Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

TRĂNG XƯA, HẠC CŨ VỚI XUÂN NÀY

                             TRĂNG XƯA, HẠC CŨ VỚI XUÂN NÀY*
        Cứ mỗi độ mai vàng khoe sắc, mơn mởn những lộc non, không thể không    thưởng thức vẻ đẹp từ hồn chữ nghĩa hiện về: “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”.
         Và tính đến nay “xuân này” vừa tròn sáu mươi, một vòng quay của đời người khi tôi tìm về kí ức bức ảnh gia đình đầu năm Đinh Dậu đã ngã màu, nếu tính theo mùa trăng, lúc ấy tôi vừa tròn sáu tháng tuổi, đang ngồi trong lòng mẹ, bên cạnh cha và xung quanh là các anh chị và một đứa cháu sinh ra trước tôi hai tháng, cháu là con chị thứ hai đang được bế trên tay. Một gia đình quá ư là đông con, mà lúc ấy cha mẹ đã thực hiện tốt sinh đẻ có trách nhiệm, một bằng chứng là chúng tôi được nuôi dưỡng tử tế để nên người hôm nay. Bon đạn chiến tranh và tai nạn giao thông không giữ lại con người, còn bệnh tật và tuổi già cũng vậy. Ngậm ngùi thay một tấm hình đã nhòe theo năm tháng… Chỉ một trăng xưa in bóng hạc đến giờ vẹn nguyên.


        Từ tấm ảnh một gia đình riêng, đến bài thơ của đất nước được khẳng định mang tính lịch sử của dân tộc, không là khoảng cách, cho tôi muốn sẻ chia bức phát họa: “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. “Xuân này” của sáu mươi năm trước, trong phút giao thừa thiêng liêng, cả dân tộc ta đón nhận thư “Chúc mừng năm mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi cuộc kháng chiến mới bắt đầu:
           “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
             Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
             Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
             Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
             Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
             Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
             Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
             Thống nhất độc lập, nhất định thành công!
                               Mùng 1 tháng 1 năm Đinh Hợi 1947.
                      Thư chúc tết là lời kêu gọi chiến sĩ, đồng bào vừa thiêng liêng vừa thuyết phục đậm chất một bài “nghị luận chính trị phổ thông” cho nhân dân dễ nhớ dễ truyền tụng về tình hình đất nước và nhiệm vụ chung của toàn dân tộc ta,  một sự thật rõ ràng mà ai cũng thừa nhận, qua đó khơi động những tình cảm sâu sắc của nhân dân ta chính là lòng yêu nước, tự hào dân tộc, căm ghét áp bức bất công, tinh thần lạc quan cách mạng,… Và những bài thơ chúc tết hằng năm của Bác mãi khắc ghi.
       Trở lại đầu đề “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này” chính là câu thơ cuối trong bài Cảnh rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh viết năm 1947:
                  “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
                  Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
                  Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
                  Săn về thường chén thịt rừng quay.
                  Non xanh nước biếc tha hồ dạo,
                  Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
                  Kháng chiến thành công ta trở lại,
                  Trăng xưa, hạc cũ với xuân này
”
       Cảnh rừng Việt Bắc ngày ấy ngỡ hoang vu nếu chỉ có vượn hót chim kêu, mà ngược lại trong cảm xúc thăng hoa của Người đã mở rộng biên độ hiện thực thiên nhiên phong phú và phóng khoáng hơn. Giữa con người và núi rừng gắn bó chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng nhau cùng nhắc nhở thực hiện mục đích chung: “ Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. Có thể nói rằng, những bậc tiền bối ngày ấy như Nguyễn Công Trứ “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc/ Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”, thì hầu hết thường tận hưởng cái “nhàn” sau khi cáo từ quan trở về làng. Còn chúng ta kế thừa ở Bác, một phong thái ung dung tự tại “Non xanh nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say”phảng phất Nguyễn Trãi, lại thanh bạch “Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay”(Câu thơ “Săn về…” đã nhắc lại kỉ niệm khi thứ trưởng Bộ Nội vụ và đội Cảnh vệ đã bắt được con lợn rừng đêm hôm ấy về, qua những trang hồi kí kháng chiến) của một Nguyễn Bỉnh Khiêm,… một lối sống giản dị thanh cao, vẫn pha chút trào lộng hài hước tích cực để ẩn đi cái gian khổ không tránh khỏi!... Chính sự kết tinh của cảm xúc và trí tuệ nâng cao tâm hồn thi nhân trong sự liên kết chọn lọc giữa xưa và nay, giữa cũ và mới về trách nhiệm của một công dân, của người cầm bút đầy lạc quan và tin tưởng sự tồn vinh dân tộc được duy trì mấy nghìn năm văn hiến cho hạnh phúc hôm nay.
        Không thần thánh hóa Người là nhà tiên tri, bởi dựa trên cơ sở khoa học và truyền thống dân tộc “khó vạn lần dân liệu cũng qua”, bên cạnh lời khuyên chân tình: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy, gian nan rèn luyện mới thành công”(Nghe tiếng giã gạo). Vậy phải chăng từ một câu kết “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này” trong bài thất ngôn bát cú của Người là sứ mệnh cho chúng ta trân trọng sự sống yên bình, tất cả khát khao gìn giữ, điểm tô: “Trăng xưa, hạc cũ” nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc đã từng “che bộ đội, vây quân thù” ngày nào, là cái nôi trường tồn tiếp nối từ bài học trải qua những cuộc “Kháng chiến thành công” trong lịch sử dân tộc!...          Sao quên được Xuân này, nguồn cội quê hương.
         Và xuân này, cho chúng ta thức lại biết bao những buồn vui của năm qua. Về những mất mát thiệt hại người và tài sản, ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, phần nào những tấm lòng từ thiện cưu mang sẻ chia “một miếng khi đói”của toàn dân hướng về khúc ruột Miền Trung quê mình, những “thiên tai” khó tránh khỏi! Còn cái xót xa hơn nữa vụ “nhân tai” ảnh hưởng môi sinh biển mà bà con mình ở bốn tỉnh vùng duyên hải Bắc Trung bộ phải nhận lấy hậu quả không mong muốn!... Những đền bù cho “hậu quả” ấy cỏ thể đã tính là nhiều hay ít rồi, chỉ nỗi ám ảnh tâm trí không biển cảnh báo dễ gì xóa được!... 
         Dành cho Tết Đinh Dậu 2017, nhấm nháp chút gừng cay bên tách trà nóng chưa kịp ấm lòng, sao vội vàng bước chân ra khỏi nhà lại gặp ngay biết bao lễ hội vui xuân, cầu mong tử tế cách hành sử với nhau trong những sinh hoạt văn hóa truyền thống!.. À, thì ra xưa nay “Tháng giêng là tháng ăn chơi…” cho bỏ công lao cày xới quanh năm. Nói là nói vậy. Nhưng không lãng phí, xa hoa. Tôi có già chưa đấy!...
_____________________
*Thơ Hồ Chí Minh
                                              23 tháng chạp năm Bính Thân 2016
                                                             Nguyễn Thị Phụng

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

CHỮ TÂM GIỮA ĐỜI THƯỜNG.

                      CHỮ TÂM GIỮA ĐỜI THƯỜNG.
      Khái niệm chữ tâm và đời thường luôn song hành nhau, bởi đó là mục đích con người luôn vươn tới, còn là quà tặng cho những ai biết “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương” trọn vẹn sẻ chia từng việc làm thiết thực nhất.
       Phải chăng đó là tiếng nói chân tình xuất phát tấm lòng nhân hậu từ những người thân trong gia đình nhắc nhở con cháu “xóm mình còn nhiều người già bệnh tật, neo đơn, khó khổ…”, từ bạn bè và cả trên phương diện truyền hình, truyền thanh,… đưa tin về thiên tai lũ lụt kéo dài kết hợp với triều cường, nước ở cửa sông đã không thoát được nên lại dâng cao hết đợt này đến đợt khác!... Đau lắm khúc ruột Miền Trung bởi khó tránh khỏi cơn lụt tràn ngập ruộng đồng, nhà cửa, kéo theo những mất mát thiệt hại người và tài sản. Đâu phải bây giờ, xa xưa thời Vua Hùng đã có truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh kia!... Việc trị thủy ngày ấy và phòng chống bão lụt hôm nay là vấn đề không chỉ cấp bách mà lâu dài của đất nước mình.
       Vậy là… người trong một nhà, một xóm xúm sít mỗi khi “tối lửa tắt đèn”. Vậy là… người trong một nước có cả nhiều nước thương nhau tự nguyện gom góp ít nhiều thông qua các hội đoàn thể, tôn giáo,… Lúc này, những suất cơm hộp còn ấm trên tay, những thùng mì tôm thơm giòn cùng những chai nước khoáng tinh khiết đã cứu đói kịp thời bằng phương tiện ca nô đến từng nhà ở những xóm thôn bị nước lụt vây bủa, cắt đứt giao thông nhiều ngày. Tiếp theo là những bao gạo trắng, những phong bì xanh của các nhóm Thiện nguyện đã đến tận tay người nhận không may gặp phải thiên tai bị cơ nhỡ ấy. Tình dân tộc gắn bó, lòng nhân ái được nhân lên. Đạo lí thương người như thể thương thân của dân tộc Việt Nam luôn được nảy mầm duy trì phát triển bền vững mọi lúc, mọi nơi. Đạo lí ấy hiền lành đức độ, hay nói đúng hơn là sự thiện tâm, vốn tích lũy bản chất con người, nên có sức cuốn hút và lan tỏa kết nối những trái tim cho ta trân trọng biết chừng nào.
      Những người con đi làm ăn xa nghe tin quê mình lũ lụt, đứng ngồi nào yên. Nhìn cảnh đường sá, nhà cửa, ruộng vườn ngập chìm trong bể nước, trải rộng khắp các huyện trong tỉnh nhà, những làng ven sông như Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Thuận có cả Phước Lộc cũng bị thiệt hại quá nhiều. Ngoài việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các gia đình sửa chữa căn hộ bị sập và xây cất lại để họ có chỗ ở ấm áp trong dịp Tết đến xuân về. Bà con vùng lũ trong tỉnh còn đón nhận tình yêu thương của các tổ chức nhân đạo, hội đồng hương Bình Định,… cứu trợ thêm tiền mặt, áo quần, mùng mền, lương thực và thực phẩm, sách vở bút mực cho học sinh,… làm sao mà kể hết.
        Chỉ tính trên địa bàn xã mình, những học sinh lớn lên từ ngôi trường Phước Lộc, như em Huỳnh Lê Thùy Tâm- quê thôn Phong Tấn, trưởng nhóm Thiện Tâm, với khẩu hiệu “Chung tay hướng về khúc ruột miền Trung”, kịp thời trao quà cho bà con vũng lũ ở hai xã Phước Thuận và Phước Lộc. Nhớ hôm ấy ông Hà Ngọc Anh, Phó trưởng ban Dân vận Trung ương có về dự. Như em Nguyễn Lâm Nhi Thùy gởi về hai ngàn quyển vở trắng dày đẹp cho học sinh ở thôn Vinh Thạnh 2 và trường THCS Phước Lộc, vì cứ lo sách vở ngấm phù sa thì tụi nhỏ bỏ học chị ạ, em nhắn tin với tôi như vậy!...
       Lại có cuộc gọi: “- Alo, con chào cô, con là Nhã, Nguyễn Thị Thanh Nhã, học trò của cô đây!... Chúng con mang về 100 cái balo đựng sách vở tặng cho HS trường THCS Phước Lộc, 100 cái mền biếu cho người cao tuổi khó khăn ở xã nhà mình. Cùng ba điểm Phước Hòa, Phước Thắng và Vân Canh!”. Rồi điều gì thôi thúc em lại có chuyến tặng quà thêm cho Vân Canh nữa, không là điểm dừng trên tuyến QL.19C của ngày hôm qua ở Canh Thuận,…  Có thể khi hay tin Thanh Nhã có mặt nơi đây, sau một tiếng đồng hồ, thầy Hiệu trưởng Trần Văn Tho- người gắn bó 27 năm với học sinh miền núi Vân Canh đến gặp em tại Canh Thuận bộc bạch nguyện vọng “Thương các cháu học sinh ở miền núi lắm, Thanh Nhã cứ đi lên đấy cho biết!...”. Có thể địa chỉ ấy mà trước đấy một ngày, mình đã gợi ý khi Nhã chở hàng về (nhưng chưa có sự chọn lựa, vì còn tùy thuộc vào những người bạn đang công tác ở Vân Canh). Có thể bên cạnh là Từ Khang, người bạn đời chung tay luôn đồng hành bên em. Có thể khi hay tin em sẽ vượt Cổng Trời, ngoài một số bạn gởi quà trước, giờ thêm một người bạn thân nữa gởi tặng năm triệu đồng. Có thể bạn Thúy Vân cùng lớp ngày nào ở quê nhà Phước Lộc đã hỗ trợ phương tiện vận chuyển hàng hóa và đi lại… Và điều gì Thanh Nhã không chùng bước khi trái tim em đã quyết định cho chuyến tặng quà phát sinh này.
                                 (Dốc Cổng Trời, Canh Liên  Vân Canh
                                    Từ Khang và Thanh Nhã đứng giữa)

        Ngồi trên xe, mới nghe Thanh Nhã sẻ chia con đường đến Mèo Vạc ở Hà Giang đèo dốc nhỏ hơn ở đây, trời lạnh con mặc mấy lớp áo cứ run, thấy các cháu nhỏ chỉ độc có chiếc áo mỏng trên người, chân tay tím tái vậy đó cô!... Thì ra… tôi mới biết vì sao Thanh Nhã dành những bộ áo quần của người bạn gởi, tặng cho các cháu mầm non và tiểu học ở Canh Liên này, còn tỉ mỉ ướm thử bên ngoài có vừa cho từng cháu nữa cơ!... Nhìn các cháu hớn hở thỏa thích tung những chiếc ba lô lên cao giữa sân trường thể như tuổi thơ rộn rã ngày nào của chúng ta ùa về. Bỗng chốc nắng ấm trở lại con đường như một dãi lụa bạc vắt ngang giữa núi đồi xanh biếc.
                                  (Thanh Nhã đang phát và cho các cháu)

        Và quanh mình còn biết bao những cặp đôi Từ Khang- Thanh Nhã khác nữa, mãi là những hạt giống nằm trong lòng đất, biết tự nảy mầm và vươn lên làm nên những cánh rừng đầu nguồn, bên cạnh Suối Mây thơ mộng luôn có người đồng bào chở che, gìn giữ. Chúng ta sẽ yên tâm “Rừng vàng” đất nước ấm áp bởi có tiếng nói cười của bà con nơi đây!... Vẫn Thanh Nhã ngày nào từng đạt vương miện Nữ sinh duyên dáng của trường THPT Tuy Phước 1… giờ còn nén xúc động khi tâm sự là còn nợ Canh Liên nữa đấy cô!... Phải chăng cái rét miền núi cao làm nhức nhói trái tim người khi biết bà Đinh Thị Hương bị bệnh nặng điều trị không khỏi nay bị liệt nằm một chỗ, hay lúc bước lên cầu thang vào nhà sàn ngồi cạnh nghe bà Đinh Thị Liên bị bệnh bướu cổ không có tiền phẫu thuật dè dặt nói không có chiếc chiếu trải mời khách ngồi !,... Các mế đều ở làng Hà Giao, Canh Liên mình. Chút phần quà là tờ bạc mệnh giá lớn nhất thì có là bao!...

(Từ trái sang: Từ Khang, thầy Trần Văn Tho, Thanh Nhã và các thầy cô trường Tiểu học Canh Liên)

         Quý lắm chữ tâm là bức thông điệp không lời và những cách sẻ chia “một miếng khi đói ”, cưu mang trong đời  thường luôn song hành nhau chân tình, ấn tượng nhất./.

                                                                               10.01.2017/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

CON NƯỚC NGẬM PHÙ SA... thơ Nguyễn Thị Phụng

CON NƯỚC NGẬM PHÙ SA...


Anh có về lội nước lụt ngày xưa
Đóng bè chuối trượt chân sào ngụp lặn
Khóc cười hồn nhiên nhường em phần thắng
Mộng trăng rằm trong đôi mắt tuổi thơ…

Nhớ lắm nào nguôi nước lụt bốn bề
Mẹ cứ lo bữa cơm chiều vắng chợ
Còn chúng mình hò reo như được thể
Mênh mang hòa con nước ngậm phù sa

Mùa lại về tầm tã những cơn mưa
Mái tranh dột cha chắn che vất vả
Mẹ thở ngắn, nuốt dài đêm như thế
Cuộc đời thường có thiếu trước đủ sau…

Tháng bảy lại về buốt những hàng cau
Từng quả rụng xuýt xoa rưng rức
Bóng sáng, bóng chiều cổ tích
Bè chuối xanh… nhẵn thín nổi trôi chìm?!…
                                   09.12.2011/ NTP

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

TRĂNG XƯA AI TẠC NÊN RẰM (Đọc Đi giữa trời xuân, tập thơ Thu Hồng-


TRĂNG XƯA AI TẠC NÊN RẰM- Nguyễn Thị Phụng.
(Đọc Đi giữa trời xuân, tập thơ Thu Hồng- NXB Hội Nhà văn, 2016)


                         
           Xin được mở đầu bằng bốn câu thơ Thu Hồng:
                “Góp mỗi ngày hạnh phúc hoan ca
                 Gieo hạt vàng cải ngồng xanh lá
                 Giọt nắng nghiêng hoa thơm cỏ lạ
                 Xuân tươi nguyên rạng rỡ mầm xanh
”…
          Phải chăng đây chính là ngày mới, ngày mới tươi nguyên thường tìm thấy trong thơ của chị. Không có gì lạ ở một nhà giáo Thu Hồng, song hành với sáng tác truyện ngắn đã xuất bản ba tập, thì Đi giữa trời xuân (NXB. HNV, 2016) cũng là tập thơ thứ ba sau Tự tình sông và Giấu mình hoa cỏ. Đây không còn là sự thử nghiệm, mà chính là cái tình với nghiệp văn thơ lỡ vay phải trả. Nếu lúc này đặt lên bàn cân, tôi chưa biết nghiêng về bên nào. Ở mỗi bài trong tập là một bức tranh thi vị luôn có con người hiện hữu, giữa một không gian xanh đầy nắng ấm và hoa vàng.
        Như ta đã biết, viết văn- làm thơ không đơn giản, một khi chưa va vấp với thực tế quanh mình. Viết văn- làm thơ không đơn giản, một khi tâm hồn chưa tĩnh lặng, một khi trái tim chưa thực sự sục sôi, chưa thôi thúc kết nối lời yêu thương náo nức sắc hương cuộc đời. Nhưng qua Đi giữa trời xuân, cho ta thấy phần nào chị có được những điều ấy, sống và viết là sẻ chia. Đã là thơ phải luôn có độ nén, xúc tích, mà với chị sự trải nghiệm thường ngày cứ tự do tuôn theo con chữ, không gò bó ở những bài lục bát, lại càng không khắt khe ở thể thất ngôn bát cú, có tiếc lắm không:
               “Cỏ khuya lau lách lời tình tự
                 Bãi bồi chùng chình khúc đắm say
                 Đêm hạ gởi niềm yêu cho gió
                 Ngày đông trao nắng ấm cùng mây
”
                                                         (Mê khúc).
        Từ Mê khúc* đất trời trải vào lòng người bắt gặp Mưa là nỗi nhớ*:“ Giọt thu rơi buốt giá/ Vết tình yêu mờ xa/ Đành thôi, chiều thay áo/ Khát cháy cơn mưa rào”. Cũng dễ thông cảm chút lãng đãng của thi sĩ, để khi quay về thực tại, cái tình ấy thật gần gũi thân thương:
                 “Trời Yên biêng biếc màu năm tháng
                   Đất Phú nõn nà sắc vẹn nguyên
”
                                                (Tháp Nhạn duyên năm tháng).
      Sống trên Đất Phú- Trời Yên, nhà giáo Thu Hồng luôn trân trọng cái tình công dân dành cho đất nước:
                “Chiến chinh khói súng lùi dĩ vãng
                 Mái tóc hoa râm dạ chẳng mờ
”
                                               (Mùa xuân ấm áp).
       Và dường như với chị, sự hoài niệm Miền Ký ức* quê mẹ đâu nguôi: “Nhơn Hưng- không ồn ào phố xá/…/ Nơi cắt rốn chôn nhau ân nghĩa dãi dề”. Vậy mà tuổi thơ sao đành cam chịu … “đổ nát hoang tàn/…/ Đồn bốt lưỡi lê kẻ thù manh động/…”(Tự hào quê mẹ) ấy. Tất cả lùi vào dĩ vãng, còn lại vẹn nguyên tình mẫu tử: “Gậy trúc mẹ lên thềm”(Nhớ mẹ). Chiếc “gậy trúc” là điểm tựa nâng bước chân người, điểm sáng trong câu thơ nhắc nhở đến cốt cách thanh cao bậc hiền nhân quân tử, dẫu trong điều kiện nào, chúng ta không nên đánh mất mình, khẳng khái bản lĩnh hơn. Cho đến khi được làm mẹ hạnh phúc biết bao, rồi lại trớ trêu hơn sự oan nghiệt của bệnh tật neo vào hình hài vốn có từ một tình yêu ở tuổi thanh xuân của chị, để giờ đây lắng nghe nỗi niềm chăm chút động viên con:
                    “Sáu năm rồi đôi chân con đau đớn
                     Người bệnh tâm không bệnh mới hay
                     Hãy vững lòng mỗi sớm mai thức dậy
                     Chuỗi ngày dài luôn có mẹ bên con…
”
          Biết nói gì hơn sự tuần hoàn tự nhiên làm sao níu kéo lại, một khi: “ Mẹ không thể như cây tùng cây bách”, cũng không thể “sống đời” bên con được, chân chất dành lời gan ruột:
                     Hãy tự mình làm nên điều kì diệu
                     Mắt con sẽ thay chân đi về phía mặt trời
”
                                                      (Nói với con).
         Nói sao hết tấm lòng nhà thơ Thu Hồng hòa cùng dòng chảy cuộc đời làm nên trang sách Đi giữa trời xuân, dẫu như có “Mây vần vũ bên kia nương/ Sấm chớp vang rền tứ phía”(Chim đầu đàn vỗ cánh) thì hãy chung sức mở rộng vòng tay Thêm những tấm lòng*: “Dấn thân gian khó/ Sức xuân lan tỏa/ Nắng mới tươi màu rực rỡ/…/ Phía trước mặt là con đường mới/ Không thể đi mãi những lối mòn”. Bởi trăng xưa ai tạc nên rằm, thơ cũng vậy, khó thay! ./.
_______________

 *Tên những bài thơ trong tập.
                                                            Bình Định, 24.11.2016/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

PHÍA SAU MỘT ĐẦU ĐỀ ( Đọc Bãi vàng Đá quý Trầm hương”, tập truyện của Nguyễn Trí)


PHÍA SAU MỘT ĐẦU ĐỀ 
         
(Đọc Bãi vàng Đá quý Trầm hương”, tập truyện của Nguyễn Trí, NXB Trẻ, 2014)
         Tôi thì không bao giờ thấy người sang bắt quàng làm họ. Thân phận tự lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ cứ chân chất ruộng đồng làng quê. Ấy vậy mà lộc cho thì hưởng, bạn bè móc nối xích lại bên nhau, nâng tầm mở rộng giao lưu gặp nhà thơ này, nhà văn nọ làm sao mà thuộc lòng hết tuổi tên sáng chói trên văn đàn. Biết mình gốc gác nhặt rác bán mua “Những người khốn khổ”(Vichto Huygô) một thời tuổi thơ đã qua, còn lí lịch trích ngang gã “đồ tể” ấy lần đầu cho tui cảm xúc: “Tỉnh mê/ gỡ rối đi/ nghen. Này/ đây chiếc lược/ trắng đen đã từng”(Chải đời), rồi hai năm sau có dịp về lại nơi chôn nhau cắt rốn, một mình gã bắt xe đến Lí môn Vinh Thạnh tặng tui “Bãi vàng Đá quý Trầm hương”(NXB Trẻ, 2014) đính kèm chữ kí Nguyễn Trí KHÙNG (chữ KHÙNG, đóng dấu đỏ hẳn hoi). Để khi gấp tập truyện tái bản lần hai, từ phía sau đầu đề ấy, cho tui yêu cái KHÙNG trải qua chín mười nghề gã tôi luyện nên “nghiệp” viết chín hơn.
      Ngay đầu đề Bãi vàng Đá quý Trầm hương cứ vơi đầy vàng mười, đá quý,… thường được con người chắt chiu giấu trong tủ kín khi cần đem sử dụng. Ở đây, con người đổ xô vào cuộc mưu sinh thử thách, tồn tại từ trang đời nhọc nhằn tập trung vào trang văn anh lại là sự hấp dẫn làm nên giá trị tác phẩm. Tập truyện còn in dấu mốc thăng trầm thời cuộc thoáng qua ngòi bút Nguyễn Trí cứ ngồn ngộn phơi trần hiện thực không ngoa một chút nào, bởi tính theo thời điểm những năm bảy tư, chuyện xa lắm không quá phạm vi mười lăm cây số quanh mình cứ lồ lộ trước mắt, cũng dễ đồng cảm với nỗi ám ảnh ghê rợn ở nhà văn tuổi mười tám lúc bấy giờ.
      Quả đúng “Tác phẩm của Nguyễn Trí gây hấp dẫn bằng chất sống thực và sự từng trải” trong lời giới thiệu của  nhà văn Hồ Anh Thái, theo sau là mười sáu truyện ngắn. Có lẽ người viết bài này không muốn đi theo sự trình tự mà cứ chận khúc giữa truyện thể như móc ruột ra chua chát cho thân phận “Minh Tàn” nhẫn nha kể, bởi đó không còn là nỗi đau riêng một góc nhỏ cá nhân ai,  bởi đó là sự tủi cực lẽ ra con người phải giấu kín, bởi đó là câu Kiều văn học sợ bị mất đi cũng kịp thời củng cố lại: “Đời cũng lạ, ai có tên cũng muốn sửa sang cho đẹp, Văn Dũng sửa thành Minh Dũng, Thị Hằng sửa thành Minh Hằng… còn đây tự cho mình là Tàn, kì cục không? Có đứa cắc cớ hỏi: - Tàng là khùng khùng đó hả? – Bậy mày. Tàn là tàn tạ dung nhan đó con, không phải “Tàng tàng chén cúc dở say” đâu. Ai da… Đen thùi lùi, ốm nhách, chạy xe ba bánh chở xà bần mà cũng Kiều này Kiều nọ. Bụi đường và bụi đời phá ra cười: - Lượm đâu đó vậy bố già?- Sao lại lượm con trai? Đọc mới biết chứ. Nói xong tóc muối tiêu xưng Minh Tàn ngâm nga vài câu trong Kiều. Cả bốn thằng tre trẻ lắng tai nghe…” Diễn biến truyện cứ dần lôi cuốn bốn thằng trẻ từ cái chân Minh Tàn: “- Trẻ thì ai cũng có tí lầm lỡ, nhưng tao vì khổ vì thời cuộc. Còn tụi mày sướng quá sinh hư.”, rồi từ chuyện đua ngựa chuyển sang đến chuyện phá hàng rào vác trộm hàng: “Một kiện Rasong C cả trăm thùng, mỗi thùng mười hai hộp, vợ con lính, cả mấy tay lính đang dưỡng quân cũng thi nhau lấy sạch nhách…” để rồi ăn cắp quen tay mà cái chân bị gãy từ những phát súng trong đồn Mỹ bắn ra. Nghe mà ngậm ngùi: “… Hồi đó tao còn nhỏ, đâu phải lo chuyện cơm áo, thất học suốt ngày lêu lổng, cứ thấy có ăn là nhào vô thôi. Nhưng cũng nhờ phát đạn đó mà ông già tao sợ có ngày tao bị bể gáo nên cấp tốc gởi tao về bà ngoại rồi tao mới được đi học mấy chữ. Đời mấy ai biết được chữ ngờ, hồi đó tao mộng làm thầy giáo đó nghe”. Đã thành dấu ấn về một “Kỷ niệm”* cho đến hết đời ước mơ mẫu mực thanh cao ấy chẳng hề vói tới.
       Có thể nói chỉ vài trang văn, Nguyễn Trí đã phản ánh một hiện thực miền Nam trước năm bảy lăm thế kỉ XX đầy biến động ngột ngạt, ai đã từng chứng kiến mới thấu được tính khách quan của nhà văn: “Thiên hạ lo tên bay đạn lạc là một, sợ bắt lính là hai. Hôm nay nghe nói đánh nhau ở đó ở kia, bị thất trận, lính tráng kéo về Thạnh Phú nổ súng làm càn. Ăn nhậu xong tính tiền bằng lựu đạn. Phó dân sợ lính Việt Nam Cộng hòa, sợ luôn ông Việt Cộng…” Cho đến chuyện “Cơm không phải lo, nơi ở là lán trại bằng nhà tiền chế của ông đồng minh Mỹ cung cấp… Con lính ăn xong nghễu nghện ngoài đường, tụ tập kiếm tiền bằng mọi cách… buôn bán xì ke công khai… và Nhà chứa hẳn hoi, có cả cờ bạc đủ mọi môn chơi từ tứ sắc đến xóc đĩa”. Cho đến chuyện “Rác Mỹ hả?... kẻ thầu rác mà dựng nên nhà lầu… Người bản xứ làm trong nhà bếp Mỹ, nhét dầu ô liu…, rượu whisky,…” Rồi theo mạch kể “ Chả là lính Mỹ không kém bọn man ri, chúng canh cho mấy bụi đời lên xe rồi phóng hết tốc độ, đang chạy thắng cái reeéc. Không phòng bị là gãy tay xụi chân. Nhưng sao Mỹ chơi vậy?... Có chuyện hết, kì đó dân bay rác ném xuống một thùng SP, loại thùng đựng hàng cao cấp dành cho sĩ quan Mỹ, khi mở lòi ra một xác con gái khỏa thân… Lớn chuyện dân biểu tình ầm ĩ”. Ê chề đầy rẫy những tủi nhục, những phẫn nộ tích lũy nén dần thành ánh sáng chân lí mở ra “Cả nhà lên xe, chưa tới Sài Gòn đã nghe quân Giải phóng cắm cờ trên Dinh Độc lập… Giải phóng về, cả Phú Thạnh hò reo bước vào một kỉ nguyên mới. Xì ke, ma túy, du thủ du thực bỗng nhiên sạch bách. Thật sự sạch…. Nạn mại dâm biệt dạng…” Phải chăng đây chính là sức mạnh niềm tin, của độc lập tự do dân tộc. Những tháng ngày tiếp theo nữa về một vùng quê đất võ “Với một triệu binh lính bỏ súng về dân sự. Một đất nước nông nghiệp đã bị chiến tranh làm hoang hóa ruộng đồng. Tất cả được phục hồi bằng đôi vai. Cái thiếu thốn, thậm chí đói là tất yếu. Mấy tay có tí đỉnh chữ nghĩa luận rằng: - Tầm cỡ Nga, Mỹ, Đức, Ý, Nhật sau đệ nhị thế chiến còn đói, huống chi dân mình… Thiếu thốn nên gian khó và chính nó đã làm đạo đức từ suy đến gần như sụp xuống hố thẳm…” Nhưng cốt lõi ở trong “Ngọc Liên Thành”* là đọ tài, đọ sức thắng thua trên sàn đài bất ngờ cơ hội “Ngọc tung hết lực một ống quyển vô bộ sườn…”. Khẳng định “Tiền và đam mê cũng không nổi chữ Đức trong võ” điều gì Ngọc thua kí lại thắng được Lân nặng cân, bởi Lân lơi lỏng “tiếng” tình nên đã bị trả giá quá đắt.
      Cái đức chính là nhân tâm được lan tỏa trong tất cả truyện ngắn của nhà văn, không chỉ là giá trị tác phẩm mà bất kì trong hoàn cảnh nào đều vực con người bị chới với khi rơi vào cạm tình của kẻ Hảo chuyên học nghề thợ “bạc”, nếu không có Dũng trong đoạn kết: “Dũng đi làm về nựng con và hôn vợ. / Anh có biết không? / Có. / Biết gì? / Biết là vợ sợ mình đau lòng nên không dám nói thật.” (Có biết không)*. Có một Dũng trong Chuyện cũ từ rừng* sẻ chia: “Gặp riêng tao, nó thú thật tội lỗi và xin xỏ đủ thứ… Tao chỉ cười: …  - Anh có dám nói thật, là anh đã dùng quyền lực, lợi dụng sự cùng đường của má nó không?...”. Còn với “Cô ấy cũng choáng vì không ngờ tao đã biết và đã tha thứ cho cô ấy suốt mấy chục năm qua. Nửa đêm vợ già ôm tao nghẹn ngào xin lỗi vì đã giấu diếm. Tao bảo: - Gặp anh, anh cũng giấu. Thôi, bỏ đi.” Cái nôi nghĩa vợ chồng, tình cha con trong mái ấm gia đình luôn được duy trì gìn giữ.
       Có thể trách cứ hay tha thứ cho một Quân từ tuổi vị thành niên xốc nổi đến những tháng ngày làm công nhân “Cuối cùng Quân phát giác ra anh em trong xưởng cũng là nạn nhân của hai thằng trực tiếp chỉ huy”, muốn bảo vệ quyền lợi là chính đáng của vài cá nhân chống chọi bằng bạo lực lại dễ rơi vào vi phạm pháp luật, nếu người mẹ không xuất hiện kịp thời can ngăn (Nhờ nước mắt)*. Vẻ đẹp người bà dành dụm giúp đỡ cháu lúc khốn khó để vẹn toàn chữ tín là nếp nhà xưa nay khi đọc đến Vô thường*.
       Nhưng cái đức hạnh trời dành cho phái nữ, được ăn học như Thủy cũng bị mất đi khi đồng tiền chế ngự đành quên ơn trong Đoạn trường* đối lập với Tư Nhà, chị có chồng lại vô sinh, khi chia tay chẳng sòng phẳng làm gì “Tư Nhà thở dài: - Thôi kệ. Ảnh cũng khổ lắm anh Ba”, tha thứ và vun đắp yêu thương nên họ luôn sống cho người khác, sự chắp nối lần hai lo con chồng ăn học, rồi cũng đành phủi tay trở về với mái nhà rách nát là vậy ư!... Có chuyện như Nín lặng khóc* thì phải nín lặng khóc thôi!... Người ta bảo bụng đàn bà dạ con nít, điều gì dụ dỗ họ, có chăng là bản năng của một phụ nữ đang độ hồi xuân bên cạnh người chồng “Rượu đã hủy hoại Tư Địa không ra hồn người nữa. Khỏng khoèo, cặp giò không khác hai cái ống tre trong cái quần đùi lụng thụng, xương sườn xương sống lô nhô. Đó là hình ảnh mỗi buổi sáng Tư Địa từ đìa tôm đi ra quán mua rượu”.
      Riêng Ở thành phố*, người chạy xe ôm như ông Hưng cám cảnh tấm lòng Trâm, động viên cô gái: “Ừ, ừ - ông vuốt tóc cô gái – Ba sẽ đi thăm con, vào trại cố học được cái nghề làm lại”. Vì sao lại có chuyện “Trại viên cũ quay lại đông lắm”* đã được nhà văn trần thuật nguyên nhân từ trong gia đình hay lối sống buông thả sa vào cạm bẫy hay không biết tự trách mình.
        Cái đức mở lòng nhân từ cho người cùng cảnh ngộ  lúc cơ nhỡ xích lại bên nhau mộc mạc làm sao: “Cô thiệt là… Đã kẹt còn phơ phào. Cứ lấy giải quyết cái trước mắt. Tao cho mượn, kẹt là tao đòi, có bây phải trả, tao đâu có cho không, tiền tao là tiền trèo đèo lội suối, đâu có lật đít ông Phật mà lấy, hiểu chưa?”. Cái đức tha thứ kẻ quên nghĩa tham tiền lừa bạn, thì những ấm ức oán thù được xóa đi khi biết hoàn cảnh Sáu Râu bí mật nuốt viên đá quý cũng được mở ra, đến lúc tự giác nhận sai lầm. Đã thế còn giữ dùm thể diện bạn, “… nghe bà bầu than gần tới ngày sinh mà chả có cục than cái tả. Còn trăm ngàn bạc, Chí Mỹ cũng móc ra: -…, thím cầm sắm chuyến vượt cạn. Vài bữa có tiền, anh và Râu kẽm lo cho” Đã vậy, còn chia phần tiền viên đá quý đã bán cho Sáu Râu (Đá quý). Còn nữa: “– Bà mẹ ơi – Kha Li kêu lên – mày sộp vậy, giàu có dữ a? – Giàu khỉ mẹ gì, có thì chia nhau mà sống, chết có mang theo được đâu ông”(Cầm giùm đi*). Nhưng lắm kẻ “đâu có ai dư mà mượn. Mấy tay nhà gạch có tiền để làm từ thiện tìm một chỗ ở Nát bàn, đưa cho dân khố rách khó đòi lắm…”(Vô thường).
         Ở Trầm hương*, phần đầu truyện, với cách kể tự vấn đáp rành mạch lôi cuốn người đọc nhận ra chân lí: “… đi tìm trầm ai cũng ngộ ra, chả có ai là đồ bỏ, chỉ có những kẻ không tìm ra được đường đi của mình, hay bước nhầm vào vũng tối rồi không rút ra được.” Qua cuộc tìm trầm ta mới hiểu thêm giữa núi rừng thâm u, tĩnh mịch đâu chỉ xạc xào lá rụng, suối ca, chim hót, gọi nhau tìm đàn của muôn thú lạc bầy kiếm ăn, mà con người ngự trị nơi đây đủ mọi thành phần, giới tính,  trong cuộc khai thác tự do ăn chia sòng phẳng của dân giang hồ. Thì đầy rẫy từ những những lá bài gian lận, từ những cách mua bán bóp chẹt, có cả những cơn sốt rét rừng, có cả cái chết bị rắn cắn, thú vồ bất ngờ đến việc như bảo vệ chính mình thì bàn tay con người buột lòng nhuốm máu cũng chỉ vì đồng tiền: “… nó mua được tất cả, ngăn được tất cả các dòng chảy. Cả dòng chảy của nước mắt.”
        Nước mắt đau thương có lẽ nhiều hơn bởi ham muốn “… lôi cho bằng được cái quý giá trong lòng mẹ trái đất vào lòng mình”(Bãi vàng*) rồi chia năm xẻ bảy thêm phần cho tình nương. Hay đồng Tiền rừng* qua “khai thác” gỗ quý, lồ ô, hái ươi, vắt mật ong,… kể cả cắt xén lon gạo, miếng thịt, viên thuốc,… của bọn cướp ngày. Để rồi “Khi túi tham của con người bị cao xanh xé đáy, nó lọt thỏm vào hư vô nhẹ thoảng như mây trôi nước chảy. Họa đời sống trùng trùng vây bủa. Nó bắt đầu bằng cái chết…”. Nhưng không thể đánh mất được cái đức cần cù của người lương thiện “Như bọn mình, tuy kiếm đồng bạc khó, nhưng ngủ ngon, lương tâm thanh thản. Làm nhiều ăn vừa đủ, làm ít thì bớt nhậu đi một chút, năng nhặt sẽ chặt bị, đại phú do thiên, tiểu phú do cần…”.
        Nước mắt hạnh phúc có lẽ phải Giã từ vàng* mới cho người với người  bộc bạch trải lòng “Có lẽ tâm hồn anh đã chai sạn vì di chuyển, vì chiến tranh. Như cái khổ vậy, khi ta nhuốm nhiều quá, nó hóa tầm thường. Đối diện với đá tâm hồn ta đương nhiên lạnh.”. Cái lạnh toát ra từ “chợ đầu người” lộ thiên, đến hậu  chiến tranh dưới hầm sâu khai thác đá vàng trộn lẫn xác người bằng câu cầu kinh bồ tát cứu rỗi. Chấm hết đời người.
        Với những nhân vật của Nguyễn Trí, khi rê ra chén tạc chén thù giải mỏi, giải sầu mong để quên đi nỗi nhọc nhằn vất vả là đằng sau câu chuyện càng thêm thuyết phục. Mượn cung bậc tiếng đàn, câu thơ tấu khúc lúc thảnh thơi là nhắc nhở đánh thức nâng cao giá trị đời sống tinh thần ở mọi lúc mọi nơi. Bãi vàng Đá quý Trầm hương tuy trăn trở vật lộn thiên về vật chất thường ngày cá nhân - cộng đồng có sự thỏa thuận làm ăn không văn bản, nhưng ở đó tồn tại cái đức tiềm ẩn đã được khơi gợi nhân lên. Cái đức là sự thánh thiện con người nằm trong cái đẹp. Cái đẹp thật chín trong văn Nguyễn Trí từ mạch truyện được khai thác, thể như đang xích lại bên nghe anh tường tận những trải nghiệm về thân phận cuộc đời mỗi người nơi đây./.                                   

                                                                           Nguyễn Thị Phụng
_____________
* Tên truyện ngắn