Thứ Ba, 27 tháng 6, 2017

HƯƠNG THẢO THẤT

Kỉ niệm Ngày Gia đình Việt Nam 28.6.2017.
Một chút sẻ chia

HƯƠNG THẢO THẤT 
Không hiểu sao cứ sau tiếng trống lúa lân, múa rồng, múa phượng, … vui chơi Trung Thu tuổi thơ là tôi lại nhớ lắm đôi tay những người mẹ tảo tần sớm hôm vất vả. Cùng cái mong manh hơi sương thấm đẫm chiếc áo sờn vai mẹ, còn mây trời kia theo đêm ngày hòa vào mái tóc xinh xắn thuở nào giờ lất phất trước nếp nhăn nheo trên khuôn mặt mẹ cằn cỗi, để thay vào đó là nụ cười trong trẻo hồn nhiên, là tiếng nói yêu thương chân tình, là ánh mắt tự tin mở ra khoảng trời hương sắc. Hay đó là lòng biết ơn đấng sinh thành dưỡng dục cho ta nên người trong câu chuyện chú Đào Tụng Phi (cháu gọi Đào Tấn là ông cố) kể về những trăn trở của Cụ trước khi mất tưởng nhớ mẹ: “Năm mươi mốt tuổi biết chi chưa/ Ngoảnh lại đầu râu cũng đã vừa/ Mẹ già tám kỉ đang trông ngóng/ Cội tùng khóm trúc vẫn còn lưa ”(Đào Tấn).

Đó là những năm 1905, sau khi Cụ về nghỉ hưu ở làng quê Vinh Thạnh, trong ngôi nhà xây nhưng bên trên vẫn lợp bằng tranh và có biển Hương Thảo Thất treo trước mặt nhà. Hai trụ cổng quay về hướng đông nhìn thẳng ra phía trước là ngọn núi Hoàng Mai. Và Cụ chọn nơi ấy là chỗ nằm vĩnh viễn cho mình: Lên đỉnh Mai sơn tìm huyệt mộ/ Đứng trên tản đá ngậm thinh cười/ Núi Mai này gửi xương Mai nhỉ/ Ước nguyện hồn ta hóa đóa mai./ (Đào Tấn- Đào Nhữ Tuyên dịch). Nhưng với nỗi trăn trở băn khoăn chưa làm được đó là phần mộ mẹ Cụ là Hà Thị Lang, lúc sinh thời theo con ra Huế, nên khi mất đã được chôn cất trên núi cao tại thôn La Chữ (Thừa Thiên – Huế). Giờ đây đến cuối đời, muốn hài cốt mẹ cũng nằm bên mình ở núi Hoàng Mai. Cuộc di dời mộ mẹ được đặt ra theo kế hoạch, cho làm một cái cổng tạm bằng tre gắn lá dừa, lá cây đùng đình, có cả sắc hương hoa trắng như Huệ, Ngọc Anh, Chi Tử,… hai bên trụ cổng Cụ ghi hai câu: “Suy nhi đổng khốc di tiền mệnh/ Từ mẫu anh linh phản cố sơn”.(Nay phần mộ bà Hà Thị Lang cũng được chú Đào Tụng Phi cho di dời tiếp từ núi Hoàng Mai về phần đất thổ mộ của gia đình tại thôn Vinh Thạnh 2, xã Phước Lộc). Triều đình thời vua Thành Thái bấy giờ hay tin có nhã ý xây kiên cố cổng làng đón hài cốt mẹ Cụ trở về cho trang trọng hơn. Nhưng Cụ chẳng muốn phô trương, khảng khái từ chối. 

Đến rằm tháng bảy năm 1907, Đào Tấn mất, kéo dài mười năm sau thời vua Khải Định (1918) cho xây cổng làng Vinh Thạnh, trên khung cổng có ghi “Cửa làng Vinh Thạnh”, dân làng thường gọi là “Cổng lí môn” hay “Cửa lí môn”. Như vậy lí ở đây chính là làng. Hoa văn hai bên trụ cổng là cội mai già nở hoa tinh khiết, khóm trúc thanh cao tình phụ tử, tình huynh đệ. Việc xây cổng làng với mục đích nhằm suy tôn người con hiếu thảo cha mẹ, một vị quan thanh liêm chính trực, và hơn nữa cả năm người con trai của Cụ, trong đó có bốn vị đã đỗ cử nhân (Đào Bá Quát(con cháu ở Phước Lộc), Đào Thụy Thạch (con cháu ở Sài Gòn), Đào Nhữ Thuần(con cháu ở Cà Mau, có cháu ở Hà Nội), Đào Nhữ Tuyên (con cháu ở tại tự đường họ Đào quê nhà) và Đào Nhữ Tiếu (con cháu ở Long Khánh) chỉ đỗ tú tài. Chính vì vậy mà trên hai bên cổng làng có biểu tượng bốn quả cầu tròn nằm dưới đỡ quả cầu tròn lớn ở phía trên phải chăng nhằm ngợi ca một gia đình hiếu thảo hiền tài.
Từ Hương ThảoThất ấm áp là cái nôi tích tụ những tinh anh đất nước đáng được truyền tụng ngợi ca. Bà Hà Thị Lang với pháp danh Chiêu Liên, cáo tặng Tùng Nhị phẩm đoan nhân, bà là phụ nữ nông thôn Việt Nam được xếp vào hàng thứ nhất đức hạnh đã có người con Đào Đăng Tấn (Đào Tấn là bậc hiền tài đã gìn giữ duy trì nguyên khí quốc gia cho đến ngày hôm nay).
Hương Thảo Thất của Đào Tấn năm nào theo nắng mưa chỉ còn lại nền nhà dưới tán cây nhãn tiêu trăm năm từ Huế đưa về trồng cũng còn lại gốc cành, Hương Thảo Thất đi vào trong tâm hồn những tấm lòng hiếu học. Giờ đây không chỉ ở làng Vinh Thạnh mà cả xã Phước Lộc đã có nhiều Hương Thảo Thất ra đời là những tiến sĩ, những thạc sĩ, kĩ sư, cử nhân,… với những ngành nghề khác nhau, mãi mãi là cầu nối xưa và nay, là lòng biết ơn trái tim những người mẹ giàu lòng nhân từ suốt đời vun vén điểm tô sắc hương cho con cháu mình tiếp bước.

27.9.2012/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2017

Vì sao có HƯƠNG THẢO THẤT (NXB, Hội Nhà văn)- Nguyễn Thị Phụng.

Vì sao có HƯƠNG THẢO THẤT (NXB, Hội Nhà văn 2017)- Nguyễn Thị Phụng.
Rằm 7. 2017, kỉ niệm 110 năm ngày mất Danh nhân Văn hóa Đào Tấn. Người ông đáng kính, mà bà cố nội tôi gọi bằng chú ruột. Ông cố tôi họ Nguyễn, vậy là sau khi đỗ thứ 3/8 cử nhân khoa Ất Dậu (1885) Hàm Nghi thứ I Trường thi Bình Định, về làm rể họ Đào, được ông cao- Đào Đức Hanh, là anh cả Đào Tấn cắt phần đất cho con gái ở tại Lí môn Vinh Thạnh. Hiện gia tộc họ Nguyễn tui có thêm tại đây. Ngôi nhà tự đường họ Nguyễn giờ chị Trướng đang ở đấy các bạn ạ!
HƯƠNG THẢO THẤT có đến nhiều bài viết về Đào Tấn. Về Trịnh Công Sơn, về Xuân Diệu, về Vũ Ngọc Liễn, về Trương Tham, về người con Bình Định đã hi sinh nằm lại tại Nghĩa trang Trường Sơn, về Văn nghệ sĩ Bình Định, về con người Bình Định lao động, học tập và biết sẻ chia cùng đồng bào quê hương mình,... Thế đấy, cái tình tui gởi trọn vào HƯƠNG THẢO THẤT. Thật dễ thương như tui vậy!


Ngày mai 26.6.2017, sau khi nộp lưu chiểu cho NXB, tôi sẽ phát hành sách tại tư gia phunglimon. Theo giá bìa và mời cà phê Hương Đồng nội.


                                           10 tập đóng gói nộp lưu chiểu

                                          
                                         Sách in 500 bản dày 230 trang nè:

Lưu ý: 
1. Trong bài Hương thảo thất, mẹ của Đào Tấn là bà Hà Thị Lang (có tên trong gia phả họ Đào tại tự đường Đào Tấn), chứ không phải là Hà Thị Loan như có tin nhắn(27/6/2017) vào ĐT cá nhân tác giả. đã đọc
2. Bài Ơn thầy năm tháng dạy con, vở tuồng đầu tay của Đào Tấn là Tân dã đồn(Từ thứ quy tào). Sách đã in (Từ thức quy tào). Người viết chú thích nhầm lẫn. Hu....
Không sao tránh khỏi lỗi chính tả nữa. 
Cảm ơn sự đóng góp chân tình của bạn đọc.

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Đọc Ngọc trong sách, tập truyện ngắn của Nguyễn Huy

                   NGỌC TRONG ĐỜI
       (Đọc Ngọc trong sách, tập truyện ngắn của Nguyễn Huy- NXB HNV 2015 ) 
             Ngọc trong sách là tập truyện ngắn(Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2015) đầu tay của Nguyễn Huy ở độ tuổi ngoài 65. Với tựa đề Ngọc trong sách khác nào Mạnh Tử  thời Chiến quốc ở Trung Quốc đã từng trao đổi “ Tụng kì thi, độc kì thư, bất tri kì nhân khả hồ? Thị dĩ luận kì thế dã”( Ngâm ngợi thơ, đọc sách của ai, há không thể biết được con người của họ sao? Chính là lấy những cái đó để bàn về thời thế vậy).


           Ngẫm cho cùng thì hai mươi truyện ngắn Ngọc trong sách đã thể hiện rõ người viết giàu tâm huyết bởi ngắn gọn về dung lượng, cô đọng súc tích trong miêu tả có chiều sâu với những đặc điểm tâm lí cũng như diện mạo nhân vật, hầu hết những cốt truyện đều xoay quanh chủ đề về cuộc sống và cách nhìn nhận con người ở nhiều góc độ khác nhau trên cùng một bình diện: nhà văn trong nhà giáo. Chính vì vậy Ngọc trong sách của Nguyễn Huy đâu chỉ trong trang sách mà đã có: Ngọc trong đời rồi.
         Cuộc sống đa chiều nhiều vẻ luôn tồn tại gắn bó song hành giữa hai mặt đối lập bởi đó là bức tranh thời gian. Cái màu đêm và màu ngày là cơ hội cho sự sinh sôi nảy nở có thể trong một chừng mực nào đó, nhưng cũng có thể vượt trội quá tầm tay với. Đôi lúc phải bị vỡ òa dù cố nén nhưng không thể kìm hãm.  Đâu dễ gì khi con người bị rơi vào ngõ hẽm, thân phận tật nguyền về hình hài như cô gái bán vé số vẫn giữ một mực về lòng tự trọng, đánh thức cái nhìn thương hại của người khác (Chuyện nhỏ ở quán nhỏ). Hay sự nghịch lí trong vai diễn trên sân khấu và ngoài đời đã làm trăn trở cho nhân vật “tôi”: “Sân khấu diễn về cuộc đời, nhưng nếu cuộc đời như vở diễn thì buồn lắm, vì như thế cái giả dối lan tràn. Người nghệ sĩ lên sân khấu đóng vai, nhưng trở về với đời thường, họ phải sống thực như bao người khác. Nếu tiếp tục diễn sẽ chẳng ai tin, vì nó kệch cỡm ngu ngốc, lố bịch làm sao!”(Đằng sau vai diễn). Nhưng còn “nàng” trong Phận bạc lại càng hẩm hiu cho một kiếp người được nhà văn kết bằng hai câu thơ tuyệt mệnh trước phút lâm chung: “Hai chồng em vẫn còn trinh/ Phận sao bạc đến duyên tình trống không”. Cũng có những phận phụ nữ nhưng gặp sự trớ trêu giữa hai cuộc mưu sinh trong hai hoàn cảnh khác nhau, há một chút sẻ chia thông cảm, thế mới biết lẽ đời!(Vết chàm).
        Đọc Ngọc trong sách ta nhận ra được trên từng chặng đường dù muôn vạn nẽo, những chông gai cơ cực cho cuộc mưu sinh, không làm mất đi giá trị nhân cách. Phải chăng tình bạn, tình người chính là sức mạnh nuôi dưỡng tâm hồn, một khi đi xa luôn tìm về nguồn cội gốc gác quê hương, nơi đã lưu giữ kỉ niệm thuở nào, rồi từ ấy lại mong được điểm tô thêm cho đất nước, khao khát được vun vén một mái ấm gia đình (Một chút nắng xuân). Khó tìm ra sự khiêm tốn, tính giản dị, sự chính chắn của một người thành đạt xuất phát từ gia đình lao động chân chính như nhân vật Thành cũng đã từng va vấp trắc trở trong cảnh ngộ trớ trêu (Ngẫm nghĩ bước đi). Đôi lúc, tiếc cho sự nhận thức chưa thấu đáo dẫn đến cái sỉ diện một số ít trẻ tuổi như cô gái đua đòi, lại mặc cảm về người mẹ phải tần tảo gánh bún cá nuôi con (Người cùng quê).
           Nhà văn Nguyễn Huy cũng đã dành nhiều trang sách cho một số nhân vật chính trong cách đối nhân xử thế, ấm áp tình người của các nhà giáo nghỉ hưu luôn có những cái kết đầy bất ngờ về những học sinh mình. Việc làm âm thầm tạo điều kiện cho con trai của thầy giáo chủ nhiệm thời học phổ thông có nơi ở đàng hoàng ở một thành phố lớn thể như lòng biết ơn, nếu không có thầy bao dung, che chở đã thay đổi cuộc đời mình. Giờ người đưa đò hôm nao lại được “…rưng rưng đón nhận nghĩa tình của họ”(Thấp thoáng thành phố). Rồi thầy cũng chợt nhận ra “Cả đời dạy học buồn nhiều hơn vui! Đau nhất là những lúc chứng kiến cảnh học sinh hỗn láo với mình. Nhưng thầy không đòi hỏi gì nhiều. Con người đối với nhau phải có cái lễ và cái tình. Cái lễ làm cho hình thức giao tiếp nó đẹp. Chất tình làm cho nội dung giao tiếp có chiều sâu. Nhưng đã là nhân quần, thì dù chỉ một nhóm nhỏ, cũng có người này người khác, làm sao giống nhau hoàn toàn được… và chua xót nhận ra rằng đến tuổi này, mình vẫn còn ngây thơ, chưa hiểu hết nông sâu tình người.”(Chút nghĩa cũ càng). Hay nhu cầu sinh hoạt thường ngày phải tiện tặn từng đồng lương nhà giáo thời kì khó khăn chung đã bị đánh đổi va vấp một thực tế hết sức sót xa (Đâu là khoảng cách, Bán chữ.) Nhưng trong chừng mực nào đó vẫn nhận ra tiếng nói một trái tim mình (Người sưu tập ca dao),…
          Trong cảm xúc hoài niệm về thời gian cũng là cách cho người đọc ngẫm nghĩ về chặng đường đã qua, những gì còn lại để khẳng định thời hoạt động nội thành trước năm bảy lăm thế kỉ XX. Thể như nhắc nhở nâng niu và trân trọng, lại có một chút gì xót xa thương cảm như nhân vật “chị”, một sinh viên trường y năm thứ tư, ngoài trực tiếp chở che, chăm sóc vết thương chân cho lành lặn, cứng cáp, còn đặt niềm tin đợi chờ, để rồi“Lâm” tên người con trai ấy một đi không trở lại, hay có thể bị cuốn hút theo dòng chảy cuộc đời khó thoát ra, nếu không đủ bản lĩnh, hay là phủ nhận mối quan hệ, hay sợ sự liên lụy cá nhân làm ảnh hưởng đến công việc đang kiêm nhiệm (Dấu vết thời gian). Bên cạnh vẫn có những tình yêu đẹp mà điều kiện khách quan nào đó không thể liên lạc nhau để rồi khi gặp lại biết bao những nỗi niềm xúc động dâng trào (Một thoáng ngày xưa, Mùa hoa Mimosa).
          Còn trong các truyện Người của giấc mơ, Cà phê Ban Mê vẫn là dấu ấn đậm nét về người cầm bút. Nguyễn Huy gởi vào nhân vật “tôi” đảm chức năng: “Theo tôi, truyện ngắn nó như một nhát cắt của đời sống, càng sắc ngọt càng tốt, người viết nên gợi hơn là tả, bày tỏ ý nghĩ, quan điểm của mình. Phải mở ra một không gian kín, sâu thẳm cho tác phẩm, để người đọc suy nghĩ”(Cà phê Ban Mê). Vậy một nhát cắt của đời sống đã đủ chưa?!... Dẫu không có sự nhẫn nha miêu tả như Nam Cao đã cho ra một đời người như Chí Phèo, còn Thạch Lam dốc cả một khung cảnh Nhà mẹ Lê,… cho nên truyện ngắn có thể miêu tả là một khoảnh khắc, một cái chốc lát nhưng cũng có thể miêu tả một quá trình nữa thì định nghĩa mới thật sự trọn vẹn. Còn tiêu điểm chính nhà văn trong chừng mực thực tại là khép lại quá khứ, kí ức chỉ là thoáng qua, bao suy tư như trong phần kết “Thông nhớ đến câu ca xưa: “Một duyên, hai nợ, ba tình…”. Chuyện duyên nợ ấy mà, khó nói lắm thay!”(Duyên tình). Để rồi minh chứng “Đã là truyện, tất phải có hư cấu. Các ông viết truyện, là để nói chuyện đời đó thôi!”(Ngọc trong sách), mà chuyện đời luôn đa dạng được chắc lọc vào trang sách mới là cái khó của người sáng tác nên “Thư trung hữu ngọc”, “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” còn là thông điệp của nhà văn, nhà giáo Nguyễn Huy đã để cho nhân vật “Sinh” hồ hởi phụ họa: “…Đến giờ anh mới hiểu hết cái nghĩa thâm thúy của câu thơ! Nhờ học hành, đọc sách mà anh có được những thứ quý báu như ngọc: từ nhận thức, đến hành vi, cách sống ở đời. Nhờ học hành, mà anh có được cuộc sống êm đẹp hôm nay. Nhờ đọc sách mà anh có được cô vợ xinh đẹp và hiền thục như em. Đó là chất ngọc chiết ra từ sách chứ đâu” (Ngọc trong sách).
      Có thể nói hầu hết kết cấu các truyện ngắn Ngọc trong sách theo mô típ chung, dựa vào đời sống thực tại triển khai kết cấu truyện, theo điểm nhìn thì các nhân vật được đặt trong mối quan hệ không gian hay thời gian nào đó, có thể là sự đối lập, có thể là sự song hành. Nhưng hơn hết vẫn là lương tâm  nhà giáo vừa nghiêm khắc vừa nhân văn, giàu kinh nghiệm đứng lớp, đồng hành bám sát quá trình phát triển tính cách nhân vật dù là nhân vật phụ trợ bổ sung mà không thể thiểu dẫn đến cái kết bất ngờ cho sự chiêm nghiệm nhân vật chính. Vì vậy văn anh nhẹ nhàng trong mọi tình huống ứng xử giữa các  nhân vật, những khát vọng suy tư luôn duy trì song hành trong tác phẩm làm nổi bậc “Mĩ thiện tương lạc” hay “Mĩ thiện đồng thể” luôn đem lại niềm vui cho con người vì bản chất tính thiện của nó, còn cái xấu phải bị mai một, cái đẹp cái thiện luôn được đề cao. Đó chính là thuộc tính thẩm mĩ văn học, nên từng trang Ngọc trong sách đã bước ra thành Ngọc trong đời cho ta yêu quý nhà văn và tác phẩm hơn./.

                                                                                                  19.7.2015/ NTP

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

HOA MÚT MẬT VÀ TỔ CHIM.

HOA MÚT MẬT VÀ TỔ CHIM.

          Hoa Mút mật.
         Nhớ mùa hè năm lên sáu tuổi, cha tôi mua về ngòi bút lá tre cắm vào cán bút cũng bằng tre chấm mực tập viết, tập sổ những nét bút ngang dọc đầu tiên trong đời mình, sao mà bỡ ngỡ chi lạ. Giờ giải lao, thường ra vườn ngắt hoa dâm bụt đỏ chơi trò mua bán, sau đó nhanh chân bẻ hoa mút mật nhắp trên môi để còn vào học tiếp. Hoa mút mật nở đỏ cả hàng rào quanh nhà, lũ chúng tôi thường bẻ cả chùm rồi cẩn thận rút từng cái hoa mật bé như ngòi bút lá tre ấy, nặn mật vào chai dầu nhị thiên đường hồi đó. Thỉnh thoảng cũng đưa lên miệng nếm cái vị ngọt cho đỡ thèm. Mật hoa thì có chút xíu. Vậy mà cũng thích tranh phần mật của một loài chim: Chim mút mật. Nếu dùng phép so sánh thì đến 100 lần nặn một trăm cái hoa mật mới bằng một giọt nước mắt. Bởi mật hoa cũng trong veo cơ mà. Chỉ có điều đưa lưỡi nếm thử nước mắt nó mằn mặn, còn mật hoa thơm và tinh khiết.


        Chúng tôi đổi một buổi sáng để có một chai mật hoa dầu nhị thiên đường, bằng năm xu của bà ngoại cho mua một cây cà rem chia nhau mút. Có hôm tôi không mút, mà cắn một miếng lớn cho đã thèm, nên phụp hết một nửa phần trên, thế là nửa dưới không thể bám vào que kem, giữ lại không kịp. Tiếc, mà đâu thể nhặt lên được. Sững sờ nhìn nó tan dần trên mặt đất. Thế đấy, ăn cũng phải học, mút cũng phải học. Hoa mút mật chỉ nở trong dịp hè. Sang thu, chúng tôi đến trường với ngòi bút lá tre trên trang vở đã thay thế chuyện hoa mút mật đầu trần bên hàng rào ấy.
           Tổ chim.
          Tuổi thơ chúng tôi chỉ quanh quẩn ở cửa Lí Môn hiền hòa mát mẻ. Từ cổng vào đến cuối con đường là hàng rào chè xanh, hàng rào dâm bụt, hàng rào hoa mút mật, đan xen là những bụi tre gai, những cây keo lâu năm ra trái ngọt cong cong như vòng đeo tay hấp dẫn. Trên ấy có bao nhiêu loài chim về ca hát theo mùa, có những loài chim trùng tên với đặc tính và âm thanh vốn có của nó.
          Và cứ mỗi ngày hè ở nhà, chúng tôi thường tranh nhau hái hoa mút mật, mà chẳng hề để ý đến cái tổ chim mút mật như thế nào, vì loại chim ấy bé lắm, nhỏ lắm như chú chim sâu ấy mà.
          Còn giống chim “khách khách” có màu đen bé hơn bìm bịp nâu một chút, thường đứng trên những nhánh tre trước cổng nhà hót “khách… khách…”. Chị tôi thường bảo ra xem chim khách ấy quay đầu về nhà ai là dăm ba bữa, nhà đó cũng có họ hàng bà con từ xa về thăm, đến giờ cũng bặt tăm nữa rồi.
          Nhưng thông minh nhất vẫn là họ hàng dồng dộc biết tước nhỏ những lá lúa lá cỏ ngoài đồng, tha về làm tổ ở thật kì công. Mỗi lần nghe tiếng chim rít rít trên cao, ngước lên thấy bao nhiêu là chiếc giày treo lơ lửng. Chúng tôi đếm thử hai, ba, bốn, năm,… rồi bùm bằng cách dùng cây khèo nèo tre chắp dài cả hàng chục mét, kéo xuống. Thò tay vào bên trong, có tổ có những hai ba con chim non chưa mọc lông, chưa mở mắt, có tổ còn nguyên ba bốn cái trứng lớn gấp đôi hạt sầu đông... Bên cạnh là cái tổ thứ hai, cũng treo lơ lửng như cái mũ len hình chóp nhỏ úp xuống, có quai ngang qua, đấy là nơi dồng dộc trống đứng trên cái quai ấy canh phòng vệ giống nòi mình. Cũng bị chúng tôi chiếm hữu cho bằng được mới thôi. Mặc cho dồng dộc cha đội chiếc mũ vàng đứng đấy, mặc cho dồng dộc mẹ với màu áo nâu vàng hiền lành cũng từ xa nhìn lại mà ấm ức. Cả xã hội loài lông vũ đâu có cơ quan, tòa án xét xử trừng phạt kẻ gây tội phá hoại sự sống từ trong trứng nước, hay đền bù sự thiệt hại tổ ở kia! Cứ thế cái thú phá tổ chim tự do mở rộng di căn sang mí nhỏ trong xóm.



          Thế rồi… bẵng đi một thời gian, chúng tôi trở về thăm khu vườn xưa. Im vắng quá. Nhìn lên cây keo nhánh cành gầy guộc, lưa thưa màu lá xanh, không thấy chiếc giày ống treo trên cành keo nữa. Cái gốc tuy gai góc ngày nào khỏe khoắn, giờ cũ kĩ vỏ già bạc phếch bung ra, lũ mối có cơ hội ùn lên làm tổ, keo thành củi mục hóa đất.
         Bây giờ, hàng rào hoa mút mật trước đây chúng tôi tha hồ bẻ thành mười hai đoạn nhỏ chơi ne, chơi nẻ,… cũng còn lại trong kí ức với cây cà rem ngày nào. Nay, cũng còn sót lại bụi mút mật nhỏ trong góc vườn cho mùa hè nở đỏ hoa kỉ niệm.
      Bây giờ, tôi thèm nghe lại tiếng chim “khách… khách…” mỗi sớm mai hay trưa chiều, dẫu quanh nhà là hàng rào lưới B40 chật hẹp, vẫn không thiếu tiếng se sẻ, chích chòe hay có cả mấy anh chào mào râm rang. Còn loài chim dồng dộc đã mang theo tổ chúng về đâu, khi bao mùa lúa chín vàng đang chờ đợi.
          Có tiếc, cũng đã muộn!...                                                                          

                                                                                                         15.6. 2015

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

VIẾT CHO NGÀY VALENTINE

Cho ngày 14.2.2017!
"Ngỡ ngàng bên phố mùa trăng
Tháp đôi xưa với chúng mình hôm nay...


 (thơ tui khai bút hôm Nguyêntiêu và còn nữa... chưa dám công bố !)
Vâng, cứ mỗi ngày tự tặng cho mình một đóa hoa. Ta sẽ hạnh phúc.
Thích đọc lại thơ cũ hơn

VIẾT CHO NGÀY VALENTINE
“Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”
Giả định tình yêu là trứng là hoa
Rồi trứng kia có thể vỡ
Hoa kia có thể phai nhạt sắc hương
Đâu dễ gì nâng trứng hứng hoa
Chỉ một khi…
Đóa hồng trong lễ Valentine
trên tay chúng mình rạng rỡ
Sẽ vẹn nguyên một ngày mới tinh khôi.
                                   14.2.2014/ntp

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Xuân và bạn học Phổ tthông An Nhơn 1

Xuân con gà và bạn học Phổ tthông An Nhơn 1.
Với dự định và thống nhất 
14.2.2017
Mừng sinh nhật Nhóm bạn Gà: 
Chơn, Hoàng, Minh, Nguyệt, Ninh, Tranh, Trúc, Vàng . 
Tổ chức tại nhà Duy Ninh, ai ở xa nhớ alo gởi lời yêu thương đến tám bạn tui nghen!
Ai ở gần mời đến dự và chung vui cùng tám con gà 60 tròn.
Quý lắm!









Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

TRĂNG XƯA, HẠC CŨ VỚI XUÂN NÀY

                             TRĂNG XƯA, HẠC CŨ VỚI XUÂN NÀY*
        Cứ mỗi độ mai vàng khoe sắc, mơn mởn những lộc non, không thể không    thưởng thức vẻ đẹp từ hồn chữ nghĩa hiện về: “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”.
         Và tính đến nay “xuân này” vừa tròn sáu mươi, một vòng quay của đời người khi tôi tìm về kí ức bức ảnh gia đình đầu năm Đinh Dậu đã ngã màu, nếu tính theo mùa trăng, lúc ấy tôi vừa tròn sáu tháng tuổi, đang ngồi trong lòng mẹ, bên cạnh cha và xung quanh là các anh chị và một đứa cháu sinh ra trước tôi hai tháng, cháu là con chị thứ hai đang được bế trên tay. Một gia đình quá ư là đông con, mà lúc ấy cha mẹ đã thực hiện tốt sinh đẻ có trách nhiệm, một bằng chứng là chúng tôi được nuôi dưỡng tử tế để nên người hôm nay. Bon đạn chiến tranh và tai nạn giao thông không giữ lại con người, còn bệnh tật và tuổi già cũng vậy. Ngậm ngùi thay một tấm hình đã nhòe theo năm tháng… Chỉ một trăng xưa in bóng hạc đến giờ vẹn nguyên.


        Từ tấm ảnh một gia đình riêng, đến bài thơ của đất nước được khẳng định mang tính lịch sử của dân tộc, không là khoảng cách, cho tôi muốn sẻ chia bức phát họa: “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. “Xuân này” của sáu mươi năm trước, trong phút giao thừa thiêng liêng, cả dân tộc ta đón nhận thư “Chúc mừng năm mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi cuộc kháng chiến mới bắt đầu:
           “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
             Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
             Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
             Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
             Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
             Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
             Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
             Thống nhất độc lập, nhất định thành công!
                               Mùng 1 tháng 1 năm Đinh Hợi 1947.
                      Thư chúc tết là lời kêu gọi chiến sĩ, đồng bào vừa thiêng liêng vừa thuyết phục đậm chất một bài “nghị luận chính trị phổ thông” cho nhân dân dễ nhớ dễ truyền tụng về tình hình đất nước và nhiệm vụ chung của toàn dân tộc ta,  một sự thật rõ ràng mà ai cũng thừa nhận, qua đó khơi động những tình cảm sâu sắc của nhân dân ta chính là lòng yêu nước, tự hào dân tộc, căm ghét áp bức bất công, tinh thần lạc quan cách mạng,… Và những bài thơ chúc tết hằng năm của Bác mãi khắc ghi.
       Trở lại đầu đề “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này” chính là câu thơ cuối trong bài Cảnh rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh viết năm 1947:
                  “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
                  Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
                  Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
                  Săn về thường chén thịt rừng quay.
                  Non xanh nước biếc tha hồ dạo,
                  Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
                  Kháng chiến thành công ta trở lại,
                  Trăng xưa, hạc cũ với xuân này
”
       Cảnh rừng Việt Bắc ngày ấy ngỡ hoang vu nếu chỉ có vượn hót chim kêu, mà ngược lại trong cảm xúc thăng hoa của Người đã mở rộng biên độ hiện thực thiên nhiên phong phú và phóng khoáng hơn. Giữa con người và núi rừng gắn bó chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng nhau cùng nhắc nhở thực hiện mục đích chung: “ Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa, hạc cũ với xuân này”. Có thể nói rằng, những bậc tiền bối ngày ấy như Nguyễn Công Trứ “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc/ Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”, thì hầu hết thường tận hưởng cái “nhàn” sau khi cáo từ quan trở về làng. Còn chúng ta kế thừa ở Bác, một phong thái ung dung tự tại “Non xanh nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say”phảng phất Nguyễn Trãi, lại thanh bạch “Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay”(Câu thơ “Săn về…” đã nhắc lại kỉ niệm khi thứ trưởng Bộ Nội vụ và đội Cảnh vệ đã bắt được con lợn rừng đêm hôm ấy về, qua những trang hồi kí kháng chiến) của một Nguyễn Bỉnh Khiêm,… một lối sống giản dị thanh cao, vẫn pha chút trào lộng hài hước tích cực để ẩn đi cái gian khổ không tránh khỏi!... Chính sự kết tinh của cảm xúc và trí tuệ nâng cao tâm hồn thi nhân trong sự liên kết chọn lọc giữa xưa và nay, giữa cũ và mới về trách nhiệm của một công dân, của người cầm bút đầy lạc quan và tin tưởng sự tồn vinh dân tộc được duy trì mấy nghìn năm văn hiến cho hạnh phúc hôm nay.
        Không thần thánh hóa Người là nhà tiên tri, bởi dựa trên cơ sở khoa học và truyền thống dân tộc “khó vạn lần dân liệu cũng qua”, bên cạnh lời khuyên chân tình: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy, gian nan rèn luyện mới thành công”(Nghe tiếng giã gạo). Vậy phải chăng từ một câu kết “Trăng xưa, hạc cũ với xuân này” trong bài thất ngôn bát cú của Người là sứ mệnh cho chúng ta trân trọng sự sống yên bình, tất cả khát khao gìn giữ, điểm tô: “Trăng xưa, hạc cũ” nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc đã từng “che bộ đội, vây quân thù” ngày nào, là cái nôi trường tồn tiếp nối từ bài học trải qua những cuộc “Kháng chiến thành công” trong lịch sử dân tộc!...          Sao quên được Xuân này, nguồn cội quê hương.
         Và xuân này, cho chúng ta thức lại biết bao những buồn vui của năm qua. Về những mất mát thiệt hại người và tài sản, ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, phần nào những tấm lòng từ thiện cưu mang sẻ chia “một miếng khi đói”của toàn dân hướng về khúc ruột Miền Trung quê mình, những “thiên tai” khó tránh khỏi! Còn cái xót xa hơn nữa vụ “nhân tai” ảnh hưởng môi sinh biển mà bà con mình ở bốn tỉnh vùng duyên hải Bắc Trung bộ phải nhận lấy hậu quả không mong muốn!... Những đền bù cho “hậu quả” ấy cỏ thể đã tính là nhiều hay ít rồi, chỉ nỗi ám ảnh tâm trí không biển cảnh báo dễ gì xóa được!... 
         Dành cho Tết Đinh Dậu 2017, nhấm nháp chút gừng cay bên tách trà nóng chưa kịp ấm lòng, sao vội vàng bước chân ra khỏi nhà lại gặp ngay biết bao lễ hội vui xuân, cầu mong tử tế cách hành sử với nhau trong những sinh hoạt văn hóa truyền thống!.. À, thì ra xưa nay “Tháng giêng là tháng ăn chơi…” cho bỏ công lao cày xới quanh năm. Nói là nói vậy. Nhưng không lãng phí, xa hoa. Tôi có già chưa đấy!...
_____________________
*Thơ Hồ Chí Minh
                                              23 tháng chạp năm Bính Thân 2016
                                                             Nguyễn Thị Phụng