Thứ Ba, 22 tháng 12, 2020

NÓI GÌ VỚI NGƯỜI XƯA*. Truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

                   Nói gì với người xưa. 



                  Ở độ tuổi tám mươi, ông Được vẫn giữ mái tóc bạc dài đến chấm vai, lúc trời nóng nực ông mới cột túm ra sau ót. Hôm nay là ngày giỗ, họ hàng nội ngoại, con cháu đều có mặt, một số bạn bè thân thiết cũng đến kịp giờ. Như thường năm bà Trầm tự tay làm mâm cỗ và đặt lên bàn thờ, nhưng từ chiều qua do quá xúc động, giờ đứng bên ông, bà còn nghe rõ nhịp tim mình thôi thúc nhắc nhở. Ông Được thắp sáng hai cây nến trên bàn thờ và châm sáu nén nhang cháy đỏ, đoạn ông phẩy mạnh tay cho tắt ngọn lửa rồi đưa cho bà Trầm ba cây, cả hai cùng đứng trước vong linh hai di ảnh đã nhòe theo năm tháng. Không phải đây là lần đầu tiên mà đã bốn mươi năm, ông bà cùng đứng van vái người đã khuất... Chỉ riêng năm nay ông lại châm thêm sáu nén nhang và từ phía sau ông,hai đôi bàn tay đầy đặn trắng trẻo đón lấy hương khói hồn đất, hồn người quyện vào nhau và có lẽ lúc này họ nhận ra gương mặt tình người tình quê thắm thiết. ... 

               Quả là ông Được và bà Trầm đã sống bên nhau cũng bốn mươi năm có ba người con cùng sáu đứa cháu. Vậy là ông bà phải giải thích đến chín lần “bật mí” vì sao ông phải để tóc dài, nhưng ông nhớ nhất thằng cháu đích tôn cứ tinh nghịch vén mái tóc ông lên, hù nhẹ vào tai trái ông rồi tủ mái tóc lại. Những lúc ông nhờ con cháu út thoa dầu trên hai bả vai có những vết thẹo sâu hoắm, được dịp nó cũng vén mái tóc bên trái ông rồi thoa dầu chắn gió vào tai ông. Đã thế, mỗi khi đi đâu về, ông ôm chúng vào lòng, chúng còn thơm lên phía tai trái ông nữa. Còn bà Trầm thấy ông cháu thủ thỉ với nhau thì bà cũng vui lây. Vui thì có vui nhưng mỗi khi nhớ lại cứ xót xa ông, còn bà thì... ánh lên trong đôi mắt. Nhất là sáng ngày hôm qua con cháu gái ướm thử bộ áo dài chuẩn bị vào học lớp mười. Ôi cha sao cháu giống bà ngày xưa quá, cái màu trắng bà yêu biết bao!... 

               ... Sau khi đậu tú tài bán, năm 64 của thế kỉ trước, Trầm chuẩn bị bước vào học lớp đệ nhất để thi tú tài toàn (hồi đó học xong lớp đệ nhị thi lên đệ nhất, bây giờ là lớp 11 lên lớp 12) bị mật vụ chính quyền Sài Gòn bắt giam ba tháng vì có mặt trong vụ Quách Thị Trang. Ra khỏi tù, về quê cô nhận lời cầu hôn của một viên trung úy (lính sư đoàn 22 Việt Nam Cộng hòa) biệt phái dạy môn tiếng Pháp, cô được đi học lại. Tưởng chấp nhận đời sống vợ chồng cho được yên thân, không ngờ ba tháng sau người chồng bảo là chuyển công tác vào Cần Thơ để tiếp tục dạy, nếu không thì phải bị đưa ra mặt trận An Lão. Mà kể đến mặt trận An Lão bấy giờ là chỉ có đi không trở lại, lính sư đoàn 22 đóng tại Tháp Bánh Ít ngày một thưa dần sau những đợt hành quân, càng ra sức đặt bàn, căng dây trên khắp đoạn đường dân cư qua lại nhằm bắt “quân dịch” bổ sung vì còn có số cố tình đào ngũ. Từ việc thầy Chương bỏ nhiệm sở dài ngày dẫn đến cô Trầm không chịu nổi sức ép lại bị mời lên mời xuống điều tra, cùng lúc cô cũng bị ốm thai, gia đình chuyển cô vào Từ Dũ điều trị, đứa bé trong bụng chỉ mới chớm tình yêu đầu của Trầm với Chương cũng vội xa cô. Rồi cô cũng vắng mặt ở Sài Gòn để lại nỗi âu lo cho tuổi già cha mẹ đang sống trong một thành phố biển Quy Nhơn đầy vơi con sóng. 

           ...Đã hơn một giờ sáng giữa lưng chừng núi rừng dừa thâm u tĩnh mịch, làm sao kiềm nén được những cơn co giật của các thương binh mới chuyển về đêm hôm qua, họ cứ trăn trở đau đớn vì những vết thương chưa lành, đây là những lúc họ thèm bàn tay dịu dàng của mẹ, của chị, của em trong gia đình chăm sóc. Từ lúc Trầm được cơ sở đưa lên cứ học y tá rồi chuyển về An Lão, và đây cũng là lần đầu tiên đặt chân lên quê chồng, Trầm vẫn tranh thủ ban ngày ra khỏi trạm xá hướng về dưới vùng trũng dọc hai bên dòng sông An Lão, nơi có những cây dừa chưa được lên cao đã bị cháy xém, có những cây đứng ra chống đỡ đạn bom cho người dân nơi đây đã bị phát ngang nửa chừng, có cây bị đào xới luôn cả gốc. Nhưng những cây dừa xanh cứ âm thầm mọc lên bên cạnh, vắng tiếng súng là ra đồng không kể ngày đêm. Hạt gạo cũng vừa đủ nuôi quân, chỉ thiếu muối. Việc chuyển muối từ Hoài Nhơn qua đường núi lên, hay từ Hoài Ân qua An Lão chỉ lo bị phát hiện là thu mất còn bị theo dõi. Lần đầu tiên trong đời chị thèm muối, có lúc chị được phân công đi cõng muối cùng giao liên, bà con dân tộc. Muối đựng trong những ruột gié, hay ngụy trang gói thành từng đòn bánh tét để che mắt địch. Nhớ lúc ăn lá muối, lá béo được hái từ trên núi trên rừng về, bởi muối chỉ để dành cho thương binh, cũng như cho cả tù binh nữa. Có những đêm chập chờn nhớ chồng trăn trở mãi đâu ngủ được, biết anh có mặt quê nhà này không, Trầm chưa dám hỏi ai, hơn hai năm rồi cũng biệt tăm tin tức về chồng...



                 Chị trở lại với công việc mình, đâu chỉ có tiêm thuốc, rửa vết thương, hay bốc thuốc cho thương binh uống, chị còn ngồi bên cạnh bón từng thìa cháo cho các anh ăn, có anh ói mửa thới thốc ra trên chiếu nằm hay đi ngoài tại chỗ, chị cũng lo dọn dẹp sạch sẽ thơm tho... Riêng một trường hợp thương binh nặng, mảnh đạn găm vào mắt bị nhiễm trùng, gương mặt bị rách nát, mất một cánh tay trái, thương tích đầy mình, mất máu nhiều cộng vào là những cơn sốt co giật mạnh, thấy chị run tay nên cô y tá mới bổ sung( cô y tá có tên Lê Thị Mới) cũng là để phân biệt cô y tá cũ là Trầm, nên Mới luôn được gọi kèm với công việc là “y tá Mới” đã trực tiếp băng rửa vết thương và chăm sóc cả ngày hôm đó. Đến tối thay phiên trực, nỗi ám ảnh cứ chập chờn chị nào dám ru giấc ngủ mình trên chiếc giường tre nhỏ, rồithiếp đi lúc nào không hay. Vừa chớp mắt như có tiếng ai đó gọi mình, chị tỉnh hẳn ngồi dậy, chỉ vài tiếng gáy tắt nghẽn, có hơi thở kéo dài, có tiếng khò khè vọng lại, lúc này Trầm cảm thấy bình yên hơn bao giờ hết, chỉ vài ngày nữa các anh sẽ đi đứng bình thường, khỏe khoắn và trở lại mặt trận phía đông bắc An Lão, cũng như phía nam đường đèo An Khê cùng đồng đội mình. 

             Chị đưa chân xuống giường rón rén đến thăm từng chỗ nằm các thương binh nặng phòng bên cạnh, cô y tá Mới vẫy tay ra dấu, chị lại đặt hai ngón tay trỏ giữa lên lớp băng trắng mỏng che kín tay phải còn lại, khoảng cách mỗi nhịp tim cứ chầm chậm, chầm chậm dãn ra,... mạch dừng nhẹ nhàng và hơi sương ngoài trời len lách sờ soạng lên chân tay anh, rồi toàn thân lạnh dần, lạnh dần. Cô y tá Mới nhìn đồng hồ đến bàn ghi vào bệnh án. Còn Trầm dùng kéo cắttừng mảnh băng cũ đã ngấm nhiều máu từ trên đầu xuống tới gương mặt, tháo tới đâu chị lấy bông chặm tới đó. Cũng không là phép màu nhưng người vợ nhận ra được chồng nhờ cạnh ngón cái có hai ngón tay nhỏ xíu nữa khép vào nhau, nghe anh kể từ lúc lọt lòng mẹ hai ngón tay song sinh ấy không có móng! Còn mỗi khi nằm bên anh, chị tinh nghịch gọi đó là hai trái dúi dẻ đẹt nhưng là báu vật đưa lên mũi ngửi rồi xuýt xoa thèm lắm chỉ để dành làm của hồi môn... Cũng như lúc này, không thể một con người với hai tên khác nhau, khác cả ngày tháng năm sinh, chỉ trùng họ. Rồi sau đó Trầm mới hiểu ra được thời chiến tránh bị theo dõi.

              Và rồi mai đây, hình hài không nguyên vẹn được đất mẹ ấp ủ chở che, vết tích chiến tranh đã được chôn vùi, lấp sâu trong lòng đất, chỉ còn lại với đời mộ bia đề tên anh: Đinh Vĩnh Cửu. Mưa gió không thể bào mòn bởi những nén nhang cứ từng ngày sáng đỏ tỏa hương... 

              Cô cháu gái vẫn đứng trước gương săm soi khi mặc bộ áo dài trắng đưa tay buộc tóc ra sau lưng, rồi xõa tóc ra hai bên phía trước ngực, ngắm nghía từng đường nét dáng người thon thả của mình nhưng cũng để tâm đến những cảm xúc của bà rồi cắt ngang:

            - Chuyện tình thời ấy là một nỗi buồn chiến tranh sao bà nhớ đến từng chi tiết vậy? Tất cả là quá khứ, hãy để quá khứ lùi xa, nhớ nhiều thì nếp nhăn chồng chất, bà sẽ mau già, mà mau già rồi phải... Cô cháu gái sợ lỡ lời nên vội chữa ngay nói là mai mốt cháu sẽ viết cả một bộ tiểu thuyết nhiều tập về một thời thanh xuân của bà, của những cô gái Bình Định trong kháng chiến để mấy đứa bạn khâm phục bà và “nhà văn” cháu nữa đây! Nhưng lúc này bà ơi, cháu mặc bộ áo dài trắng có xinh xắn lắm không bà?!... 

           - Ừ, người già thường tự làm khổ mình cháu ạ!... Miệng nói nhưng bà đưa mắt ra ngoài sân, nắng đã bắt đầu rót mật, thằng cháu nội dắt chiếc xe đạp lên hè, rồi bà kịp quay lại tấm tắc khen: Cháu chỉ xõa tóc khi mặc bộ áo dài này là đẹp hơn hết, những lúc nóng nhớ tết(thắt) con rít thả hai bên lại càng xinh. Nhưng cái đẹp luôn kèm với cái giỏi nữa kia.

          - Ô, bà khỏi lo, ba môn thi vào lớp 10 đều chín điểm trở lên, chứng tỏ sức học cháu bà là số 1. 

            Trong câu trả lời đầy tự tin của cô cháu út đã làm bà phải giật mình sao nó tự kiêu hãnh giống bà lúc trẻ quá, điều kiện cuộc sống bây giờ khá khắm hơn, hễ con cháu muốn học tới đâu thì cha mẹ nó lo tới đó, chả bù lại ngày xưa bà là đứa con thứ chín trong gia đình còn sau bà là hai đứa em trai nữa. Chiến tranh đã qua lâu giờ người còn người mất, rồi bệnh tật ốm đau, rồi lại thêm những cái chết oan uổng vì tai nạn giao thông, vì ngộ độc thức ăn thức uống,... chỉ nghĩ đến thôi đủ để bà đau thêm thắt ngực khó thở. Thằng cháu cũng vừa bước vào nhà mặc cho mồ hôi nhễ nhại trên gương mặt đỏ ké, ướt đẫm cả vai áo cúi đầu chào bà, bà quay sang hỏi: 

            - Ông đâu sao không về cùng cháu? 

           - Dạ, ông gặp hai người bạn hỏi thăm ông, hai người ngỡ ngàng giây lát rồi ôm ông chặt khít vậy đó! Tất cả trở lại nghĩa trang... \

           - Đàn ông hay đàn bà vậy cháu?

           - Dạ. Cả đàn ông và đàn bà. Ông bảo cháu về trước báo cho bà chuẩn bị cơm nước đón khách quý. Cháu tăng tốc trên con đường bê tông nắng ơi là nắng. ... 




              Nhớ lại đoạn đường ngày ấy khoảng đầu năm sáu chín, không chỉ nắng mà còn là lửa. Khối lửa rơi nhanh trên đập Balé sau khi gầm rú trút đạn xuống tại Nước Ly, xã An Dũng. Khi viên đạn kẻ thù cắm vào ngực cô y tá Mới âm ỉ chảy, không thể cầm lại mặc dù ông đã nhanh chóng băng kín vết thương, có thể là cô ấy bị máu loãng không đông. Đất không thể bình yên khi ông Được cúi nhìn gương mặt hấp hối của cô y tá Mới. Ông ngước lên nhìn trời, trời rực lửa sục sôi bốc hỏa tiếp hai chiếc trực thăng nữa rơi vào khu núi Đá Bàn khi chưa kịp định quay về hướng Hoài Nhơn. Sự định hướng không cần minh chứng đã bị lụi dần trong đống sắt vụn ngổn ngang giữa núi rừng An Lão Bình Định.

            Hơn nửa vầng trăng thượng tuần hôm đó là mùng chín tháng giêng năm Kỉ Dậu (1969) vẫn treo sáng đỉnh đầu đã ướm hơi sương, trên đường gấp rút về căn cứ sau khi chôn cất cô y tá Mới vừa xong, đi dọc theo con suối đá thuyền, ông Được cùng đồng đội tranh thủ xuống suối rửa ráy chân tay, bấy giờ ông Được mới biết mình đã bị mất đi một phần trên tai trái lúc nào không hay, máu đã vón cục lại dính vào tóc, chảy xuống cổ, thấm vào cổ áo đã bốc mùi tanh khó chịu... Nhưng so với nỗi đau chung của bà con dân tộc, đồng đội ông nơi đây đã mất và bị thương không ít, thì với ông đó chỉ là vết xước quá bé nhỏ. Và có nỗi đau nào bằng tình yêu đầu đời vừa chớm nở chưa kịp nói lời hẹn hò với cô y tá Mới, đã bị kẻ thù cướp mất, giờ cứ ứ đọng lại vết tím bầm trong tim. Mặc dù cô y tá Mới, theo lí lịch trích ngang là cô đã có một đứa con gái với một viên sĩ quan quân y Việt Nam cộng hòa mở phòng mạch riêng tại thành phố Quy Nhơn trước năm Mậu Thân 1968, nhưng cô bị tước mất quyền làm mẹ, vì người vợ sĩ quan vô sinh. Phải chăng đó là chuyện sai lầm thời con gái của Mới, còn ông Được lại là người con trai lớn lên đã phải cầm súng bảo vệ đất nước, chỉ mới vội vàng đặt cái hôn lần đầu cũng là lần cuối trên đôi mắt Mới nhìn lại ông đầy luyến tiếc chưa kịp trăn trối, đoạn ông đưa bàn tay mình còn vương mùi thuốc đạn vuốthai mắt cho khép lại, cũng là lúc cô vừa trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay ông cùng đồng đội... Hồi đó là cuối mùa mưa.

                ... Nghe tiếng chân bước từ ngoài ngõ đi vào nhà, bà Trầm đã nhận ra ông Được về, bên cạnh là hai người nữa. Một người đàn ông chừng bảy mươi tuổi cao to, mũi nhọn, mắt xanh, da mặt trắng hồng tóc bạc ánh kim, người đi bên cạnh là một phụ nữ khoảng hơn bốn lăm bốn sáu gì đó, tóc hung hung đỏ, chỉ riêng đôi mắt có thể nhận ra là có nét một người nào đó mà bà Trầm chưa nghĩ ra. Còn người phụ nữ ấy gọi người đàn ông đó là bố. Cả hai bố con cùng cúi đầu chào bà, người bố nói tiếng Việt lơ lớ:

              - Xin - giơi thiệu - vơi bà - tôi là - Fred - đây! Một người lai - may bay rọ - tồi nhât - đã bị đồng đội bà - băn rơi - xuông tại trụ sơ - xa An - Quang tháng bay năm sau mươi - tam.

             - À... thì ra ông là giặc lái những năm ấy à! Bà Trầm cũng dằn lại từng tiếng khi trả lời ông, ngừng một lát, bà nói tiếp: Đã qua rồi một cuộc chiến làm đau tai nhức óc lắm!... Ông còn đến đây để làm gì nữa? Hãy đi đi!... 

             - Không, thưa - bà!... Tôi se - đi ngay nêu - chưa noi - được lời cam ơn - về bà đa - cho tôi ăn - “muối” - khi - tôi thèm no vơi chao - trăng bà nâu. “Một miêng - khi đoi bằng - một goi khi - no” Tôi học - được - tục ngư Việt Nam - hay lăm!... 

            - Chúng tôi chỉ bắn lại các ông khi các ông đến xâm lược đất nước, nã đạn bom đạn vào đồng bào chúng tôi. Còn khi máy bay rơi, ông bị thương sống sót, chúng tôi phải cứu ông. “Lương y như từ mẫu” không phân biệt đối xử trong bất kì trường hợp nào!... 

           Đoạn bà định đứng lên để đi vào nhà trong thì cô gái đã giữ chân lại trong câu chuyện của mấy mươi năm về trước, cuộc lưu lạc, bị đẩy đưa và gặp được ông Fred ở xứ người đây, ông nhận cháu làm con nuôi đã ba mươi năm kể từ lúc ba má cháu sang bên ấy rồi bị bệnh ung thư đã mất. Nói xong, người phụ nữ đưa tay vào túi xách lấy ra gói giấy nhỏ bên trong là một cái phái hình vuông màu vàng gạch thường đeo cho trẻ sơ sinh khó nuôi với quan niệm người xưa yếm trừ ma quái và đựng trong đó là hình lá bùa của các thầy cúng. Nhưng bên trong cái phái này là một mảnh giấy nhỏ gói tấm hình đen trắng đã ngã màu lá khô nhưng nhìn kĩ vẫn rõ gương mặt một thiếu nữ khoảng chừng hai mươi tuổi tóc xõa qua một bên. Bà Trầm chưa hết ngạc nhiên thì người phụ nữ ấy lại lật ra mặt sau tấm ảnh có dòng chữ “ Mẹ Lê Thị Mới tặng con gái Lê Thị Mai của mẹ”... Chững một lát sau, bà Trầm xin lỗi đứng lên đến trước bàn thờ đã đặt hoa quả tươm tất, thắp nén hương, bà khấn “Mới à, sống khôn thác thiêng, hãy cho mình mở tráp lại để con được gặp mẹ, cháu Mai đã về rồi đây!”, bà lấy ra tấm hình cỡ 4.6 đã ngã màu, không dám xem lại dòng chữ ở mặt sau nữa, mà mấy mươi năm trước bà đã đọc rồi, mắt nhìn vào di ảnh Mới qua làn khói hương, tay bà run run bám chặt cạnh bàn thờ, cái nền xi măng dưới chân bà đã cũ lắm muốn ghì lại, còn bà cố bước nhưng không nhích được chút nào. Thấy tấm hình lảo đảo theo bà Trầm, người phụ nữ vội bước nhanh kịp lúc ôm bà Trầm lại, cả người bà mềm như con bún. Ông Fred cúi xuống nhặt tấm hình, cẩn thận úp lên ngực áo ông đang mặc xoa nhẹ như sợ lớp bụi mới bám vào, trân trọng đặt bên cạnh bát hương vừa thắp đỏ. Đất thiêng. 

              ...

              - Cháu sẽ hủy vé bay chiều nay ở lại với mẹ, cô Trầm và bác Được cho phép ạ!


                                                                           * 

                  ... Nằm bên bà Trầm nhìn ra ngoài đêm tháng sáu đầy sao. Gió đượm hơi nước từ cơn mưa chiều trút vội đã làm vơi hẳn cái nắng ở mức 39 độ C giữa một vùng đất được núi đồi bao bọc, từ quanh khu vườn hoa quả chôm chôm chín đỏ phả vào khung cửa trong lành hương thơm. Khẽ khàng Mai kéo tấm chăn mỏng lên ngực bà Trầm, thỏ thẻ:  - Mẹ Trầm ơi, yêu mẹ Mới con quá!... con yêu cả hai mẹ.  - Mà thuở ấy... cả trạm chỉ có hai nữ lại ít có giây phút nằm lại bên nhau như vầy cháu ạ! Vậy là sau khi mẹ Mới cháu hi sinh, cả bữa cơm tối cứ nghẹn đắng trong miệng. Còn ông Được thường ngày hay gợi chuyện thì không nghe lấy một tiếng. Sáng ông chẳng buồn ăn, lo ông đói, lúc ấy “cô y tá Trầm” này lấy phần trái bắp chín còn lại trong thau thiết, lột sạch vỏ cầm hai tay đưa ông rồi ra lệnh: “Đây là phần của đồng chí phải gấp rút ăn nhanh!”. Như chợt tỉnh, ông nhìn vào trái bắp nói rất khẽ “Để tôi dùng mà! Cảm ơn Trầm, cô y tá cũ!”... Mãi cho đến sau này, đúng là Tết Độc lập năm 75, mờ sáng hôm đó “cô y tá cũ” nghe tiếng gõ cửa phòng liền ra mở cửa. Trời đất ơi, ông Được mang đôi dép cao su nghiêm trang trong bộ quân phục lấp lánh ba huy chương kháng chiến trên ngực áo, ngã nón cối chào. Ông Được cầm sẵn cái lược trên tay và tuyên bố: “Tôi, Đinh Văn Được, độc thân, xin tự nguyện suốt đời gỡ rối mái tóc “cô y tá cũ” này mãi óng suông, xin Trầm nhận lời cho!..” Và cô y tá cũ Trầm đâu thể từ chối lời cầu hôn quá bất ngờ này! Người chiến sĩ thuộc sư đoàn ba sao vàng năm xưa ôm chặt cô y tá cũ vào lòng. Có thể đây là lần đầu tiên cô y tá cũ được khóc. 

                Đêm bình yên để thức lại quá đủ đầy những biến động trong tâm hồn của hai thế hệ. Đêm bình yên thức lại quá khứ để tri ân đồng bào, đồng đội đã ngã mình xuống cho lòng chảo An Lão được lên xanh!... 

10. 11. 2014

*Trích NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI (NXB HNV- 2018) tập Truyên ngắn NGuyễn Thị Phụng.

                                                                       


Thứ Ba, 17 tháng 11, 2020

LẶNG TRONG HƯƠNG LÚA- Nguyễn Thị Phụng

 LẶNG TRONG HƯƠNG LÚA





        (Đọc trường ca “Phù sa trên tay” củaĐông Nguyên)
        “Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân”(Sóng Hồng). Nhưng từ trong cuộc sống quần chúng nhân dân, của lịch sử xã hội đã là nơi dự trữ tư liệu, ấp ủ cho tứ thơ cất cánh tỏa hương. Đọc một bài thơ ngắn nhất như hai câu lục bát Việt Nam, dài hơn chút là ba câu thơ Haiku Nhật Bản, hay tứ tuyệt Đường thi,… cho đến những bài thơ dài hàng trăm câu như Trường ca Phù sa trên tay của Đông Nguyên, (NXB Hội Nhà văn, 2012) theo cấu trúc nội tại đã làm nên tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Và nói đến Trường ca luôn nghĩ ngay đề tài có nội dung ý nghĩa rộng lớn mà người viết đạt đến sự thẩm thấu tinh tế, đó có thể là vẻ đẹp được chắt lọc của tấm lòng nhân từ, của một hồn thơ tài năng bậc thầy nhất đất nước như Nguyễn Du, hay là sự nhạy bén của tác giả khi cảm thụ tiếp nhận văn chương một cách khách quan.


          Viết trường ca Phù sa trên tay, Đông Nguyên mạnh dạn chọn thể lục bát truyền thống để truyền tải cảm xúc quả là anh tự khép mình vào gông. Bởi khuôn khổ lục bát vừa gò bó lại vừa khắt khe, rất dễ sa vào lối diễn ca vẫn có một số “thi sĩ” thường vấp phải. Nhưng với Đông Nguyên vượt lên được tầng cao tứ thơ đã lựa chọn. Với hai mươi bảy tiểu đoạn có năm trăm linh bốn câu lục bát cùng một chủ đề, được nhân cách hóa thành Người. Để rồi “Người thơ”  đó phải chịu bao dằn vặt, tủi hờn trong cuộc sống của mình. Đoạn tuyệt với một quá khứ bên kia  mặt trời là hoàng hôn, khói sóng. Giữa quan san người lên ngựa kẻ chia bào của miền đất thiên đô mệnh danh là hoàng triều, cương thổ để khẳng định “Người lục bát  ấy” đã có mặt tại Hà Tĩnh Việt Nam(Quê hương Nguyễn Du).
            “Theo về dựng quán văn chương
            Cỏ hoa Hà Tĩnh ngát hương bốn mùa…”
       
Rồi làm Người qua sông
             “Bềnh bồng tám mặt là sông
              Mượn câu  lục bát mênh mông làm đò…”
         Cũng rất dễ hiểu “Người lục bát” kia cũng là tâm trạng của tác giả, người trong cuộc đang cần sẻ chia:
              “Mười lăm năm Thúy Kiều ơi
               Còn ai bấm phím so lời nữa đây
               Khóc than do bởi phận này
               Lam Kiều xưa dựng trời nay cam đành
”
          Đâu dễ dàng “Lam Kiều xưa dựng trời nay cam đành” như Nguyễn Du không. Chính cái nguyên nhân của “Ba trăm năm ấy về sau/ Một dây tơ một rừng lau trắng bờ / Một phần ba vạn câu thơ/ Ngập trong nước mắt từng giờ đầy vơi” với đại thi hào Nguyễn Du, người từng xót xa thân phận mình đã chắp cánh bung nở cho thi sĩ: “Theo về dựng quán văn chương/ Cỏ hoa Hà Tĩnh ngát hương bốn mùa/ Ra đồng đất thấm sao Rua/ Mạ non lục bát gió lùa chân quê”(Lục bát về Nghi Xuân). Và niềm vui đong đầy trong cảm xúc phấn chấn:
              “Tứ thơ phong vận tài hoa
               Xin trải ra gió xin nhòa vào mây
               Được vào giấc ngủ cho say
               Vành môi em bé lại đầy môi thơm
”
                                              (Lục bát về Nghi Xuân)
           Trong thơ là nguồn cảm xúc chuẩn mực “Sẵn câu lục bát ru êm/ Đừng trôi theo nhịp sông đêm muộn về”. Cái lí giải nhẹ nhàng nhưng không kém phần thâm thúy:
               “ Cho đời nhẹ tựa khói vương
                 Cờ hoa lau dậy một phương trắng ngần
                 Mắt vừa chớp mộng phù vân
                 Tay vừa xóa hết bần thần nỗi đau”

                                                   (Làm người qua sông)
             Đẹp hơn là cách gợi tả so sánh “Mắt nào huyền thoại như tranh/ Hồn nào sương khói long lanh Tây Hồ” vô cùng quyến rủ, như thôi miên sao có thể dứt, thờ ơ, nhà thơ thố lộ: “Bến chiều không đáy hình như/ Mái dầm khuấy nước lao lư sóng đùa”(Làm người qua sông). Từ giã bến sông, những bước chân âm thầm Lên đồi khấn nguyện lòng thành giữa đất trời thanh vắng:
                   “Lục bát xin thầy đi tu
                   Vuốt tay lên tóc mùa thu lỡ làng
                   Lưỡi dao xuống tóc gọn gàng
                   Cành xưa nhánh cũ – rõ ràng đây chăng
”
                                                                           (Lên đồi)
              Nhưng không, nỗi niềm thân phận ấy đâu chỉ có sẻ chia, an bài mà luôn được người đời sau ngợi ca tiếp nối tôn vinh: “Câu thơ tự đất trời này/ Mười năm tiết hạnh lại đầy bình ca(Lên đồi). Nào ai trói buộc bước chân lãng tử khi bắt gặp “ Từ em áo tía khăn điều/ Cái tâm đã chứa ít nhiều bao dung”(Xa nhà). Ngỡ cánh én chao lượn giữa trời hồng mênh mông Nghe biển hát như nhủ lòng mình:
                  “Én thì không mắt lá răm
                   Người thì từ độ xa xăm liếc về
                   Từ ngày cha bị biển mê
                   Ngực trần thêm những bộn bề nắng mưa
”
                                                             (Nghe biển hát)
             Lòng khát khao hoàn lương trả lại cho em đời thường bình yên trong thơ Đông Nguyên thật sâu sắc:
                    “Rồi mai em sẽ theo chồng
                     Rồi mai trên động – tà tâm chẳng còn”
                     Bóng đời lẫn bóng lầu son
                     Mượn ai tính cuộc vuông tròn cho em
”
                                                                 (Cảm nhận)
            Khi Tới Huế* nghe nhịp điệu bổng trầm khúc ca trên sông Hương hay réo rắc của nhã nhạc cung đình trong hoàng cung một thuở đã lay thức miền nhớ trong anh từ tiếng đàn Kiều mà Nguyễn Du gợi tả có phải là dự đoán vận mệnh một kiếp người hay không cũng được nhà thơ tỏ bày:
                   “Phụng Hoàng xưa Phụng Hoàng nay
                     Nam Cầu Khúc lại vơi đầy ngũ cung
                     Huế ơi một tiếng tơ cùng
                     Câu thơ dài đến tận chùng bờ thương
”
                                                                      (Tới Huế)


            Cũng không khỏi ngạc nhiên bước chân thi sĩ chạm lên vùng Đất Võ Trời Văn Bình Định đầy khí phách nhắp một chút hương vị cay cay của rượu nồng như ấm lại tình bè bạn “… Rượu sanh tử rót cứ liều mà say”,  hạnh phúc ngày hợp hôn: “…Rượu cay đãi khách nhớ ngày vu quy”(Tới Bình Định) cho tình yêu ngự trị muôn đời trong thơ anh lúc hồ hởi chào đón, lúc khép nép rụt rè, cả dửng dưng vô tận cho trái tim anh bão bùng tan tác trong cách đối chiếu gợi hình giữa cái thực của trời đất với cái tình anh vụn vỡ: “Bão trời một loạt mưa dông/ Bão lòng sa xuống áo hồng thiên thu/ Vẫn còn đăm đắm lời ru/ Trách em thêm để rối mù trong “ta” / (Gặp lại người thương). Lỗi “ta” hay ở em, tò mò anh cũng nhận ra được bến đỗ nơi ấy lặng lẽ đơn côi “Một lần qua bến sông này/ Hỏi người mới biết ngực đầy gió trơn”(Bình yên), khi một mình “về tỉnh lẻ đành ngồi quay tơ…” rối bời vương vấn nhớ, vương vấn xe cho duyên mình kết nối mà dễ gì được!... Cái bùa yêu không hình hài biết bao phép kì lạ dễ dàng trong phút chốc biến nụ cười tươi tắn trên môi thành nỗi ám ảnh mịt mù trong ánh mắt, biến cái tỉnh táo phấn chấn trong chuyện trò hoạt bát thành ú ớ ngẩn ngơ trầm cảm. Anh trách ai đã tự đánh lừa trái tim mình, trái tim người theo năm tháng tất cả đều là tội lỗi. Bởi Thượng đế chỉ cho con người một trái tim, đó là nhịp sống trong ta. Hãy nâng niu nhịp sống như nâng niu sự thật, thơ văn cũng từ đó mà ra nhẹ nhàng lắm mà xót xa lắm:
                 “Quen mưa quen nắng chẳng lầm
                   Lẽ nào trở mặt với tầm xuân xưa
                   Chỉ từ nửa buổi nắng mưa
                   Sao em nỡ lại sớm trưa phũ phàng
”
                                                          (Xao động)
             Thơ văn là cái “nghiệp” đeo đuổi cả đời người. Phải chăng nó từ tâm như hạt phù sa trên tay của thi sĩ tài hoa, rắc xuống cánh đồng, cây cỏ từ cánh đồng vươn lên, tiếp sức cho hoa ngát hương quả dày cơm nặng hạt. Như lời nhắc nhở chân tình với người thơ, đánh thức miền sâu thẳm tiềm thức tâm hồn cũng như khơi gợi tính nhạy bén trong câu chữ diễn đạt cảm xúc ngợi ca trân trọng chân tình:
                  “Phượng hoàng nào đậu cành lau
                   Ngỡ em hết kiếp cạn màu tài hoa
                   Bàn tay còn hạt phong ba
                   Vẽ thành những nốt áo hoa lặng thầm
                   Chiếc đàn chín nốt vang âm
                  Đập cho tan cả trầm ngâm theo người
”
                                                      (Về gác phượng)
              Nhà thơ Đông Nguyên gợi ra con đường phía trước xem lỡ lầm ban đầu  như một tai nạn khách quan: “Bất cần tắt nến tai ương/ Bó chung cái khổ từng vương – đã từng/ Không phiền câu của người dưng/ Cứ nương cơn xoáy sửng sưng thượng nguồn”(Chấp nhận). Đến với thơ văn hãy biết mạnh dạn đứng lên, thành khẩn những hạn chế tồn tại, tác giả như người anh cả chỉ ra: “ Đừng quy cho những tình cờ/ Ba chìm bảy nổi dật dờ là em”/(Chấp nhận). Anh tường tận phân tích phận người mỏng manh ngắn ngủi như hài nhi không giá thú bị nạo bỏ từ trong trứng nước, tai nạn hay bệnh tật ốm đau cũng rút ngắn đời người, còn ta đang có vóc dáng ngọc ngà trời cho trụ giữa đất bao la này sao em không nâng niu gìn giữ, buông thả đời mình rơi vào khoảng vô định: “Tại em cuộn lấy tình hờ/ Cuối trăng đẫm một bến bờ thực hư… Tại em dựng cuộc tình này/ Nên môi mắt ấy phải ngày lầm than”(Thế thôi) là tất yếu. Khi ai đó đem văn chương ra cợt nhã với tình, không chóng thì chầy cũng như mây gặp gió lùa. Có như giống Tu hú đẻ nhờ vào tổ Sáo Sậu hay Ác Là kia cũng biết yêu biết nhớ cái trứng của mình huống chi là người:“Tu hú còn biết văn chương/ Đậu trên cột nhọn xem thường đại ngôn/ Chắc do cái vỏ không hồn/ Nên không thể ốc mượn trôn lên bờ”(Không chỉ mình ta trách em).
        Và nếu như cái cốt lõi kia là nhân thơm, tự biết nhận ra mình trong chừng mực nào đó, sự khiêm tốn ấy luôn được đồng cảm sẻ chia, nào cấu xé vạch lá tìm sâu  chi cho bàn tay nhiễm khuẩn. Các tiểu đề trong Phù sa trên tay như Chị thương em, Em trai, Em gái, Hàng xóm*,… hay còn chính là số đông quần chúng quan tâm bảo bọc nhắc nhở cảm thông: “Cùng là giậu cúc quê làng/  Sắm sanh cho chị rỡ ràng tìm phu”/ (Em gái). Hãy biết đón nhận: “Ngày mai sẽ đến bất ngờ/ Qua sóng gió phải vào bờ bình an”(Đồng cảm). Chính tiếng thứ hai trong câu bát phải là thanh bằng, thì ở đây “sóng”là thanh trắc dẫn đến nhịp thơ cũng thay đổi 3/3/2 mạnh hơn, tin tưởng hơn.
        Thay cho lời kết, tác giả đã mở ra những tứ thơ Hy vọng đời chờ*, mong Em quay về*, để nói lời Xin lỗi* với đứa con tinh thần của người thơ chẳng quản sớm trưa gieo trồng cày xới:
               “Đất cày nào phụ công cha
               Lặng trong hương lúa phù sa trở mình”

                                                      (Hy vọng đợi chờ)
           Cũng là cặp câu lục bát đẹp tôi tâm đắc nhất trong trường ca Phù sa trên tay của anh. Nào đâu dám so sánh với những trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh hay Những người đi tới biển của Thanh Thảo cũng có độ dài hàng trăm câu, nhưng riêng anh Đông Nguyên viết trường ca là giải bày tâm tư, không nói là giáo huấn, mà anh mượn tứ thơ cảm xúc từ cuộc đời thi hào Nguyễn Du âm thầm trăn trở viết người tài hoa bạc mệnh như Kiều bấy giờ bị đời vùi dập, như thơ văn vô tội của nàng Tiểu Thanh bị người vợ cả ghen tuông đốt thành tro bụi. Nhưng cái lo xa của Nguyễn Du với ba trăm năm sau có ai đã sống hết mình, hết lòng cho những nhân vật hư cấu trong tác phẩm, hay những người thực ngoài đời như chính Cụ đã day dứt cho Kiều và Tiểu Thanh kia. Thì trong hôm nay Đông Nguyên đồng sẻ chia với thi sĩ, anh bày tỏ quan điểm mình hãy để văn chương xuất phát từ trái tim chân tình nhất. Gạt bỏ những lệch lạc lỗi lầm, những ham muốn hão huyền mà sống thực hết mình cho văn học.
                                                       25.11. 2012/ Nguyễn Thị Phụng
___________________
* Tên các tiểu đề trong trường ca


Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

NGHĨ VỀ 20.11 HẰNG NĂM, tản văn Nguyễn Thị Phụng

 NGHĨ VỀ 20.11 HẰNG NĂM*



      Nói đến nghề dạy học, nhân dân ta đã sẻ chia “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy”, rồi trân trọng đề cao: “Tôn sư trọng đạo, Nhất tự vi sư bán tự vi sư, Không thầy, đố mầy làm nên,…” trở lại khuyên nhủ  “…Cơm cha áo mẹ, chữ thầy/ Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao”. Mực thước đạo làm người xưa nay là phải giữ được mối quan hệ gia đình- thầy trò nên khởi đầu năm mới nhắc nhở: “Mùng một ăn Tết nhà cha, mùng hai nhà mẹ, mùng ba nhà thầy”.

       Tiếp nối truyền thống ấy Chính phủ ta chọn ngày 20.11 hằng năm được gọi là Ngày Nhà giáo Việt Nam kể từ 20.11.1982. Có tiền thân từ “Quốc tế Hiến chương các Nhà giáo” (gồm 15 chương với nội dung đấu tranh nền giáo dục tư sản, phong kiến; Xây dựng nền giáo dục, bảo vệ quyền lợi, đề cao trách nhiệm, vị trí nghề dạy học và nhà giáo- nên trong Hội nghị của Fise từ ngày 26 đến 30.08.1957 tại Warszawa- Thủ đô Ba Lan, quyết định lấy ngày 20.11. 1957 là ngày Quốc tế Hiến chương các Nhà giáo, được 57 nước tham dự trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam chính thức là thành viên của Fise).

        Với tôi, nghề giáo vơi đầy kỉ niệm buồn vui. Nghỉ công tác hưởng lương hưu hàng tháng, được Nhà trường, Chính quyền  mời về dự kỉ niệm 20.11 đã là vinh dự. Nhưng với tôi vẫn cứ áy náy vô cùng. Đâu riêng gì mình đã từng đứng trên bục giảng, chúng ta còn có rất nhiều thầy cô giáo với nhiều hoàn cảnh khác nhau trước và sau năm 1975, có người bị buộc thôi việc, có người  xin nghỉ việc với lí do đồng lương không đủ nuôi con, chi tiêu trong gia đình, đa số xin hưởng chế độ một lần. Họ hay đùa là “mất dạy”. Thực ra ngày ấy những cụm từ chế giễu “thầy giáo- tháo giày ra chợ bán, giáo chức- dứt cháo chợ quanh năm,…”. Nhưng kết quả với họ là những đứa con trưởng thành, có công ăn việc làm tương đối là ổn định, cũng đã ủng hộ nhiều cho Hội sau này. Niềm vui tuổi già bên con cháu, trông nôm vườn tược cửa nhà vô ra.

       Đó là hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc là trở lại tháng năm cùng “Hội đồng sư phạm”, cùng sẻ chia ngọt bùi gian khó, cùng hội họp ngày Nhà giáo đã thực sự được công nhận chưa. Suy nghĩ ấy thôi thúc tôi nhận lời ngay khi ông Khưu Đại Lợi- trưởng phòng Giáo dục Đào tạo Tuy Phước, trưởng Ban vận động thành lập Hội Cựu Giáo chức (CGC)huyện, mời vào Ban thường vụ Hội CGC. Mỗi xã là  một thầy hay cô giáo hưu vào trong Ban chấp hành Hội, rồi tiếp tục vận động thành lập Hội CGC xã. Tôi cùng chị- cô giáo Nguyễn Thị Trướng chở đến từng nhà thăm hỏi tất cả đều mong muốn có ngày họp mặt chung. Điều khó khăn nhất ở một số cán bộ từng làm trong ngành giáo dục cũng từ chối vào Ban chấp hành vì lí do đau bệnh. Vậy đã hưu thì có ai mạnh khỏe nữa đâu. Việc hoàn chỉnh danh sách kí xác nhận trên sáu chục người rồi, hồ sơ hoàn chỉnh rồi, còn kinh phí tổ chức ra mắt thì sao… Dịp hè năm 2016, cô Lê Thị Nga từ Sài Gòn về, mời cô Trướng, cô Nga, cô Dung, vợ chồng thầy Thùy và cô Hoa. Tôi trao đổi và được hưởng ứng, tự nguyện đóng góp trước, tổng số lên được 2 triệu rưỡi. Lại là hạnh phúc giấy mời được gởi đến tận nơi, đúng người nhận.



      Chọn thứ bảy, ngày 30.07.2016 Ra mắt Chi hội CGC Phước Lộc, lại là khó quên. Mở đầu thân thiện nhất là Thầy Lưu Hữu Nhi Thùy, đại diện cho các thầy cô giới thiệu tên từng người từ Sài Gòn có cô Nga, cô Bình, thầy Chính và cô Tâm; Từ Quy Nhơn có cô Bá Hường, cô Bích Anh; Từ thị trấn Tuy Phước có cô Ngọc Trang,… và tất cả cô thầy, cán bộ, nhân viên đã từng công tác trong ngành giáo dục, đã từng ở tại Phước Lộc cứ tay bắt mặt mừng, ôm nhau có người đã hơn ba mươi năm mới gặp lại… Cũng là thầy Thùy trước đây thường alo “tự phát” họp mặt liên hoan ngày Nhà giáo tại tư gia mình, không phân biệt hưu trí hay nghỉ việc một lần, đã thế các “thầy” còn hào phóng xếp các “cô” là khách mời nên không thu cỗ phần đóng góp nữa kia!... Bởi có cô Trương Thị Hoa đã từng kí “điều ước” với thầy từ thời thanh xuân đấy. Cũng là thầy Thùy, khi tín nhiệm là Chi hội trưởng CGC Phước Lộc, lại tiếp tục alo mặc dù đã kí phát giấy mời nhưng lo “các cụ” quên!... Lại duy trì alo mở rộng bạn bè thân hữu từ xa cũng “xin” vào Hội chung vui tuổi già. Khi dự cuộc họp đầu tiên, thầy đã tham mưu cùng Hội đồng giáo dục xã nhà để tất cả hội viên đều được tặng hoa và quà tôn vinh trong ngày Nhà giáo. Chính vì thế, ngoài Ban chấp hành, nhất là hội viên nữ cũng rất vô tư “xin” đóng góp công việc trong ngày Hội, cùng với Ban chấp hành(thầy Thùy, thầy Hậu, thầy Lợi, cô Dung, cô Bằng,...) thăm hỏi cựu đồng nghiệp mình lúc cơ nhỡ ốm đau… Việc làm không yêu cầu “phụ cấp” mà năng nổ đến vậy. Xuất phát từ tấm lòng nhà giáo xưa nay của người Phước Lộc đầy tự hào văn hóa truyền thống.

       Còn tôi, xin trích lại đoạn phát biểu hôm ấy: “…Chúng ta có biết bao nhiêu người thầy mẫu mực và những câu chuyện cảm động về tình nghĩa thầy trò. Kể từ tháng 5. 1975 đến nay trên địa bàn xã Phước Lộc, chúng ta có rất nhiều thầy cô giáo đã vượt khó đến lớp giảng dạy học sinh, tham gia xóa mù ở miền núi xa xôi,… nhưng với đồng lương của thời bao cấp quá ít ỏi không đủ trang trải sinh hoạt thường ngày, nên một số đã phải chuyển ngành, đây là việc làm ngoài ý muốn của một tấm lòng nhà giáo thiết tha yêu nghề mến trẻ…



       … Chúng tôi trực tiếp đến từng nhà thăm hỏi, bức xúc trước hoàn cảnh các thầy cô giáo cao niên lại bệnh tật, có nhiều khó khăn trong sinh hoạt như cô Võ Thị Liên Hoa ở thôn Phú Mỹ 2 bị tai biến. Còn cô Tô Thị Xuân Mai ở Phong Tấn hơn một tháng nay cũng vậy. Cô Đào Thị Kim Tước ở thôn Vinh Thạnh đang điều trị tại bệnh viện Khánh Hòa hơn một năm nay, thầy Nguyễn Tất Tiếu cũng mới mổ tim vừa ra viện,…

       …Một số thầy bị bệnh nan y, tuổi già ra đi không thể chờ ngày Ra mắt Chi hội CGC xã mình như: thầy Nguyễn Ngọc Thanh ở Quảng Tín; thầy Văn Tấn Sùng, thầy Trương Thanh, cô Tống Thị Chinh ở Đại Tín; thầy Nguyễn Văn Miên ở Trung Thành; thầy Nguyễn Tất Hiển, Nguyễn Văn Đức ở Vĩnh Hy; thầy Huỳnh Hồng Đức ở Quang Hy; Thầy Lê Bá Trí, Nguyễn Ngọc Thụy, Phạm Văn Năm ở Hanh Quang; Riêng thầy Nguyễn Nguy Anh ở Trung Thành đi làm ăn xa bị tai nạn giao thông mất mùng ba tết 2016…

     …Chính vì thế mà hôm nay Ban vận động kịp thời Ra mắt Chi hội CGC xã Phước Lộc và đề ra phương hướng hoạt động… cùng phương châm: Đoàn kết, Chăm sóc, Trách nhiệm…”

       Vậy là cuối buổi họp mặt ấy, lúc đầu đặt sáu bàn cơm phần lo thiếu 500 ngàn, thì có phụ huynh em Nguyễn Huyền Trân- cựu học sinh Phước Lộc ủng hộ cho đủ, thì giờ số dư lên đến gần mười triệu đồng từ đóng góp của các cô, các thầy và học sinh bổ sung. Mừng. Từ quỹ ban đầu là số không mà cô Dung kế toán cứ phải lo khoản thu nhập sao cho chính xác.

       Mấy ngày sau, điện thoại reo, em Đặng Mậu Mỹ Chi- học sinh Phước Lộc alo, chúng em họp mặt ở Sài Gòn mỗi bạn một triệu gởi biếu Hội, còn nói thêm hôm trước bạn lớp trưởng Phạm Bảo Ân có xin số tài khoản để gởi tiền về tổ chức, mà cô đã từ chối. Đúng rồi. Tôi chỉ muốn huy động từ nguồn quỹ ban đầu mỗi giáo viên góp lại cùng giúp đỡ lẫn nhau. Và sau đó, đại diện nhóm cựu học sinh Phước Lộc: Phan Minh Hải, Trần Duy Vũ, Phạm Xuân Thông, Trương Trọng Thảo, Nguyễn Văn Tùng, Phạm Bảo Ân, Nguyễn Thị Thanh Nhã và Đặng Mậu Mỹ Chi mang quà về biếu Hội CGC. Rồi từ đó nhân lên có em Nguyễn Minh Hòa và Nguyễn Minh Hiếu Hòa, em Trúc Quỳnh, Huỳnh Lê Đình Toại, Nguyễn Thành Tín, Lưu Thị Vân Yên, Trần Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hoa Cúc, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Tất Toàn, Huỳnh Uy Dũng, …và còn nhiều học sinh khác nữa , có em tiếp tục ủng hộ nhiều lần. Dẫu có là con số ít hay nhiều thì nguồn thu cho Hội cũng là nhờ vào việc duy trì vận động chung của thầy Lưu Hữu Nhi Thùy, thầy Nguyễn Trung Hậu,... Có lẽ tấm lòng nhà giáo khi còn trên bục giảng, trong những ngày 20.11 khuyên học sinh mình hãy tập trung chuyện học để thành danh, thành người. Và hôm nay các em trở về nhiều lần mang nặng món quà tri ân cô, thầy gởi biếu Hội.  Thật sự cảm ơn tất cả trường học, chính quyền địa phương, các cá nhân có tấm lòng đóng góp sẻ chia thăm hỏi hội viên nằm viện, gia đình neo đơn, khó khăn,…



        Trở lại niềm vui 20.11.2016 là ngày Hội đầu tiên Chi hội CGC Phước Lộc.

        Có thể kể người cao niên nhất là cụ Nguyễn Cang, nhân viên bảo vệ trường Tiểu học giờ ở tuổi 90, luôn giữ tiếng trống trường đúng giờ có mặt sớm 30’ theo giấy mời, thầy Nguyễn Đức Độ từng công tác trường Đại học Quy Nhơn ở tuổi ngoài 80 cố gắng trên chiếc xe đạp điện cũng sớm hơn 15’. Rồi đến thầy Nguyễn Quang Cang, thầy Nguyễn Tất Tiếu, thầy Phạm Ngọc Liên, thầy Trần Ngọc Thoại, thầy Huỳnh Trung Trực, thầy Nguyễn Tấn Thái,… Còn như các cô  Võ Thị Ngọc Trang, Đào Thị Việt Hương, Huỳnh Thị Trạch, Nguyễn Thị Thu, Đặng Thị Thanh Tùng, Nguyễn Thị Ba, Nguyễn Thị Duy Cần, Nguyễn Thị Diệu Tuyết, Nguyễn Thị Chỉnh, Nguyễn Thị Hoàng Lan, Tô Thị Xuân Mai,… Riêng cô Kim Tước nằm viện. Còn tất cả đều đúng giờ như ngày còn đi dạy. Đẹp từ tác phong, từ thái độ ứng xử làm nên nhân cách người thầy tiếp nối bao thế hệ.



        Ông trời xúc động. Cứ rắc rơi, rắc rơi, đổ hạt dập dồn xé vào ruột gan tôi. Mưa mà như đổ lửa vào lòng người. Sao nỡ phụ công những mái đầu đã nhuộm màu phấn trắng bao năm của các cô Trướng, cô Liễu, cô Bạch Tuyết, cô Khanh, cô Dung, cô Chín, cô Bằng,… xúm xít tết nơ vào cho đủ hai chục bó hoa đã xin thêm về tặng hai chục thầy cô ngoài bảy mươi tuổi cùng khung Chúc mừng thọ nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam. Nghe thật đơn giản, mà chúng tôi chuẩn bị cả tháng trời. Đã thỏa cơn xúc động, ông trời còn chưa nguôi gởi vào cái nhìn vừa kịp nhận ra nhau điểm đi điểm lại: Chào chị…chào cô…mà thầy tên gì, cô tên gì?... Lạ chưa! Nhớ hồi đó…, nay thế này ư,… Rồi em không nhận ra… Bao nhiêu năm rồi chứ ít gì…

        Quanh những chiếc bàn tròn, dẫu tách trà đã nguội, cà phê còn đọng lại chút ít đáy li, mà hương thơm cứ quấn quýt tỏa theo năm tháng một thời bao cấp đi qua, phải chạy ăn từng bữa, đau đáu rời xa bục giảng, nhớ ơi là nhớ!... Chị Lê Nga nén xúc động, cảm ơn “ban lãnh đạo” nữa chứ… còn đọc thơ gởi gắm: “Nếu mai tôi chết…” giữa hân hoan thể như cày xong thửa ruộng. Thầy Hậu, thầy Lợi, cô Trướng tiếp nối vần thơ về đồng nghiệp về sân trường, bạn bè. Những bó hoa thầm lặng tặng nhau sau mỗi bài thơ, và những bài hát của cô Khanh, cô Hoa, cô Anh, cô Mỹ, cô Thơ, cô Hà, cô Hạnh,... Mỗi bó hoa thay lời nói khoe sắc, tỏa hương.

       Những công việc cứ duy trì thăm hỏi ốm đau, chúc mừng các cô, các thầy lên “thất thập” cũng được làm thường năm vào 20.11.

       Quà 20.11 của Hội CGC. Phước Lộc là như thế.

       Giờ là mong nạn dịch Covid-19 chấm dứt, để chúng tôi dành món quà 20.11 lần thứ năm này bình yên tặng các thầy cô trong Chi hội mình.

Tháng 15. 05. 2020.

*Trích tập Tản văn Về một thời thiếu nữ (NXB HNV, 2020) của Nguyễn Thị Phụng

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2020

MÙA CUA ĐỒNG. Tản văn Nguyễn Thị Phụng

  MÙA CUA ĐỒNG*.

             Sau vụ lúa hè thu, gốc rạ nằm trơ mình trong mưa gió chờ hóa thân, là cơ hội cho lũ cua đồng tha hồ tự do sinh nở, tự do bò ngang bò dọc kiếm mồi. Thấp thoáng bóng hơi người, chúng chui vào hang. Ai lỡ dại thò tay vào thế nào cũng bị kẹp chảy máu. Thế nhưng có nhiều bàn tay cam phận “lỡ dại” cố bắt đến con cuối cùng trong hang đầu tiên, rồi cứ thế không bỏ sót những hang tiếp theo, mặc dù gặp phải những con rắn nước cũng tha tội chết. Còn đang lúc mưa to, nước lớn tràn ngập cả đồng, họ hàng nhà cua loi ngoi lóp ngóp, thế nào cũng lọt đầy vào giỏ xúc của các tay chuyên nghiệp dằm sát bờ cỏ. Có người chịu khó cứ sau đêm nước lụt rút đi, chính là ngày hội cua đồng túa ra trên mặt ruộng, chỉ cần lia ánh sáng cây đèn pin lũ cua sững lại ngơ ngác, ấy là lúc mùa bội thu cua đồng của bà con làng quê tôi.

           Thế là cua đồng ra chợ, hễ một kí gạo đồng giá mười ngàn, thì một kí cua đổi hai kí gạo.

           Thế là cua đồng đầy nhà. Gọi nhau í ới rộn ràng. Loại cua tím yếm vàng, sực nức hương vị, chia nhau tô mắm cua tươi trong bữa ăn giữa ngày đông giá. Tình quê nhân rộng bao đời. Từ ông bà, cha mẹ, con cháu, họ hàng, làng xóm. Thương biết mấy cho vừa.

          Nhìn tô mắm cua đồng kết tủa, sệt gạch nóng hổi, thêm lá gừng xanh thái nhỏ, chưa kịp chan vào chén cơm, miệng đã nuốt ừng ực vị đặc trưng. Thế mới biết  sức mạnh chất lượng mắm cua đồng. Bà con nông dân mình cứ phải chịu khó, mỗi năm một đợt, lặn lội bắt về cho kì được, ngâm nước, rửa sạch, bóc yếm, giã nhuyễn, sau đó thêm ít nước vào lọc lấy phần thịt, bỏ phần xác. Nếu nấu ăn liền là ta có vị mắm cua tươi. Nếu bỏ vào một ít măng tre, chút muối để phần hôm sau, nấu dùng, ta lại có món mắm cua chua ngả màu gạch cam bắt mắt. Dùng mắm cua chua kho cá đồng, kho đậu miếng, hay làm nước chấm rau luộc, rau sống, thì… cơm nấu mấy nồi cũng không đủ bữa ăn! Trẻ con làng quê lớn lên biết bắt cua đồng, vui vẻ, khỏe mạnh, lễ phép, học giỏi. Người lớn cặm cụi phát bờ, nhổ cỏ, dặm ruộng, gặt hái,… chẳng hề mệt nhọc cũng từ mùa mắm cua tiếp nối xưa nay.

         Món mắm cua hay cá đồng cũng phải đúng mùa mưa mới ngon. Hễ qua hăm ba tháng mười rồi, bắt đầu cày cấy cho vụ đông xuân. Những con cua phải vật lộn với thuốc trừ sâu, diệt cỏ,… lúc này không nên dùng mắm cua nữa. Biết rằng con cua, con cá đồng quê giàu lượng dinh dưỡng, bổ sung calcium,… nhưng không vì thế mà thiếu cẩn trọng từ khâu chế biến đến sự lựa chọn thức ăn cho mỗi gia đình các bạn ạ./.

05.12.2017

 *Trích VỀ MỘT THỜI THIẾU NỮ(NXB HNV 2020) tản văn Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2020

SAY NGƯỜI MẤY ĐỘ MÙA TRĂNG, thơ Nguyễn Thị Phụng.

 SAY NGƯỜI MẤY ĐỘ MÙA TRĂNG*




                   
"Đất say đất cũng lăn quay
                     Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười"
                     Ta say, say cảnh say đời
                     Cảnh say là một say mười người yêu

                     Cuối thu bóng ngả ráng chiều
                     Trời lênh lang tím gió hiu hiu về
                     Say gì cháy bỏng câu thơ!...
                     Ngôn từ rạo rực đê mê ráp vần.

                    Tiếc chi một áng phù vân
                    Say cho nghiêng ngả chín tầng mây xanh
                    Say người mấy độ mùa trăng
                    Say người mấy độ mùa trăng hỡi người?!
                                                03.03.2010
___________________________
*Trích tập EM VẼ TRÁI TIM MÌNH, thơ Nguyễn Thị Phụng
NXB Văn học 2013

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Sắc hoa râm bụt*, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

          Sắc hoa râm bụt* 



         K hi Yến tỉnh dậy là đúng hai đêm ngày trên con tàu ra quần đảo Trường Sa. Nắng, cái nắng giữa mùa xuân cứ vàng như đổ mật. Gió, con gió thông thốc mang theo hương biển mặn mòi len lỏi áp vào sau đôi mắt kính trắng gọng nâu, còn phần từ sóng mũi trở xuống đến cổ Yến cẩn thận che kín bằng cái khẩu trang màu xanh ngọc. Ngày mới ra trường khao khát đến Trường Sa giờ đã là một hiện thực. Sự mệt mỏi về thể chất cũng bị tan biến ngay khi cô đưa mắt nhìn bờ rào thưa chỉ vỏn vẹn có mấy bụi râm bụt với những sắc đỏ của năm cánh hoa uốn cong đều đặn, còn cái nhụy đỏ như một ống dài thòng xuống phía dưới cùng tỉa đều năm cọng nhỏ lấm chấm phấn hoa vàng đong đưa trong gió lay thức kỉ niệm tuổi thơ nhè nhẹ ùa về trào dâng như con sóng ngoài kia. 

        Đã từ lúc nào, cứ những buổi sáng chủ nhật nghỉ học dù là ngày rằm hay mùng một, từ phía bên kia hàng rào chú tiểu Mẫn có bận rộn đến mấy cũng đều ngắt năm cái hoa râm bụt đỏ gọi sang bên này: Ra đây nhận quà chú tặng. Yến dạ thật to nhanh nhẹn đưa bàn tay nhỏ nhắn vẹt nhánh lá xanh bóng láng hình trái tim có răng cưa, vội vàng chạy ra sau hè lấy lon sữa bò trống một đầu đổ nước vào để cắm cho hoa khỏi héo, rồi chơi trò cô giáo với lớp học hay trò mua bán cùng các em của mình,... Có lúc chú sang nhà còn bày cho Yến biết cách cắm hoa lên hai bím tóc thật đẹp, lúc ấy Yến mới vào học lớp năm. Còn chú Mẫn ở chùa gần mười lăm năm rồi. Nghe nói ngày vào chùa chú Mẫn cũng là một em bé chừng năm sáu tuổi, sau đó được sư thầy làm khai sinh cho đi học hết bậc phổ thông ở trường huyện, sau tiếp tục đưa vào trường trung cấp Phật học ở tu viện Nguyên Thiều như những tăng ni khác, nhưng chú bảo không muốn xa thầy, muốn hôm sớm với thầy trong cảnh chùa mà thôi. 



        Khuôn vườn nhà Yến nằm sâu cuối làng cạnh chùa Vi Nhân, gần một nhánh nhỏ dòng sông Côn chảy qua, chỉ trồng các loại cây ăn quả theo mùa và xen canh những khoảng trống là dày đặc những bụi sả bán theo vụ nên ít nhọc công chăm sóc. Ba mẹ Yến chỉ tập trung vào mấy sào ruộng nay lại thêm nghề đánh bắt cá cũng bữa thiếu bữa đủ cho năm miệng ăn. Sau Yến còn hai đứa em sinh đôi. Ba mẹ của Yến là người tàn tật không phải bẩm sinh. Chân trái của ông hơi khập khiễng đó là lúc đưa mẹ Yến đến bệnh viện sinh em, rồi trên đường về ba Yến bị tai nạn giao thông chứ ba năm ở chiến trường Tây Nam đầy ác liệt mà đạn mìn bôn-bốt cứ như chừa ba Yến ra; Còn mẹ Yến nhổ răng từ lúc bé bị nhiễm trùng phải mổ lại làm má trái tóp vô cho đến giờ khuôn mặt cứ méo qua một bên. Nhưng cái tình của họ trong gia đình mới là đầy đặn đáng quý. Có đôi lúc những đứa em Yến len lén ngắt trộm một cánh hoa dù đó là hoa râm bụt của chùa thế nào tối về Yến cũng mách tội cho ba mẹ biết.

        Tiếng chuông chùa không ai cầm được cứ ngân nga nhẹ nhàng khúc ru cho cả nhà Yến say trong giấc ngủ sau một ngày lao động. Thường mỗi chiều cuối tháng hay trước rằm, có chú Mẫn sang chuyện trò với ba mẹ, thế nào đêm hôm đó Yến nằm ngủ với mấy em trên cùng chiếc giường lén mở mắt nghe và dõi theo ba mẹ thầm thì, rón rén bước chân đi ra khỏi nhà... đến sáng sớm đã thấy ba mẹ về vai khiêng, tay xách nào là gàu thùng, nào là tấm lưới chài bao nhiêu là cá. Được ăn những con cá tươi nấu cháo thơm phức lên đến tận mũi nên mấy chị em của Yến ríu ra ríu rít cả buổi, còn đòi theo ba mẹ ra sông nhưng đâu có được. Lớn lên một chút, Yến phụ giúp công việc cho ba mẹ, mới biết có một số người mua cá sống ngoài chợ đem vào chùa để phóng sinh cầu lợi, chú Mẫn thương ba mẹ Yến khó khăn lắm mới nuôi được mấy chị em Yến ăn học nên đã lén sư thầy chuyện ấy... Một cây bút đẹp, một quyển sách hay, một chiếc áo mới,... của chị em Yến đâu chỉ từ những hạt thóc hạt gạo của ba mẹ thường ngày ngoài đồng mà còn là những con cá sông mắc lưới từ lúc rạng đông nhiều nhất là ngày rằm, mùng một. 



        Dần dà những con cá được “phóng sinh” cũng mắc vào những tấm lưới khác nhặt hơn, lớn hơn nữa. Cảnh ra vào chùa ngày càng đông đúc, người người cũng muốn tự tay mình khấn Phật rồi trực tiếp ra sông thả cá xuống dòng nước trong veo kia. Những tấm lưới nằm im lìm hai bên bờ ngược dòng chảy chờ đến khi bóng người quay về dưới tán cây bồ đề trong sân chùa, mới vội vàng chia khu vực phóng mình xuống sông. Dù cuộc sống vì bát cơm manh áo nhưng là lưới của ai người ấy gỡ, mong đức từ bi chúng sinh từ thập phương trở về chùa ngày càng đông hơn, phóng sinh cá càng nhiều hơn. Mong thì vẫn mong nhưng cũng có người đã từng bị nghe chửi nào là đồ súc vật hết nghề làm ăn hay sao mà chờ người ta phóng sinh cá chưa kịp xuống nước đã quăng chài kéo lưới, như ăn giựt ăn cướp của người khác, đằng nào cũng mắc xương chảy máu chảy mủ ra cổ họng cả dòng họ mày, rồi... lớn tiếng: trời đất xui chi cứ ngày mùng một, ngày rằm gặp lũ mặt người ruột chó, chứ ngày khác thì đây không tha đâu!... Tiếng chửi rủa, tiếng hì hục kéo lưới hòa vào tiếng chuông chùa rồi cũng nguôi dần tan vào hư không. Chuyện “phóng sinh” cá bé cá con cũng là việc làm có ý nghĩa, vì chúng chưa kịp lớn chưa đúng độ khai thác. Nếu ngư dân tiếp tục đánh bắt kiểu “giã cào” chẳng mấy chốc cá tự nhiên trên sông trên biển cũng cạn dần. 

        Hết chuyện cá nước rồi tới chim trời cũng được phóng sinh. Mà nói theo thuyết nhà Phật phóng sinh cho loài vật đã có từ lâu lắm vì kiêng sát sinh, ngẫm ra việc làm ấy cũng phù hợp với việc bảo tồn các loài vật quý hiếm, hiện nay cũng có nguy cơ diệt chủng. Nhưng có một số vật nuôi để lấy sữa, lấy trứng, lấy thịt là nguồn thực phẩm chính cho con người đáng được duy trì và phát triển ngày càng rộng khắp. Bởi nuôi vật là để dưỡng sinh kia mà. Thì thử nghĩ việc phóng sinh và dưỡng sinh đều cần thiết như nhau?!... Tiếng gù uất ức của những chú chim câu, tiếng lích chích bức bối của những chú sẻ đã bị nhốt trong những chiếc lồng sắt treo dày đặc trên cây nhãn ngoài sân, cả trên hiên nhà bếp sau chùa tính ra đã gần ba bốn ngày. Và cứ sáng chiều như vậy, chú Mẫn đong lon thóc đổ cho chúng ăn, hay khi chú đi ra cổng trước lúc vào sân sau chúng đều xoay đầu đưa mắt nhìn theo. Chỉ có mấy ngày như thể cả tháng cả năm gần gũi thân thương lắm. Sáng rằm hôm ấy, sau buổi đọc kinh cùng sư thầy, chú Mẫn mở chốt bật các cửa lồng sắt rộng ra lần lượt từng con bay lên cành khế gần, ngoái cổ nhìn lại, rồi lấy đà bay cao hơn, xa hơn... Còn đêm đến chú Mẫn cứ trằn trọc có phải là nhớ đến lũ chim câu chim sẻ không, chú đã từng thưa với sư thầy về những mơ ước của mình, nhưng đã gần hết năm rồi, thêm một tuổi nữa mà sư thầy cứ điềm nhiên ngồi niệm Phật. Còn hôm nay chú mạnh dạn sẻ chia từ những lũ chim phóng sinh cứ đến sáng bay về chầu chực ăn những hạt thóc của chùa, chú là thanh niên há nào... chưa nói hết câu, sư thầy lẩm nhẩm Mô Phật! Mô Phật!... Con đã suy nghĩ kĩ chưa? Mà con không phải tự xuất gia như thầy, thầy đâu dám ép! Thầy không ngăn cản mà cũng không động viên. Con cứ thực hiện theo ý của mình, chọn con đường nào đi cho hợp đạo làm người, hợp lẽ ở đời thì cuộc sống mới có giá trị. Vậy theo lịch tháng này con không phải cạo đầu nữa! Mô Phật, Mô Phật!... 

         Như thường lệ, chú Mẫn đứng trước chánh điện gõ từng tiếng mõ chăm chú nghe thầy đọc kinh. Sao hôm nay cánh tay phải của chú như thể rộn ràng muốn kết thúc hồi chuông cho nhanh. Phải chăng là tiếng hát “Lá còn xanh như anh đang còn trẻ, lá trên cành như anh trong toàn dân... anh trai làng...” trên loa phóng thanh xen lẫn tiếng chuông chùa buổi sáng sớm ngân vang thúc giục. Chiếc lá còn xanh trên cành như trái tim đầy nhiệt huyết của một chàng trai ở độ tuổi hai mươi tư, há nào tự tách mình ra khỏi cành cây sum suê rợp bóng chở che nụ cười của những em bé thơ ngây từng ngày từng giờ cất cao tiếng hát, chở che cho mặt đất lên xanh phủ kín nấm mồ nằm yên trong lòng Mẹ mà những người từng một thời trai trẻ đã xông xáo tiến công trực diện với ngoại xâm,... Cái màu xanh lá là sức sống của cây. Xào xạc bên nhau những trưa hè oi bức, lặng lẽ chống chọi cái sắt se khi đông tràn về. Dẫu thường ngày lá phải chịu đựng nắng mưa gió bão và khi lìa cành có thể tự hào đã từng cống hiến tuổi xanh... Còn bên kia hàng rào râm bụt, bé Yến mười bốn tuổi đang học lớp 9 chuẩn bị đến trường, nghe rõ tiếng cô phát thanh... Rồi dáo dác nhìn sang chùa như thể tìm chú Mẫn muốn nói điều vừa nghe được. Cả nhà cháu đều quý chú Mẫn, thương chú Mẫn nữa, chú biết không?!... Hoa râm bụt của chú ngày nào chỉ có sắc đỏ, bây giờ mới tỏa hương. Hương được tỏa ra từ người cầm hoa chính là chú Mẫn.



         Vậy thì... ở nhà tiếp tục làm cô giáo dạy em học. Chú là cánh chim trời tất bay đến nơi nào yêu thích, rồi đến một lúc nào đó sẽ phải trở về ngôi chùa đã nuôi dưỡng tuổi thơ chú, nếu không có nhà chùa chưa chắc chú có được như ngày hôm nay... Nhưng với sức lực và tầm vóc như thế này thì... chú không thể ở lại... Vừa nói, một tay chú Mẫn ôm Yến vào lòng, một tay vuốt lên bím tóc đuôi gà nguây nguẩy đỏ hoe... 

         Không thực hiện được ước mơ làm cô giáo, Yến học tổng hợp chuyên ngành báo chí. Thời gian ngỡ như chầm chậm, tính ra đã hơn mười năm rồi. Mái tóc đỏ hoe nguây nguẩy ngày nào cứ ngong ngóng cánh chim trời kia được một lần gặp lại. Sao cánh chim trời bay không biết mỏi. Từ bi của một chú tiểu lên chức thầy không có ruột rà máu mủ thì cũng có bổn đạo, xóm làng chứ! Hay là chú Mẫn sợ cái nhìn của Yến ngân ngấn nước hôm chia tay đầu năm ra quân. Chắc là vậy quá! Ai bảo Yến khóc. Nhớ những buổi giao lưu của trường với đơn vị bộ đội kết nghĩa, không có một ai trùng tên với chú Mẫn hết. Chú đến đâu khi giữa thời buổi công nghệ thông tin liên lạc chỉ cần nhắp chuột, nhấn nút là có xa ngàn dặm cũng nghe rõ cả tiếng nói, nhìn thấy cả người ngồi nói chuyện với mình nữa. Hay là chú... Yến không dám nghĩ tiếp!... 

        Ai dám bảo hoa râm bụt là hữu sắc, hữu sắc thì càng đẹp đóng góp sắc màu cho cuộc đời thêm sinh động. Sắc lá biêng biếc bóng mượt, sắc hoa đỏ thắm giữa nắng vàng lại càng đẹp hơn. Hoa nào lại không có sắc, còn hương ư?!... Có loại có mùi hương dìu dịu nhè nhẹ thoang thoảng, có mùi hương nồng nặc ngai ngái hôi hôi,... đâu chỉ đều nhằm quyến rũ con ong cánh bướm chập chờn đến hút mật, thụ phấn cho hoa mà chính bản thân hoa không tự làm được, mùi hương còn đánh lừa khứu giác cho con người mê hoặc. Chỉ riêng râm bụt tinh khiết lắm, ấy thế mà ngày xưa chú Mẫn chỉ hái mỗi hoa râm bụt cho Yến chơi, còn bảo yên tâm với loài hoa này, chị em Yến khỏi bị ngộ độc mùi hương... 

        Con gió cát, gió muối sát lên tay người cứ rít vào da thịt Yến, cô ra khỏi phòng khách, bước chân xuống hai bậc tam cấp mà mắt không rời bụi râm bụt suýt nữa thì đụng phải anh nuôi trong tiểu đội hậu cần từ dưới bếp đang cầm phích nước đi vào hớn hở thân mật bắt chuyện: 

       - Hình như trong đất liền không có loại hoa râm bụt này phải không chị!... 

       - Dạ...! Dạ không phải ạ!... Yến giật mình ngạc nhiên đáp lễ cứ ngỡ như người đối diện biết hết điều Yến vừa nghĩ đến. 

        - Chị ơi, trong đoàn ra đảo đợt này có mười một cô vừa là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và có cả nhà “ca” nữa, thế thì xin lỗi chị có thể bí mật trước, chị thuộc “nhà” nào để chiều nay có buổi giao lưu văn nghệ chúng tôi còn chuẩn bị quà tặng riêng cho các “nhà” đấy nhé! Yến ngẫm nghĩ “nhà ca” là ca sĩ, tủm tỉm cười để lộ đồng tiền nho nhỏ bên trái rồi thể như đánh lạc hướng:

       - Nếu như em thuộc diện bốn nhà thì anh có bốn phần quà nào cũng bật mí cho em biết trước có được không?...  

        - Câu hỏi khó trả lời quá chị ơi! Nếu “chị” thuộc diện khác như nhà “tôi” thì... đơn giản, bí mật và đầy bất ngờ hơn chẳng hạn đưa môi mình đặt lên má nhà “tôi” theo sau là tiếng vỗ tay kéo dài của đám lính chúng tôi đua cùng tiếng sóng bất tận...  

       - ... 

       Yến ngượng đỏ mặt, nếu như trong đất liền thì thế nào anh lính cũng bị Yến chỉnh lại một câu, nhưng lúc này Yến trợn tròn đôi mắt, rồi cả hai cùng cười.Yến theo anh nuôi vào khu nhà ăn khang trang sạch sẽ. Trên mỗi bàn dành cho bốn người đặt một cái mâm i- nôc hình chữ nhật nhiều ô đầy kín thức ăn: Rau xanh đã luộc chín, nước mắm ớt tỏi, bốn con cá nục lớn chiên vàng, thịt heo xào với măng khô, một nồi canh chua nho nhỏ bên cạnh thau cơm trắng ngần nóng hổi phả hương thơm phức mời cả bàn cầm đũa cho buổi trưa đầu tiên dừng chân lên đảo. Người lính trẻ trong bộ quân phục hải quân ngồi đối diện mời cơm và tự giới thiệu mình ra đảo gần bốn năm, lúc đầu nhớ nhà ghê lắm, ở riết trên đảo đâm ghiền tiếng sóng rì rầm chị ơi. Yến cười đáp lễ rồi tập trung đưa đôi đũa gắp một miếng cá bỏ vào miệng nhai tấm tắc khen ngon quá! Các anh quanh năm thưởng thức cá tươi như thế này thì còn gì bằng... Nói đến đây, Yến nhớ mỗi lần trong mâm cơm mẹ Yến tự hào một thời thanh niên nhờ quen tay và biết chế biến thức ăn nênba Yến nấu ăn khéo lắm, rồi Yến vanh vách theo dòng hồi tưởng đầy tự hào là thời ba Yến là bộ đội chiến trường Campuchia từ năm 1978, đương chức binh nhì, rồi năm sau lên được binh nhất nhưng không trực tiếp cầm súng nữa vì bị sốt liên miên, ba Yến được đưa về quân khu điều trị, tuy là sức khỏe có yếu đi nhưng dạn dày rắn chắc hơn thời còn là học sinh phổ thông nên ba Yến xin được chuyển làm công tác hậu cần ở biên giới Tây Nam đất nước. Cái nắng giữa mùa khô ở Tây Trường Sơn rông rốc, thuận tiện cho việc bếp núc lửa củi ít vất vả so với mùa mưa. Nhưng dẫu là mùa mưa hay mùa khô, để có từng chảo cơm trắng thơm phức không như bây giờ chỉ vo gạo và đổ vào nồi, canh mực nước cắm phích điện nấu chín là dùng ngay. Phải tội lúc ấy chưa có máy lọc sạn, muốn nấu cơm trước hết phải ngồi hàng giờ đãi gạo, lúc đầu chưa quen, nên khi ngồi vào bàn ăn cơm chính ba Yến lại nhai phải những hạt sạn còn sót lại làm ghê cả hàm răng chẳng thấy cơm ngon chút nào. Ba Yến hay tự khen là để nấu được một nồi cơm chín ngon ở biên giới còn khó hơn đánh giặc!... Bởi xưa nay ba Yến chỉ ăn cơm người khác nấu, đâu biết cái vất vả phải ngồi canh lửa củi thế nào để cơm không bị tầng lớp: sống, nhão, cháy, sạn. Từng chảo canh rau thịt ngọt thơm phức mùi hành, những con cá hấp đến tận núi rừng càng vàng giòn hơn trong mỗi chảo dầu ăn cho ngon miệng. Đâu riêng gì ba Yến, các chiến sĩ hậu cần ai cũng vậy.

          Vết thương chiến tranh biên giới trên đất liền sau những năm bảy lăm của thế kỉ trước hằn sâu trong kí ức mỗi công dân Việt Nam và khi khơi gợi thì nó cuồn cuộn theo cùng con sóng ngoài khơi cứ đỏ quạch như râu ngô trên nương rẫy khó mà hòa trong biển cả, hay đó còn là da thịt máu xương những chiến sĩ nằm lại quanh đảo Gạc Ma thuở nào. Chỉ nghĩ đến thôi mà khối chì từ đâu như chực sẵn thừa dịp đè lên trong lồng ngực của Yến, Yến cúi xuống cố và cho hết miếng cơm, nhưng chén cơm vẫn còn nguyên, không dám nói thêm cái điều mất mát đau thương mà các anh nơi đây đang từng giờ từng ngày đương đầu với thử thách lớn...



        Lúc này bất chợt cả hai cùng im lặng. Cái im lặng không lâu khi anh lính hậu cần bắt gặp ánh mắt Yến chớp chớp liên hồi... Bởi cả hai đang nghĩ về những năm tháng chiến tranh về những người đi trước, những đồng đội của cha anh, của bạn bè đang ngày đêm canh giữ biên cương hải đảo, rồi nghĩ tự dưng mình lại... là cán bộ tuyên huấn, mà được làm cán bộ tuyên huấn càng tốt chứ sao đâu!... Anh lính chuyển lại “đề tài” nhắc Yến là chị có thích quanh năm thưởng thức món cá tươi như thế này không? Yến cũng đã hiểu ngồi trong bàn ăn với nhau cần thoải mái hơn nên chị mau mắn:

        - Nếu em thích thì sao, còn không thích thì sao! 

        - Nếu chị thích thì ngay chút nữa đây làm lễ đổi vị trí nhá! 

        Vừa nói vừa cười, anh lính như được thể sẻ chia cũng có người chẳng bao giờ muốn đổi vị trí như trung úy của tôi, say sưa mấy năm liền hết ở trên nhà giàn này đến nhà giàn khác, chỉ lên đảo chưa giáp tuần lại nhớ nhà giàn mới lạ chứ! Anh ấy còn nói ở trên đấy bốn bề là gió đâu cần điều hòa, bạn với cánh chim trời, độc nhất chỉ một loài chim biển. Chúng là là bên nhà giàn rồi đậu trên vai các chiến sĩ, có một điều lạ là khi anh ấy đưa tay vuốt ve mỏ quặm chúng, thì chúng như thể được dịp ngẩng cái đầu lên cao như muốn bảo rằng loài hải âu đâu chỉ bền sức ở đôi cánh dài mà rất lợi hại chính là ở cái mỏ này thôi. Yến bảo ước gì được gặp trung úy của anh để nghe kể tiếp về loài chim biển dễ thương ấy!.. Anh lính thao thao như được dịp ngợi ca cấp chỉ huy của mình, vừa nói vừa nhìn ngón tay áp út trên bàn tay trái của Yến đeo chiếc nhẫn có đính một hạt đá trắng, anh chững lại: Chị biết không, đúng ra giờ này các anh chị được ngồi dùng cơm cùng trung úy, nhưng vừa rồi vợ thiếu úy Thắng sinh chưa giáp tháng, nên anh ấy trực thay phiên cho thiếu úy Thắng trở lại Trường Sa lớn chăm vợ một tháng nữa. Hay chị ở lại trên đảo nổi với chúng tôi có tiếng nói cười của phụ nữ rộn ràng hơn. Yến phân vân trả lời đi theo đoàn mà! Chị còn định nói thêm chỉ hai tuần nữa... rồi chị đưa bàn tay phải che kín chiếc nhẫn đã đính hôn trong ba tháng trước khi ra đảo. Nhưng lúc này ở đây nói ra cái điều ấy thì... không thể, chị hẹn chờ dịp khác sẽ cùng một người nữa ra đảo thăm các anh và biết đâu đất lành chim đậu!... 

          Nghe kể lại trong đoàn có hai Yến, nhưng có phải Ngọc Yến tuổi chưa tròn trăng sang chùa chia tay rồi theo sư thầy xuống sân vận động huyện tiễn anh lên đường, chú tiểu Mẫn ngày nào giờ ngồi chăm chú lên màn hình vi tính tìm trên gương mặt quen thuộc và nhận ra cái nhìn sắc bén trong đôi mắt đen dưới hàng mi cong vút. Đúng là Yến rồi! Yến của anh, nhưng sao không là cô giáo!... Những ý nghĩ thoáng qua rồi vụt tắt khi con sóng lớn đập mạnh vào bờ đá, anh giật mình với những cảm xúc riêng tư gò bó quá. Với anh, nghề nào cũng vậy, vinh quang sẽ dành cho những người hoàn thành nhiệm vụ, ý thức thái độ tích cực với công việc luôn được trân trọng. Anh vẫn hằng nhớ và thầm ước ao Yến làm cô giáo để sáng sáng những cánh râm bụt bung mở trong lon sữa bò trên đầu hè mười lăm năm trước kia giờ chỉ là kỉ niệm!...

         Anh nhìn ra ngoài có một chút gì đó thể như nuối tiếc, thể như khát khao, không sao tránh khỏi cái nắng hạ vàng tự nhiên của trời đất được, có lẽ nắng hạn sẽ chỉ kéo dài theo mùa, còn sắc hoa râm bụt trong mắt anh vẫn thắm như xưa... 

                            5.5.2014/

*Trích Nơi tình yêu giữ lại, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng (NXB HNV- 2018)