanh quá, không một gợn mây, màu trăng ngọt ngào thanh tao tỏa sáng. Chị trầm tư... Rồi kể tiếp, cũng mừng anh khỏe mới lấy được vợ, có một đứa con gái, tiếc là cháu bé lớn lên năm tuổi mà cứ quặt quẹo chân tay, không phải là sốt bại não, mà qua kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Nhi đồng thành phố là cháu bị ảnh hưởng chất dioxin từ những năm bảy mươi anh đi bộ đội!...

       Trăng tĩnh lặng.

       Tôi lại tiếc, sao lúc nãy chị Thư nài tôi ở lại dùng cơm chay với chị, có thể còn được nghe chị kể thêm về thời xưa nữa kia, nhưng tôi dị ứng món xì dầu, xin phép ra về. Ngày mai đi sớm xuống chợ cảng Quy Nhơn mua cá cơm mùa này về làm nước mắm để dành ăn trong những tháng mưa và gởi vào thành phố cho các con cùng dùng nữa chứ!

       Trăng giữa vòm trời xanh đã chênh chếch bóng phía sau nhà.

                                                                                 Rằm tháng hai, 2011 

*Trích tập truyện ngắn NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI (NXB HNV- 2018)

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

HÃY THỨC CÙNG ANH, đọc Đi và về- thơ Nam Thi


                       HÃY THỨC CÙNG ANH
          Hãy thức cùng anh là cụm từ trong câu thơ “Em hãy thức cùng anh đêm nay” (Uống cạn chén trăng rằm)* mong em“ Cứ say cho đời thôi hiu quạnh”. Thì ra thi sĩ đang cô đơn thật rồi, cần lắm “em” cho và nhận, tiếp nối vun đắp và sẻ chia dù chặng đường đất nước từ Tây Sơn – Sài Gòn Đi và Về *thường niên không khó. Cái khó đã làm cho anh bối rối một vầng trăng giữa trời sao mời gọi chúng mình.
           Đọc thơ Nam Thi thể như cách nói của tục ngữ, ca dao vô cùng thâm thúy dẫu chưa là “thành ngữ” để khẳng định nhưng đủ chín vàng ươm hấp dẫn người tiếp nhận. Bởi làng quê Thuận Nghĩa dọc bờ sông Côn sinh ra anh, chăm anh trưởng thành, nên tứ thơ anh tràn ngập cái tình sắt son, đôn hậu chừng mực của bậc cao niên đã ngoài thất thập trên vùng đất võ Tây Sơn này.
         Nếu như tựa đề tập thơ “Tôi không tìm thấy tôi”(NXB HNV 2019) đầu tay của anh, giả dụ là một ẩn số thách thức bạn đọc, tìm gặp anh trên mọi chặng đường từ thời trai trẻ và những chiêm nghiệm đã qua, là sự giao lưu “ngoạn mục” để bày tỏ chính kiến của một công dân, hay truyền thống gia đình nhà báo Nam Thi, qua câu chữ anh cố tình hé lộ bí mật để thỏa đam mê khôn cùng. Phải chăng đó là Hạt ngọc* được mẹ đã từng “mớm cho tôi những ngày cạn sữa”. Hạnh phúc với lúc đói có sẵn cơm thơm, lúc khát có sẵn nước lọc tinh khiết. Và bây giờ người dùng phải tự tay mình làm ra. Dễ gì có được mùa hoa tử kinh quê nhà sang hè từng chùm hồng thắm trĩu cành cho người săn ảnh đẹp, cũng phải chăm nom từ cuối thu năm trước. Thơ anh cũng vậy. Cái đẹp không chỉ ở câu từ , chính cái hồn cốt văn chương bật mí: “Ở nơi đâu/ Không gian không có chiều nào/ Và thời gian cũng không bắt đầu và kết thúc/ Anh với em không gần mà cũng không xa nhau./ Em hiện ra và biến mất/ Như ảo ảnh trên sa mạc/ Nhưng anh tin em có thật/ Ở đâu đó mà anh chưa biết.”(Hư & thực- trích tập Tôi không tìm thấy tôi). Thì ở tập Đi và Về (NXB HNV 2020) này bù đắp khao khát ăm ắp tình: “Tôi muốn em là hoa/ Trên đời tôi cằn cỗi/ Chút hương thầm thoáng qua/ Giữ thời gian không vội/... Tôi muốn em là sông/ Mang tình tôi ra biển.../...Tôi muốn em là em/ Gần tôi như hơi thở...” là tự sàng lọc chính mình.
        Đi và Về theo mùa đất trời tự nhiên, phù hợp với lẽ đời. Và mỗi bài thơ bắt nguồn từ cảm xúc của thi nhân, đều hợp thành mảnh hồn văn học phục vụ đời sống con người. Không là bất chợt mùa đại dịch, dẫu bực bội trong ngày: “Từ góc cách ly sao hôm lẻ loi/ chênh chếch đầu ngọn cây leo lét/ như mắt chiều hấp hối/ Lời kinh cầu vỡ vụn tiếng chuông rơi”(Cách li chiều)* thì “Lời chim hót trong lồng”* chính là ban mai minh chứng lẽ sống an nhiên cho mùa của lòng người không còn ngột ngạt mà tỏa hương tận hiến. ...v v...
        Thơ Nam Thi đã hoàn lại không gian cho sự tĩnh tâm yên bình lắng nghe vọng lại. Hay còn là sự lan tỏa bức tâm thư: “Phép lạ đến từ mẹ đất/ đã duy trì sự sống hàng tỉ năm/ Qua những kỷ băng hà/ hỏa diệm sơn và thiên thạch/ lưỡi gươm hay bom nhiệt hạch/ thiên tai và nhân họa/...” ập đến. “Phép lạ” ấy cộng với ơn trời mưa nắng phải thì, cộng với cần mẫn đôi tay thường ngày, dẫu sao “những cánh rừng Tây Nguyên/ trụi lá thời chiến tranh/Nay đã thành ruộng đồng tít tắp màu xanh” trong cách so sánh: “Đất mẹ vẫn bao dung, nâng niu sự sống trường tồn/ Những chồi non nhú lên/ Những hạt giống dưới lớp tro tàn sẽ mọc/ thành cây thành rừng bạc ngàn/ Tình yêu cũng sẽ trường tồn như thế/ Hãy tin và biết ơn mẹ đất/ như tin ở tình yêu bất diệt”(Hãy tin ở mẹ đất)*. Bởi Trọn đời mẹ ở cùng con*chăm chút nuôi dưỡng cho anh có những câu thơ phóng túng thỏa đam mê hướng về cái thiện, cái đẹp trong cuộc đời này.

       Không gian và thời gian Đi và Về nhất quán đồng hành cùng thi nhân. Chẳng thể cất giữ riêng mình nỗi nhớ quê (Ngày xửa ngày xưa, Hẹn hò hoa tử kinh, May mà còn có hoa và em,...)*, thao thức nhớ nhà da diết bên cạnh Người đàn bà thức đợi bình minh* kể từ Đêm trừ tịch*, hay Độc hành chiều giáp Tết* cùng sẻ chia Nỗi niềm với Quy Nhơn – Sài Gòn*, có thể lan rộng ra cả nước và thế giới, để thay đổi cách nhìn lại về “thời điểm bắt đầu một kỷ nguyên thái bình/ tình yêu ôm trọn hành tinh” và không chế, khuyên can: “Xin đừng đếm ngược ngày tận thế/ nhầy nhụa máu xương và thù hận/ ngập tràn rác và chất thải độc hại”(Nào ta cùng đếm ngược)*. Đó còn là sự sống dân tộc và nhân loại kịp thời đánh thức anh và tất cả khi trở lại Thành phố lúc 3 giờ sáng* trong cao điểm chống Covid-19:
      “Thành phố đang ngủ say
      Em cũng đang ngủ say
      Con virus corona không biết ngủ
      đang ẩn nấp đâu đó
      trong phổi người mắc dịch
      và gặm nhấm trái tim con người...”
      Còn riêng anh “... thức cùng những viên cuội/ và trái tim mình/ nàng Apsara vẫn mỉm cười chúm chím/ Chén trà đã nguội/ Và phương đông đã hừng sáng/ Một ngày bắt đầu như mọi ngày/ Cách li và gần gũi/ với mọi người/ và với em.” Yêu biết chừng nào.
        Không là sự lựa chọn thi pháp khi thể hiện chủ đề nhất định, làm sứ mệnh phản ánh hiện thực, Nam Thi lại thanh lọc ngôn ngữ thiên về thể thơ tự do xuyên thấm vào trái tim người tiếp nhận cùng đồng cảm sẻ chia nào đó, mở rộng nâng cao tâm hồn mình như thực tại “đại dịch” thế kỉ đang đe dọa sự sống con người trên toàn thế giới. Làm cho ta bừng tỉnh nhìn nhận ra bức bách xã hội còn là trách nhiệm chung của cộng đồng, trong đó có ta. Bên cạnh ấy, thơ anh khắc sâu nhắc nhở thương mình, thương người cùng với việc lo chung cho đất nước(Hạt ngọc, Cơn mưa và hạn hán, Lời chim hót trong lồng, Hãy tin ở mẹ đất, Quê hương, Cùng hát tình ca bạn nhé, Quê hương, Bão lửa,...)*.

       Đi và Về  là tập thơ thứ hai, cùng với hai tập truyện ngắn của Nhà báo Nam Thi xuất bản trong năm 2019 và 2020. Tất cả với anh như là kỉ niệm lưu lại bạn đọc khi Tôi không tìm thấy tôi * nữa!... Nói có cơ sở, thơ anh làm tôi thật sự xúc động: “Nhớ linh xưa/ Thanh gươm yên ngựa/.../ Nghĩ mà thương/ Thanh kiếm cùn rỉ sét/ Lâu lâu lôi xuống lau chùi/.../ Nghĩ mà tậu/ Một hôm tráng sĩ già ngồi khóc/.../”(Dũng sĩ chém gió)* và tôi đã “khóc” theo tráng sĩ già cùng “văn tế” sống này./.
Tháng sáu 2020/ Nguyễn Thị Phụng.
_________
* Tên bài thơ trong tập


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

CHƯNG CẤT HƯƠNG ĐỜI, Nguyễn Thị Phụng


                         CHƯNG CẤT HƯƠNG ĐỜI


      (Đọc tập thơ Nụ hồng cho Trái đất của Võ Ngọc Thọ, NXB HNV-2020)
      Khái niệm “Người ta là hoa đất” thuộc về tục ngữ xưa nay. Thì tập thơ Nụ hồng cho Trái đất của Võ Ngọc Thọ đã minh chứng phần nào cốt lõi hương hoa được chưng cất hàng mấy năm ròng mới có được. Và đây là tập thứ năm Võ Ngọc Thọ đã xuất bản, mỗi bài thơ là cảm thức về con người và thời gian không còn xa lạ, trái lại khắng khít thể như hình với bóng, hơn nữa là trách nhiệm thuộc về nhau rồi.
       Nụ hồng cho Trái đất là người mẹ bao dung muôn đời bất tử. Chẳng còn là giả dụ thời gian vòng quay bốn mùa, lại chỉ dành riêng một ngày nói về thiên nhiên cho Trái đất, không phải thiệt thòi mà nhắc nhở sẻ chia tình người bên nhau thắm thiết, ý thức cộng đồng bảo vệ hành tinh xanh. Và nếu như Nhà thơ Định Hải xác nhận “Trái đất này là của chúng mình” thì Nhạc sĩ Trương Quang Lục dẫn dắt tuổi thơ: “Quả bóng xanh bay giữa trời xanh” cho các em yêu màu hoa, màu da sắc tộc và bình đẳng con người. Thì riêng Võ Ngọc Thọ dành Nụ hồng cho Trái đất(Viết nhân ngày Trái đất)*về dấu ấn khó quên từ những thiên tai: hạn hán, lũ lụt, sóng thần,... đến những trận động đất kinh hoàng chỉ trong khoảnh khắc sáu mươi giây: “Sau hàng trăm năm ngủ quên/ Trái đất cựa mình/.../Haiti tan hoang đổ nát/ những xác người chết nằm la liệt/ những người may mắn sống sót vất vưởng đầy đường/ những gương mặt thất thần ngơ ngác/.../ những phận người thê lương” (Trái đất sau hàng trăm năm ngủ quên)*. Cái bất chợt quặn lòng, cái bể khổ trước mắt không riêng phận người thê lương, đã có Nụ hồng cho Trái đất san sẻ.
        Thiết thực nhất, gần gũi nhất là tình yêu bắt nguồn từ Âm vang tiếng sóng*: “Đi dọc vạt nắng chiều hôm/ nghe trong biển mặn hương thơm đất trời/ người đi ngược gió tơi bời/ âm vang tiếng sóng vọng lời nước non”. Và nếu như Những tượng đài*(tr. 58) là sự lựa chọn về nhận thức: giữa hi sinh, an nhiên và bình thản- giữa tận hưởng, ngụy trang và dối trá thì lời nước non nhắn nhủ theo nhịp sống, nơi con đường thường ngày đi về thôi thúc tấm lòng người mẹ đẹp tựa một bài thơ, một vầng trăng tròn sáng tỏ, lung linh tình người mẹ hiến tạng con gái chết não ở bệnh viện Chợ Rẫy đã ngộ ra: “Xác thân rồi cát bụi/ nhưng còn đó:/ trái tim/ lá gan/ và hai ... quả thận/ Người Mẹ gần như chết ngất/ khi chần chừ.../ hiến tạng của con// Con thân yêu/ Mẹ muốn thấy trái tim con còn đập/ quả thận con còn lọc/ lá gan con còn được tưới máu tươi/ chỉ mình con cứu sống bốn người// Con thân yêu/ con vẫn ở cõi người/ ở trong lòng người/ Mẹ xin lỗi/ con ơi!”(Tấm lòng người mẹ*). Phải chăng ta có thêm tượng đài người Mẹ được nhà thơ trân trọng viết hoa là vẻ đẹp tư duy khoa học tiến bộ ấm áp nhân từ. Rồi đến cả Chị quét rác* hằng đêm làm sạch đường phố, mong mỏi gởi vào “giữ sạch lề đẹp lối em nghe”(Chị lao công- Tố Hữu) thế mà “lề” không giữ “Kẻ nát rượu lái xe/ đã không cho chị được sống”.  Và chị đã hóa thân: “Chị đã biến thành con sóng/.../ Chị biến thành ngọn gió/.../ Chị biến thành ngọn lửa/ sưởi ấm con...”. Những người bình dị đời thường mà cao cả đã đi vào trang thơ Võ Ngọc Thọ, đó là điểm nhấn trong Nụ hồng cho Trái đất.
        Và nếu như điểm nhấn cho tập thơ Võ Ngọc Thọ bắt nguồn từ tình yêu đất nước: “Tôi nghe tiếng em bé/ Bập bẹ chữ Việt Nam/.../ Tôi nghe tiếng ngọn sóng/ Nghẹn lồng ngực biển đông/.../ Tôi nghe tiếng sông núi/ Vọng lời hịch cha ông/...”(Tôi nghe)* thì hình ảnh Cây bàng chứng nhân*(tr.34), cho đến Hương quê*(tr.50) Nhơn Lý được nhắc đến. Nhưng cũng từ ấy thì Chiếc áo ấm của ba tôi*(tr.54) khắc ghi dấu mốc thời gian: “Chiếc áo theo ông Cụ từ ngày đi tập kết/ ra Bắc vào Nam/ đằng đẵng hơn hai mươi năm/ chở che ông bớt rét lúc xa nhà/ ấp ủ trong tim bao hoài bão...” cho nguôi ngoai nỗi nhớ, mà nén niềm hân hoan. Võ Ngọc Thọ- người con mượn hình ảnh chiếc áo nhớ ngày đi tập kết của cha mình là lời nhắc nhở công ơn để đến ngày trở về bao thảng thốt:
        “Ngày đất nước thống nhất
         ông trở về thăm quê
         chị Hai tôi không còn nữa
         ông khóc
         sao con không nán đợi ba về!
        Ngày đất nước thống nhất
        ông trở về thăm quê
        chú Chín đã hi sinh trong hang Núi Bà
        xương thịt tan vào đá
...”
      Chiếc áo ấm của ba tôi và thời gian của năm tháng khắc khoải đâu riêng mỗi gia đình, mà trở thành kỉ vật chung cho bao thế hệ tiếp nối duy trì bảo vệ quê hương: “Ông trao chiếc áo cho tôi làm kỉ niệm/.../ Tôi lại trao chiếc áo này cho các con tôi/ như trao một báu vật/...”. Với người cha, là niềm tự hào. Riêng với con gái lại là nỗi nhớ khôn nguôi khi đọc Hoa cắm cho con*( tr.79), không khỏi bùi ngùi số phận ngắn ngủi tuổi xuân chưa kịp cống hiến, bởi thường ngày “hồn con lạc bến chơi vơi”. Thương và nhớ thường trực trong cảm xúc thi nhân từ : Một đóa vô thường* cho đến Những đóa tình* về một sự thật thời gian: “Muốn hay không/ Ta vẫn thêm tuổi nữa/ Khi xuân về gõ cửa trái tim// Hôm nao tóc xanh/ Tràn nhựa sống/ Nay bạc mái đầu/ Bạc những khát khao” nhưng từ ấy bật ra:
        “Kìa mai vàng đang nở
         Những đóa tình tin yêu
”
        Những đóa tình kịp bung nở tỏa hương trong Nụ hồng cho Trái đất chính là sứ mệnh thi ca, tập trung chủ đề viết về đất nước và con người nhân hậu làm nên mùa xuân Với đời* (tr.94). Bởi nơi đó có Khung cửa*(tr.95) bao dung đón chờ, sẵn lòng mở ra: “Có một khung cửa/ đi về mỗi ngày/đều đều quen thuộc/ khung cửa thời gian/.../ khung cửa tâm hồn// .../ khung cửa tự do//.../ khung cửa riêng mình/...khung cửa tình yêu”cô đúc, lắng đọng. Nụ hồng cho Trái đất giàu suy ngẫm về tâm hồn đồng điệu, một bức tranh hiện thực đầy: “Sống động và thú vị/ Với những/ Con người/ Cây cỏ/ Hoa trái/ Đôi lứa yêu nhau...”(Quên). “Quên”* là khẳng định cái nhớ, việc phải làm tựa một danh ngôn. Hãy dành Nụ hồng cho Trái đất như dành môi trường sống cho con người, như tự bảo vệ chính mình các bạn ạ./.
10.07.2020/ Nguyễn Thị Phụng
___________
*Tên các bài thơ trong tập.