Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA

THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA
            Hai bánh xe quay đều trên đường nhựa lất phất mưa bay, màu trời giăng mây xám xịt, em vượt rét gần ba mươi phút, dòng sông Gò Bồi hiện ra. Mùa này nước dềnh lênh mặt sông thênh thang ăm ắp phù sa, một chiếc thuyền câu xuôi dòng buông lưới. Gió thầm thì với mây cho lời nặng hạt, đưa bước chân em vào nhà cùng anh. Anh chào em với đôi mắt sáng trong thuở nào chứa biết bao nhiêu tình trong ấy. Quanh anh vẫn là những lẵng hoa tươi tỏa sắc hương ấm áp. Đánh chết cái nết em chẳng chừa thẩn thờ ngắm anh, gương mặt của quê hương đất mẹ. Anh- Ông hoàng thơ tình yêu trăng yêu người sống mãi trong em từ khúc “ Tương tư chiều”* dạo ấy cho đêm về “ Nguyệt cầm”* xao xuyến trái tim ai!...
          Lạ chưa, khác những chiều năm trước, từng cơn mưa lạnh lùng ngỡ giá buốt trong em, nhưng không bởi có anh bên cạnh. Những kỉ vật một thời được lưu giữ đến nay. Dấu ấn khó phai là bức chân dung anh trên mọi nẽo đường đất nước. Hồn thơ phảng phất đâu đây “Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy/ Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả….”(Đêm ngủ ở Tuy Phước, Xuân Diệu) thơm lừng đặt trước bàn thờ anh. Cánh cửa đã mở ra, anh nhìn quê hương: “ Cái bến sông xưa nước bây giờ vẫn mát/ Cái bụi tre già ta thấy những măng non”( Miền Nam quê mẹ, Xuân Diệu) hiển hiện đó đây.
         Em đến thăm anh chỉ mang mỗi trái tim và túi thơ nhỏ xíu. Tựa vào hồn đất mẹ kết trái hoa. Anh ngạc nhiên cô bé nhỏ chiều mưa, thích lén lút viết thơ tình cho anh đó. Ồ, thì ra tự thuở nào cho đến bây giờ vẫn thế, chuyện tình yêu ai dấu diếm làm gì. Anh- Ông hoàng thơ tình cứ đắm say, rồi khẽ bảo chỉ thì thầm anh biết. Thiên hạ cười chuyện em anh cùng quê thứ thiệt. Yêu là yêu tha thiết sợ gì đâu. Bài thơ đầu tay trong chừng mực đây này, thật Lạc Vận chưa bao giờ công bố:
                       “Gió nồm mang hương vị
                         Nước mắm vạn Gò Bồi
                         Ta chừng như bối rối
                         Câu thơ lạc vận thôi

                         Xuân Diệu gởi cho đời
                         Một hồn thơ khao khát
                         Đêm trăng vàng bát ngát
                         Chín lựng cả mùa yêu”
                                       (Nguyễn Thị Phụng)
          Còn nữa đây anh:
                         Nhớ Xuân Diệu, nhớ Gò Bồi Tuy Phước
                         Nhớ vườn xoài thuở nhỏ thơ ngây
                         Nhớ bài thơ gởi lại phút chia tay
                         Không  ngủ được nhớ tình người xứ Nghệ
                         Nhớ Xuân Diệu nhớ bài chòi Trường Thế
                         Nơi sinh ra giữa cỏ nội hương đồng
                         Nhớ Xuân Diệu càng nặng lòng khắc khoải
                         Đồi thi nhân trăng bàng bạc mênh mông
                                     ( Nhớ Xuân Diệu, Nguyễn Thị Phụng)
         Và chiều nay sao trời đất sụt sùi làm em cũng sụt sùi biết mấy. Thương nhớ anh nghèn nghẹn trào dâng:
                        Anh có mất đâu sao em lại khóc?!
                        Bởi nhớ anh” Mặt trời đi ngủ sớm” đấy mà!
                        Em nhớ anh như nắng hạn khát mưa
                        Như chim én khát tình xuân thơ mộng…

                        Bởi thương chiều mưa phùn lóng ngóng
                        Vụng về em tay nắm rét giữa đồng
                        Anh có mất đâu sao em lại khóc
                        Bởi tim còn se sắt giữa mùa đông!
                                       (Tưởng nhớ Xuân Diệu, Nguyễn Thị Phụng)
           Anh có mất đâu sao em lại khóc?! Có lẽ nước mắt lúc này là niềm vui đang dâng trào trong em anh ạ!...
                                         18.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.
___________
* Tên bài thơ của Xuân Diệu

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

18.12.2011 giỗ Xuân Diệu tại CLB Văn học Xuân Diệu

                                    18.12.2011 giỗ Xuân Diệu tại CLB Văn học Xuân Diệu



Cụ Vũ Ngọc Liễn chánh tế Xuân Diệu


Nguyễn Đình Sinh phó chủ nhiệm CLB Văn học Xuân Diệu

KỈ NIỆM 26 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ XUÂN DIỆU TẠI QUÊ NHÀ

KỈ NIỆM 26 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ XUÂN DIỆU TẠI QUÊ NHÀ






alt
Dòng sông Gò Bồi trươc nhà lưu niệm NHà thơ Xuân Diệu

alt


Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

ĐÊM QUÊ HƯƠNG THƯƠNG CÁI HƯƠNG CỦA ĐẤT

KỈ NIỆM 26 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ XUÂN DIỆU
                             18.12.1985-18.12.2011

                ĐÊM QUÊ HƯƠNG THƯƠNG CÁI HƯƠNG CỦA ĐẤT*
               (Đọc bài thơ Đêm ngủ ở Tuy Phước của Xuân Diệu)alt
  Bên nhà văn Trần Quang Lộc trong ngày giỗ Xuân Diệu lần thứ 25


         Mùa đông miền Trung đâu lạnh lắm. Sao thèm cái lạnh trong thơ Xuân Diệu “ Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” Lại nhớ da diết đến nao lòng từ khi “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm” rồi! Xin mạn phép anh được đảo các danh từ “anh, em” đã dùng như đại từ trong câu thơ tiếp theo “Anh nhớ em, em hỡi anh nhớ em” thành “ Em nhớ anh, anh hỡi em nhớ anh”. Có lẽ anh mỉm cười khi em vừa thủ thỉ điều bí mật này. Em yêu thơ anh, nên mới yêu anh. Ta cùng chung quê nên cùng tự hào Tuy Phước. Em không đi xa mà sao cứ vời vợi nhớ thương. Còn anh bao rạo rực đong đầy trong ngày trở về thăm quê mình:

ĐÊM NGỦ Ở TUY PHƯỚC

Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
Thức những ngô
i sao, thức những bóng cành,
Đêm quê hương thương cái hương của đất…
 

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc
“Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi
Khi má anh sinh ra
Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía…”
Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ
Đem tôi theo ngồi dạy học các làng
Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang.
Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…
 

Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
Đi lượm xoài non rụng với khèo me
Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
“Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
Những ngọt bùi của quê má thân thương
Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…
 

Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
Xin thơ ta được thức mãi về sau.
Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước
                       (16/2/1982 – 25/2/1985 / Xuân Diệu)

        Về Tuy Phước là về thăm quê ngoại, nơi anh được sinh ra và lớn lên bên dòng sông Gò Bồi bên bồi bên lở, từng nghe anh tâm sự “Từ lúc má tôi đẻ tôi ra ở cái vạn Gò Bồi làm nước mắm/ Một hạt muối trong tim để mặn với tất cả những gì đằm thắm/ Một cành lá trong hồn để biếc cùng muôn làng mạc của quê hương”(Miền Nam quê ngoại). Hạt muối mặn đằm thắm, cành lá biếc xanh cho tình yêu mỗi ngày thắp lên như hoa gạo đỏ mùa tháng ba trở về. Cùng bao vùng quê khác như An Nhơn, Tây Sơn thì Tuy Phước chỉ là một huyện trong tỉnh Bình Định nằm ở vùng hạ lưu sông Côn, nhận nước từ nguồn cho đất dai màu mỡ, là nơi tiếp tục khai dòng thông ra biển lớn. Và ai dám tự hào quê mình là vùng đất địa linh nhân kiệt, nếu từng ngày ta không biết vun trồng chăm sóc cho mỗi cây hoa người tỏa hương rồi tự khẳng định giá trị “ Người ta là hoa đất” (Tục ngữ) nâng niu thưởng thức:
                 Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ
                 Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh.
                 Thức những ngôi sao, thức những bóng cành,
                 Đêm quê hương thương cái hương của đất…

        Vâng “Đêm ngủ ở Tuy Phước là để mà không ngủ” đâu riêng gì anh. Những con dế ngoài đồng ruộng kia, những ngôi sao xanh giữa bầu trời đêm lấp lánh, những bóng cành rợp mát chở che năm tháng đi qua mãi vô tận trong cảm xúc nhà thơ. Chính “Đêm quê hương thương cái hương của đất…” cho anh thức mãi những kỉ niệm về  hương vị của đất trào dâng theo ngọn gió nồm ấm áp nhắc nhở:
                 “Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi                  Khi má anh sinh ra
                  Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi
                  Nên tới già thơ anh còn được đậm đà thấm thía
…”

        Phải chăng nơi Vạn Gò Bồi thuở nào với Xuân Diệu là cái tình sâu đậm không thể nào quên! Bởi “trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi”. Dù có cách xa bao nhiêu tính theo chiều dài kilomet, nó là liều thuốc bổ thấm sâu cho đôi mắt anh trong sáng tinh tường, cho trái tim anh rộn ràng nồng thắm . Lòng biết ơn nhắc nhở : “ Ngủ không được bởi nhớ cha tôi là thầy đồ Nghệ/ Đem tôi theo ngồi dạy học các làng”.  “Cha tôi là thầy đồ” thầy làm nghề dạy chữ nho thời trước. Thầy đồ có gốc gác quê hương. Thầy đồ xứ Nghệ yêu lắm miền đất vạn Gò Bồi trù phú đã trở thành ruột thịt khi bước chân dừng lại nơi đây biết “ Gánh tên đất tên làng sau mỗi chuyến di dân”( Nguyễn Khoa Điềm). Nên coi việc tải đạo cho lớp trẻ là trách nhiệm vẻ vang chung của “thầy đồ”. Cái nôi làng quê bé nhỏ nhưng trong tầm nhìn tuổi thơ ngày nào, văn hóa làng xã in đậm dấu ấn khó phai: “Nghe bài chòi cắc cụp cắc ở chợ Tết xã Văn Quang/ Ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn…” Dù ở miền quê, chợ Tết rất nhiều trò chơi hấp dẫn lôi cuốn người xem, nhưng với tuổi thơ của cậu bé Bàng (tên thường gọi của Xuân Diệu lúc còn nhỏ) khi nghe bài chòi lại là sức thu hút mạnh mẽ nhất. Những câu hát dân ca bắt nguồn từ điệu hô trong cuộc, người hô thường ngồi trong các chòi tranh tre hễ bên này hô, thì bên kia đáp lại, chẳng hạn bên nữ vừa hô: “ Tiếng đồn anh hay chữ, cho em thử vài lời, ba mươi mùng một sao trời không có trăng?” vừa gõ thanh tre cắc cụp cắc kèm theo nhịp câu hô. Bên nam phải đáp lại, và nếu không đáp được là thua cuộc. Kích thích sự hào hứng hai bên cũng như những người tham dự. Nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian kích thích tư duy ứng xử. Muốn hô – đáp cân xứng là phải tìm hiểu vốn sống từ trong sách vở, thực tế thường ngày. Và nơi đây là điểm gặp gỡ giao lưu trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ của ngày xưa ở Nam Trung bộ. Đến giờ còn duy trì ở chơ Gò Tuy Phước trong hai ngày mùng một và mùng hai Tết cổ truyền dân tộc. Tuổi thơ Xuân Diệu còn thích ôm cái cột đình làng Luật Bình rồng lượn như là một trò chơi leo lên tụt xuống, săm soi thích thú vì thấy nó lớn quá so với cột ở nhà, cũng có thể từ nếp“đất có lề” cần duy trì gìn giữ, cũng có thể phép vua vẫn thua lệ làng đó sao! Tất cả nườm nượp như khiêu khích:
                     Tim ta ơi, ta đố em ngủ được
                     Khi những buổi trưa của thuở nhỏ lại về…
                     Đi lượm xoài non rụng với khèo me
                     Một cái vườn hoang là một địa đàng cho mình khám phá
                     Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá
                     “Lục lạc kêu rang rảng, bánh tráng bẻ dòn dòn”
                     Những ngọt bùi của quê má thân thương
                     Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống
…

         Cái hồn của đoạn thơ trong bức tranh khắc họa một cậu bé bỏ cả ngủ trưa trốn cha, trốn mẹ cùng đám bạn đi lượm xoài non rụng, khèo me rồi hồn nhiên đưa lên miệng ngấu nghiến ngon lành. Những quả chua kích thích dịch vị thèm thuồng đến thế! Tha hồ tự do vui chơi, chuyện trò thỏa thích giữa cái vườn hoang không chủ. Sực nhớ mẹ vội chia tay bạn, quay về: “Có gì hơn mẹ với con, có chi bằng cơm với cá” là hơn cả. Trẻ con có bao giờ muốn xa mẹ. Vắng mẹ một chút là nhớ quay nhớ quắt làm sao. Chỉ có bàn tay mẹ dù tảo tần vất vả bao nhiêu vẫn dành thời gian chăm chút miếng ăn, dạy dỗ mọi điều tốt đẹp mong con khôn lớn nên người. Mẹ còn đeo vào chân con vòng tròn bằng bạc có cái lục lạc kêu rang rảng với ý nghĩ của người xưa trừ tà ma, con không phải bị giật mình để ngon giấc ngủ. Miếng bánh tráng mẹ mua về bẻ nhai dòn dòn thơm phức ngày ấy còn đọng lại đến giờ. Sao hết những ngọt bùi quê má thân thương được. Điều nhớ nhất là “Cái sân trường có trái vông đồng rụng xuống…”. Sân trường rộng với bóng cây vông tỏa mát cho tuổi thơ sau những giờ học trong lớp, là nơi tung tăng nô đùa cùng các bạn. Nhà thơ không gợi tả sắc đỏ hoa phượng mùa hè chia tay, hay sắc đỏ của hoa vông có lá xanh gói nem hay làm thuốc, Xuân Diệu chỉ nhắc đến trái vông đồng rụng xuống. Cho bọn con trai các anh tranh nhau lượm làm bánh xe chạy đua chơi, thú vị nào quên!   
          “Tim ta ơi, ta đố em ngủ được” về hình ảnh thân thương gắn bó kỉ niệm đẹp ngày nào ùa về, quê ngoại đã từng nuôi dưỡng tâm hồn anh trong sáng quá. Những xúc động lòng biết ơn khi thở hơi nước mắm vạn Gò Bồi đến giờ phút trở về Tuy Phước trào dâng trong trái tim vốn nhạy cảm của anh:
                     Bây giờ Tuy Phước rộng đồng tốt ruộng
                     Con đê ngăn mặn gió biển ru trời
                     Đập Thạnh Hoà kênh mương toả xanh tươi
                     Tiếng trạm bơm động ba hồ chứa nước
                     Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước!
                     Bà Ngoại ta còn phảng phất ở đâu đây
                     Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy,
                     Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả…
        
Niềm vui dào dạt trước cảnh yên bình hiện ra trước mắt. Đó là con đê Khu Đông chạy dài ngăn mặn từ biển tràn vào, có đập Thạnh Hòa kiên cố giữ nước tưới tiêu cho mùa lúa bội thu, cho hoa quả xanh tươi. Anh yêu quá Một mảnh thịt của hồn ta – ôi Tuy Phước! Anh đang tận hưởng màu xanh trải dài tiếp nối từ biển trời đến ruộng đồng nơi khúc ruột tình quê. Giờ còn đâu để gọi ngoại ơi như thuở nào, cho ngoại tận hưởng không khí trong lành như hôm nay. Lòng biết ơn ngoại đã sinh ra mẹ, lòng biết ơn mẹ đã sinh ra anh. Biết ơn tấm lòng những người phụ nữ nhân hậu, giàu đức hi sinh như ngoại, như mẹ cho Bánh ít lá gai, bánh ú mập đầy/ Hoa quả bốn mùa cũng từ ngoại mà ra tất cả….

        Xuân Diệu đã thật với lòng mình:
                     “Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ
                     Thức với quê hương như vậy đã vừa đâu
                     Xin thơ ta được thức mãi về sau.
                     Với Tuy Phước, ngày nào còn đất nước
”

         “Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ” Câu thơ được lặp lại từ khổ thơ đầu nào phải bộc bạch giải bày hay mong được sẻ chia. Chính cảm xúc rộn ràng trong trái tim “cậu bé” về thăm quê ngoại. Những náo nức tuổi thơ ùa về sao ngăn được. Những khởi sắc quê hương sau ngày thống nhất đất nước. Nên không ngủ, ngủ không được, đố em ngủ được và thức suốt năm canh, thức những ngôi sao, thức những lá cành,thức với quê hương như vậy đã vừa đâu, rồi Xin thơ ta được thức mãi về sau. Phải chăng những trăn trở suy tư của tâm hồn nhạy cảm khát khao cuộc sống, tin yêu đủ đầy, trào dâng lên giữa quê nhà trong tứ thơ anh. Chính cái tình sâu nặng với quê má Gò Bồi Tuy Phước nên ngôn ngữ thơ anh giàu sức biểu cảm. Nó làm nền bức tranh không gian nghệ thuật thật sống động.  Tình trước sau vẫn như một. Cũng có thể là sâu sắc mặn mà hơn thế kia. Đấy là phong cách thơ Xuân Diệu nên từng con chữ, câu từ như con sóng dạt dào trân trọng “Hôn mãi ngàn năm không thỏa” niềm tự hào đất nước, trong đó Gò Bồi Tuy Phước chính là máu thịt ruột rà Anh. Nơi đã ươm mầm xanh tỏa hương kết trái cho người con Tuy Phước, Việt Nam: Xuân Diệu, bậc thầy ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam. “Đêm ngủ ở Tuy Phước” là thực tế được viết trong lần về thăm quê nhà. Cuối bài Anh ghi lại hai khoảng thời gian (16/2/1982 – 25/2/1985).
          Người Tuy Phước nhớ Xuân Diệu là nhớ đến “Đêm ngủ ở Tuy Phước”, là Thức với quê hương mình.
                                        14.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.
__________
* Thơ Xuân Diệu
 

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

MỪNG VU QUY CON CỦA THUẬN ĐỒNG

Tặng chị Nguyễn Thượng Trí Sinh nhật lần thứ 59- 12.12.2011

CHUYỆN NGÀY CHỦ NHẬT
          Cho đến xế chiều, tối lại tôi mới biết!...
          Còn thì…Câu chuyện bắt đầu từ thứ bảy, chị tôi mời đi ăn bánh xèo tôm nhảy ở quán bà Năm thôn Mỹ Can Phước Sơn. Tôi náo nức suốt đêm đến khi chợp mắt lại nghe tiếng gà giục mau. Ghét thật, nhưng mà phải dậy sửa soạn cho kịp giờ. Gần tiết Đông Chí, rét. Cái rét khó chịu. Ngồi sau xe là đứa em con chú, chạy được một đoạn, còn bảo dừng lại cho em quấn choàng cái khăn cổ lên đầu chứ lạnh quá chị ơi! Một cây cầu, hai cây cầu,…đi qua rồi không tên tuổi. Ghé hỏi người đi đường, phải cho xe chạy ngược lại. Thì ra mùi bánh xèo đưa vào mũi lúc nãy mà không để ý. Cái quán nhỏ chừng khoảng 20 mét vuông lợp tranh, nằm sâu dưới vệ đường phía bên phải cạnh cầu Mĩ Can theo hướng từ ngã tư thị trấn Tuy Phước ra Gò Bồi Phước Hòa. Bên nay và bên kia đường có hai chiếc ô tô bảy, chín chỗ ngồi đậu lại. Cùng năm, bảy cái xe máy dựng trước nhà. Dưới mái hiên cũng có năm, bảy người ngồi hướng ra phía đường cái trò chuyện với nhau. Tôi cẩn thận dắt xe xuống dốc nhỏ rồi khóa cổ cẩn thận vẫn là hơn. Lại là người “tiền trạm” đến bùm chỗ ngồi. Nhưng trong quán tôi không thể chen chân vào vì những áo len đủ màu ngồi kép kín trong bốn, năm cái bàn. Điện thoại reo, tôi phải ra đón chị và cháu nữa. Năm xuất bánh xèo đã được cậu em út gọi đặt trước khi đi, nên yên tâm có ăn liền. Anh chủ quán kê hai cái bàn nhựa kề nhau và đem ghế cho chúng tôi ngồi trước hè căn nhà ở cấp bốn của gia đình, nơi đây tôi có thể nhìn ra dòng sông bên cạnh, ngắm nước theo mùa còn đậm phù sa đổ ra biển đông kia. Rồi tôi thong thả vào bếp học cách làm bánh xèo. Vẫn bột gạo được xay bằng tay trong cối đã nhỏ, một rổ tôm đất nhỏ con cắt đuôi bỏ đầu, một rổ mầm giá đậu xanh và cổ hủ hành được chẻ nhỏ để bên cạnh.Cái khuôn làm bánh được đặt lên trên cái chão trống đít trên cái lò lửa đốt bằng gỗ tạp. Chờ khi khuôn đã được đổ dầu ăn, bỏ những con tôm đất xong, bà Năm chủ quán mới múc bột, nghiêng tay tráng đều lên khuôn. Tiếp theo là hốt một nhúm mầm giá đậu, rồi tới cổ hủ hành rải vào giữa khuôn bánh. Đậy nắp lại. Canh lửa sao cho vừa giòn mà không bị cháy mới ngon, mới hấp dẫn người ăn.

        Biết là đã báo trước cho năm người dùng, nhưng phải chờ hơn ba mươi phút. Một đĩa bánh xèo được bưng ra còn nóng hổi. Cả đàn tôm gần chín, mười con đỏ hồng trong từng cái bánh nằm lặng im ẩn mình dưới lớp giá và hành chờ tiếp tục hóa kiếp. Một đĩa rau sống (rau thơm) mà xà lách và lá hành cùng rau răm cũng được ngắt nhỏ vừa gắp. Một đĩa dưa leo và khế chua kích dễ thích dịch vị người ăn quá. Một chén nước mắm tỏi ớt giã nhuyễn và thơm (dứa, khóm) bầm nhỏ hấp dẫn để người ăn tự múc chấm. Một đĩa bánh tráng sống bẻ đôi nhúng nước là không thể thiếu khi ăn bánh xèo. Không như quán bánh xèo tôm nhảy ở đường Đống Đa Quy Nhơn, dùng kéo cắt làm đôi cái bánh. Ở đây, chúng tôi phải tự lấy đũa gập bánh xèo bẻ đôi ra, đặt lên miếng bánh tráng rồi bỏ vài miếng dưa leo, khế chua và rau sống. Sau đó tự tay mình cuốn lại. Công đoạn để có cuốn bánh xèo như ý thì hơi lâu, nhưng khi chấm nước mắm đưa lên miệng nhai nhỏ, lúc này ta thực sự thưởng thức chỉ có bánh xèo bà năm vừa thơm vừa ngon. Nghe nói giá bánh bữa nay là mười lăm ngàn một cái, cũng đúng thôi. Ai đã vào bếp cùng bà Năm đứng đúc bánh xèo, thì…. Nào mùi khói củi cháy hòa với mùi dầu,… bốc lên quấn táp vào mặt vào cả người để nhớ để giữ cái nghề của mình không thể bỏ được. Nhưng có lẽ với các chị, các em làm quen với bếp ga công nghiệp, tôi chắc chắn rằng thì…chưa được một phút cũng phải xin ra gấp! Giá một lạng tôm đất cũng gần mười lăm ngàn đồng rồi, mà cả đàn tôm nằm trên khuôn bánh xèo tính ra phải hơn nửa lạng. Còn bột gạo, dầu ăn, bánh tráng, rau sống, nước chấm, cả công nữa thì phù hợp với thị trường hiện nay mà thôi. Bây giờ người ta dùng cốt là cái chất để bồi dưỡng cơ thể, thế mà khi nghe nói mười lăm ngàn một bánh xèo, em Sô tôi tủm tỉm cười nói nhà thơ Đào Viết Bửu chỉ ăn có một lá bánh xèo chắc sợ chị Nguyễn Thượng Trí mời phải trả nhiều tiền, lại còn bảo anh chỉ thích ăn cơm thôi! Ngược với tôi, đã được mời ngồi vào bàn là tha hồ no bụng. Không ăn cũng tính một bữa mà, nhưng khổ nỗi bị viêm quai hàm gần ba tháng nay chưa bớt, không há to miệng được, nhai mạnh cũng đau. Nên mình vẫn là người bao chót, tiếc mấy cọng giá rớt ra khỏi lá bánh xèo, mấy miếng dưa leo, cả khế chua nữa chứ. Mà thật ra cũng ăn nhiều hơn tất cả. Đi ăn bánh xèo trễ, ngồi chờ cũng là một điều thú vị, thưởng thức cảnh quê mình rộng đồng tốt ruộng nhờ những con sông chịu thương chịu khó mang nặng phù sa từ đầu nguồn về. Quý lắm sông ơi! Chén trà đậm nóng thơm lên tận mũi, cảm ơn chị tôi bữa bánh xèo hấp dẫn và ngon miệng làm sao! Chúng tôi rời bàn ăn quá chín giờ, phần giải lao tự nhiên khi nhìn gương mặt của chị, của em, của cháu từ phía sau nhà đi ra. Mới biết trời mưa nào chừa “ Ai không có nón” cứ tha hồ rơi tự do thỏa thích đến hết mới thôi. Người cũng vậy, hễ muốn “mắc tuôn” nào đành cam phận, đất dưới chân cũng đành chấp nhận số phận mình…
          Qua khỏi cầu Mĩ Can, đi một đoạn tỉnh lộ rẽ phải vào thôn Xuân Phương thăm Nhà thờ Gò Thị và tu viện Thánh giá. Ở đây học nhiều niềm vui bên cạnh các sơ. Một sơ còn đùa sớm mai chưa ăn sáng, giờ biết chụp hình nhiều như thế này có bị mất máu không, khi tôi mời xin được có tấm hình lưu niệm. Còn tôi thích ở lại đây quá chừng nhưng lo không đọc thuộc kinh! Cười.
         Những bánh chuối chiên, khoai chiên dọc đường tiếp sức cho tua xe hai bánh chúng tôi ra đến bến đò ở đê khu đông Tuy Phước. Cả vùng trắng xóa là nước, sóng theo gió đập vào bờ gởi tặng chúng tôi những hạt nước mặn lưu niệm. Đầm nước rộng quanh làng Huỳnh Giản trước mặt chúng tôi kia có biết bao là cá, là tôm trong đó có chịu chờ ngày đúng tuổi để “dưỡng sinh” cho người không?! Nước mũi cứ tự nhiên chảy ướt khẩu trang như lần lên núi Chúa ở Bà Nà Đà Nẵng, cảm lạnh rồi! Với lại tôi vừa ở bệnh viện ra. Cho xe trở về thôi!
        …Em tôi vừa nhổ nốt mấy cây cỏ còn ở trong vườn vừa nói, chị biết không, lúc sáng sau khi ăn xong, em ra phía sau đống rơm đi tolex tự do, thấy chị làm trong quán bánh xèo cúi người, hai tay cầm rỗ mầm giá đậu xanh giục lên giục xuống trong dòng nước chảy sát bờ sông còn đậm phù sa!... Em đùa à, tôi ngạc nhiên hỏi lại. Tối về nhà, cháu tôi nói con cũng thấy như vậy. Sau đó thì sao con không biết! Sau đó… họ rửa lại nước giếng mà!Em trai tôi là bạn hàng ruột đính chính dùm.         Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, một con sâu nhỏ làm rầu nồi canh! Không biết bà Năm chủ quán đang trực tiếp đứng bếp đổ bánh xèo, còn anh con trai chạy bàn và thu tiền có biết chuyện này chưa?! Riêng tôi, trước khi đi theo lời mời của chị Nguyễn Thượng Trí đã uống hai viên berberin rồi!...
                                      12.12.2011/ Nguyễn Thị Phụng.