Thứ Ba, 11 tháng 8, 2020

Người không thể dậy, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

       Người không thể dậy*


       Cả làng chúng tôi chờ đợi và nghĩ thế nào cô cũng đến. Mà quả thật, thằng bé lên năm ngồi chơi bên thềm nhà reo lên: 

      - Mẹ ơi, có phải cô mang đôi giày đen đội cái mũ rộng vành màu tím đang tiến dần vào sân nhà mình, mà lạ lắm, không như người khác chỉ liếc qua, còn cô ấy đứng thật lâu, thật lâu trước tấm bia mộ, đăm đăm đôi mắt vào những giọt máu nhỏ xuống của bà con làng xóm mình. Mà hình như cô ấy còn mấp máy đôi môi như là đếm từ trái sang phải từ một giọt, ba giọt, hai giọt, ba giọt, bốn giọt, rồi tiếp một giọt, ba giọt, một giọt, ba giọt, và cuối cùng ba giọt, hai giọt, hai giọt từng cụm với nhau. Những giọt nhỏ có phải là máu của con của bạn con, những giọt lớn hơn là của mẹ của ba, của các dì các chú, và những giọt lớn hơn nữa có phải của các ông, các bà phải không mẹ?!... 

      - Ồ, đúng đó con trai. Những giọt máu hình quả bầu chới với giữa chân không như đời đời kiếp kiếp cứ lơ lửng rơi trong tầm mắt quan khách. Bàn tay hội họa tài hoa ở trần gian đâu chỉ phản ánh còn gởi cả hồn mình vào đấy rồi nên mới có sức thu hút đôi mắt những người như cô ấy vậy.

     - Như cô ấy là sao, con ứ hiểu!

     - À, lớn lên chút nữa con sẽ hiểu. 

     - Mẹ lạ ghê, tính đến nay đã gần nửa thế kỉ rồi, ngày nào mẹ bảo con còn nhỏ chưa đi học được. Rồi hằng đêm mẹ ôm con vào lòng à ơi, mẹ nói cả nhà chúng ta chỉ dừng lại tại đây, có muốn già đi cũng đâu được. Cả xóm mình cũng như ở một số vùng khác nữa đâu có diễm phúc được theo quy luật tự nhiên sinh lão bệnh tử như thế nào Mẹ không nhớ à!...


       Người mẹ quên mất những gì thường nói với con mỗi khi màn đêm buông xuống. Có những lúc trăng lên, nhất là rằm Trung Thu, chị ước ao cho thằng con trai mình xách lồng đèn ngôi sao năm cánh vàng tung tăng với các bạn trong xóm, vừa đi vừa hát “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp xóm làng, ...”. Đời con mình không thể. Chị ôm con vào lòng, không hát ru nữa mà nó ngủ từ lúc nào, chị trầm ngâm ừ nếu không có ngày ấy... thì giờ tuổi mình cũng vào thất thập. Cũng lên đến chức bà nội bà ngoại rồi còn gì, có khi lên đến chức cố nữa kia! Chị quên là phải, bởi lúc đó chị mới vừa ôm thằng bé nằm đong đưa trên võng đã nghe chó sủa tới tốc rồi mọi âm thanh đùng đùng, ầm ầm gầm rú dội tứ bề át cả tiếng chó, tiếng gà xao xác vỡ tung ổ trứng của mình, tiếng vịt quáp quáp hốt hoảng thể như chuyện lạ xưa nay.   

          

        Còn chị bế chặt thằng bé chạy xuống hầm tránh bom. Bất ngờ trước mắt chị một màu xanh da beo đứng chặn ngang cửa ra vào, chị nghe tiếng xí xố xì xồ phát ra từ cửa miệng, nếu bình tĩnh định lại để so sánh với một tiếng nói nào đó thì khó mà so sánh được. Nếu tiếng hươu, tiếng nai quả là hiền hòa. Nếu là tiếng dê, tiếng bò tiếng trâu tiếng ngựa thì chỉ biết reo vui khi ăn no cỏ, chỉ có loài sói, loài cọp thì đôi mắt tập trung rồi nhanh như chớp nhảy đến vồ con mồi của mình ngốn ngấu trong miệng... Đằng này mọi thanh âm tứ phía trộn lẫn vào nhau, từ ông bà già đến chị em phụ nữ, trẻ con lớn nhỏ bất ngờ với tay không làm sao chống lại được những vũ khí tối tân nhất. Đùng, đùng, đùng,... thằng bé ngã theo chị trong tư thế ngửa mặt lên trời cao, mà trời cao chưa thấy chỉ thấy mái nhà tranh đã chuyển màu tím ngắt, rồi màu đỏ đòng đọc từng chòm rơi xuống, còn thằng bé nằm im bên chị, mặc cho lửa nóng liếm nhanh lên tóc, lên áo quần, lên cả da thịt. Chị nằm im trên nhà mình cho đến khi không còn tiếng súng nổ. Hai mẹ con chị nằm bên những người cùng số phận... 


        Nắng cuối hạ rực cả lối đi, hàng cau đã được trồng lại từ lúc nào, giờ đứng lặng im và cái bóng cô gái đi một mình bên ngoài ấy ngỡ dấu chấm câu kết thúc trưa hè cũng đứng lặng hơn trước nền nhà chị dâu tôi, cô ấy ngó vào những cây cột bằng gỗ quý nằm lại giữa làng Sơn Mĩ, lũ ve ở đâu về sinh sản nhiều lắm trong bụi rậm cứ the thắt, thắt the não nề thống thiết lắm. Oan ức nào cũng phải giải tỏa. Mà đã giải tỏa chưa. 


Người đàn bà mặc chiếc áo đen tay trái bế con, tay phải đang còn cài nút áo có trong tấm ảnh treo ở Bảo tàng Sơn Mĩ ấm ức: “- Thân phận tôi là đàn bà, lúc ấy đang ở thế bị động phải giằng co níu giữ đứa con lên ba bị thằng đàn ông lớn lắm, nó cao gấp rưỡi tôi, đưa tay vứt đứa con tôi sang một bên, con tôi lòm còm ngồi dậy, rồi sợ quá, không dám thét tiếng thứ hai, ấm ức ngồi trước mặt tôi, lắm lét đôi mắt hoảng hồn vào tôi, và có lẽ lần đầu tiên tuổi thơ không biết nói cái cảnh mẹ nó giữa nhà đầu tóc rối bù, thân mình trần trụi tái tê phải nằm dưới thằng đàn ông to gấp rưỡi mà trên lưng còn súng ống băng đạn lục cục va nhau vào bình đông nước. Sau khi xả cơn dục vọng, nó đứng lên, đi ra ngoài. Nhưng thằng khác đâu cho mẹ con tôi yên, chúng vào nhà lùa cả mẹ con tôi cùng ba người hàng xóm bên nhà ra đứng góc sân ấy. Tôi chưa kịp tủi nhục với chồng, với con, với anh em, với cha mẹ,... tôi chưa kịp rùng mình ớn lạnh, hay hằn học với thằng người to lớn ấy, hay nói đúng hơn chưa kịp hoàn hồn, thì khẩu súng trước mắt chúng tôi lóe sáng, tôi chới với cả người rồi đôi chân khụy xuống khi cháu nhỏ còn trên tay tôi!...”


     - Cả hai mẹ con chị cùng hai mẹ con mình đều nhập nhoạng vào hư không cho đến bây giờ con ạ! Người đàn bà cứ rưng rức theo tiếng ve mà the thắt lòng.

    - Vậy sao đã mấy mươi năm rồi bây giờ mới kể con nghe vậy mẹ!

    - Ôi, chuyện người lớn tò mò bức tranh của mấy phóng viên chiến trường thời đó mà!

    - Sao con chẳng hiểu gì cả!... Thằng bé cứ hồn nhiên nghe ngóng! 

    - Có lẽ con còn bé, con chưa hiểu điều gì, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sự thật chiến tranh chẳng thể già đâu con ạ! Chiến tranh đồng nghĩa hủy diệt. Mà hủy diệt chỉ có tiêu vong. Làm sao đứng dậy được. Người không thể dậy chính là chúng ta ở nơi này. Sở dĩ cô gái đi một mình ngoài kia khát khao một lần đặt chân trên mảnh đất quê mình, và cô đang đứng lại, nhưng không, mẹ nhìn theo cô gái vẫn đang tiếp tục sang khuôn vườn bên cạnh, à cô gái bước vào nhà thắp hương cho cả gia đình chú út, cô gái ấy không dám đi ngang qua căn buồng nhỏ nối từ nhà trên xuống bếp. Mẹ thấy cô ấy khựng lại, cúi đầu quay người ra sân, rồi đi vào căn bếp, ngắm nghía vật dụng trưng bày nào là cái cối xay lúa, cái mâm gỗ, chén bát đất, cái trã, cái trách kho cá cũng bằng đất nung, một mớ tre gai làm củi đốt ngả màu vàng ệch được bó chặt lại để bên dưới chân ông táo đã cũ lắm. Nào là thúng mủng, cái dừng lúa, cái sàng gạo cũng bằng tre, kể cả cái lồng bàn bằng tre cũng nằm im trên tường đã nói điều gì đâu mà đôi mắt cô gái cứ rươm rướm vậy!... 

      - Thật hả mẹ!

      - Ừ, chuyện con chưa biết thì mẹ nói. Đừng hỏi lại. 

      Thằng bé im lặng ngẫm nghĩ chỉ nhớ một điều mẹ nói “Chiến tranh chẳng thể già đâu con ạ!” 

                                                           05.09.2013

_________________________

*Trích Nơi tình yêu giữ lại (NXB HNV 2018)


MÙA CỦA XUÂN XANH, thơ Nguyễn Thị Phụng

 

MÙA CỦA XUÂN XANH

 

Anh bảo mùa của thi ca là cánh én, là hương sen,

là lưng chừng mây trắng là màu nắng nhuộm vàng

hay là cả đông tràn buốt giá

cánh đồng làng run rẩy những dấu tay...

 

Cho em thêm mùa của hôm nay

là màu áo trắng lương y trên tuyến đầu chống dịch

cứu lấy bệnh nhân thoát khỏi tử thần Cô-vid

đêm dõi đêm, ngày dõi ngày tất bật

khống chế lây lan làm suy hô hấp con người

quên cả thân mình những đôi mắt yêu ơi

vì tất cả Đà Nẵng ta, sông Hàn se thắt!...

nâng vũ khí hăng say là tinh thần diệt dịch

là màu áo “chiến binh ra trận” thường ngày

đón đưa dân mình về điểm cách li

dẫu rào chắn nắng chen mưa còn rơi rụng

chia nhau những hộp cơm thơm từ bếp ăn chật vật

ấm no mỗi bữa trong ngày...

là những con đường “khẩu trang”,là nhắc nhở rửa tay

tránh nhiễm Cô-rô-na ngấm ngầm tai họa

là nhắn nhủ ân cần giãn cách

là nén nụ hôn đầu giữ nguyên vẹn ban mai./.

08.08.2020

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

TRĂNG RẰM GIỮA MIỀN QUÊ, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng

TRĂNG RẰM GIỮA MIỀN QUÊ*


          Trăng ở miền quê tôi đẹp lắm, cái đẹp tự nhiên của đất trời ban tặng con người. Và con người có quyền chiêm ngưỡng thưởng thức. Có ngắm kĩ mới thấy nó tròn trịa phúc hậu, nó tinh khiết và bình yên đáng yêu làm sao. Giả như có đêm rằm nào đó, những áng mây đen khó tính ganh tị che khuất tầm mắt người, thì hôm sau hoặc hôm sau nữa, hay tháng sau tháng sau nữa,… trăng vẫn sáng một màu, cái màu vàng ròng bất tận vô giá chảy xuống trần gian khó mà kim cương hột xoàn nào đánh đổi được. Nói đến cái đẹp của trăng không chỉ có rằm tháng giêng đến với ngày hội thơ tình người của đất nước. Cũng không phải là đêm rằm tháng tư của Phật lịch ngàn năm đón chào đấng Thích Ca Mâu Ni ra đời, cứu nhân độ thế, hay chay trai cầu nguyện lòng thành tích đức cho con cháu mai sau. Cũng không phải là rằm tháng bảy lễ xá tội vong nhân, Vu Lan báo hiếu cha mẹ trọn đạo làm con, ơn nghĩa sinh thành. Cũng không phải là rằm tháng tám dành riêng cho tuổi thơ tung tăng rước đèn kéo quân, phá cỗ vui chơi thỏa thích. Nhưng với tôi, giờ đây mới nhận ra được giữa mùa xuân trăng đẹp đến lạ thường!...

Đó là trăng rằm ở miền quê tôi.

      Khi chiều tím lắng đọng phía chân núi mờ xa thì đằng đông trăng đã hiện ra từ lúc nào nếu lấy thước đem đo phải ước hơn cả hai cây sào dài tính từ mặt đất lên. Trăng lơ lửng giữa cái nền xanh thẳm ngỡ như đang đứng trước biển nhìn ra màu trời nước bằng một giải phân cách đậm nhạt như tranh vẽ. Ô, trăng sáng giữa bầu trời tháng hai!


          Có lẽ lúc này, cả làng quê đều bận rộn. Người thì lo cho bữa cơm gia đình, người thì lo tắm rửa giặt giũ áo quần cho con cái, người thì lo gà vịt vào chuồng, che chắn cho bò heo khỏi lạnh, … Còn tôi, vẫn thói quen thong thả đánh đều tay nhịp bước 30 phút trước khi mặt trời lặn. Rồi chợt nhớ chiều nay quên đi chợ, thế là thẳng hướng ra khỏi cổng làng đến nhà chị Thư mua vài trứng vịt về luộc dằm nước mắm chấm rau cải xanh cũng ngon miệng lắm.Nhà chị Thư nằm cạnh quốc lộ 19, gần chợ nhỏ, cách Tháp Bánh Ít chừng hai cây số. Phía trước hiên nhà , chị kê cái tủ bán hàng lặt vặt nào bánh ngọt, mắm muối, thẻ nhang, cặp đèn cầy,… Tôi chờ chị thối tiền cho người ta xong, mới nhắc chị mua thêm bì muối iod nữa. Cạnh cửa ra vào là một cái xách nhựa trong đó đựng hoa tươi, chuối,…Tôi nhắc chị có ai đã để quên, chị Thư nhìn tôi và bảo không đâu em, chút nữa chị chở ra mả cúng dì. Thế là chị cho em đi với, từ hôm dì mất đến nay hơn nửa năm rồi, em thật có lỗi chưa biết mộ dì chỗ nào! Tôi chưa kịp nói không có em ở nhà, sáng đó em đi Buôn Mê Thuột. Chị nhớ có tên em hôm đó mà! Như chứng tỏ chị không bỏ sót danh sách người nào đến phúng điếu má chị. Tôi ngạc nhiên: Trời đất ơi, chị nhớ chi cho kĩ vậy! Theo em chuyện phúng viếng đem đồ lễ đến nhà có tang để thăm hỏi và tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất là việc làm tự nguyện, sẻ chia, ai mà đòi hỏi chờ người trong gia đình mình mất rồi họ có đi lại không?!... Cũng như đám hỉ thì đến chúc mừng, chia vui, chụp hình gặp gỡ thân tình lại được chén một bụng no nê còn gì sướng bằng. Chị nói một mạch để phân trần: nghĩ như em thì ai nói làm gì, chuyện điếu là việc tang và hỉ là việc mừng đều quan trọng cả. Chị kể dì út Tám ghi ngoài phong bì đi điếu chị ba, cháu Thư nhận.Có người còn nhắn hỏi nó có ghi tên tao đi điếu nữa không. Mà em xem hai nhà cách nhau chưa được trăm mét, dì Tám không đến được thì còn con gái của dì phải không em?! Chị nghĩ đến thắp cây nhang chia buồn với gia đình là chị cảm ơn nhiều… Nhưng chị không bao giờ quên một ai.

        Tôi hiểu và quý chị như dì ba.Lúc dượng chưa kịp đi tập kết, cơn đau bụng quằn quại trong hai ngày rồi mất, chị Thư mới vừa lên năm. Từ quê chồng Phù Mĩ, dì ba trở về Tuy Phước, chăm chút con gái, âm thầm giúp đỡ bà con hàng xóm, nhất là gia đình người thân có chồng, con đi tập kết. Dì gởi miếng cá, lọ tương, bó rau, cái bánh ít,… và phía sau là câu chuyện liên lạc dượng sáu bị địch bắt ở Pleiku, chuyện trao trả tù binh, chuyện chị Phương lên gặp dượng sáu, chuyện chuyền tay nhau tấm hình từ ngoài Bắc gởi vào mà nén nước mắt. Chị Thư học ở dì tính thích cho, gởi biếu.Thường từ chối nhận lại đến phát ghét khi tôi đem những quả xoài đầu mùa chín mọng tươm mật đến. Tôi ra nhà sau lấy con dao gọt vỏ rửa sạch, cắt một miếng đưa lên miệng khen ngọt lắm, cắt miếng thứ hai mời chị mới đưa tay cầm nếm thử rồi tấm tắc: chị tưởng chua chứ!...Tính chị Thư là như thế. Dì ba mất, chị sống một mình với đồng lương hưu tiện tặn cũng đủ cho sinh hoạt cá nhân ở vùng quê này. Gần sáu năm nay chị thừa hưởng thêm hàng quán bé nhỏ tại nhà từ lúc dì ba còn khỏe lắm!...

       Chị tiếp, thường là mùng một, rằm chị đều ra thăm dì, nhưng không đi sớm vì khi cúng xong, nhang chưa kịp tàn, mấy đứa nhỏ chờ sẵn lấy hết chuối bánh, chị không thích điều đó. Em nghĩ coi, cúng xong để tàn nhang chị cũng cho chúng nó ăn, chứ má chị có ăn được đâu, đã đem ra mả cúng thì ai lấy về làm gì. Trên đường đi chị còn kể tiếp chuyện bà Thơm mang hoa quả ra mộ cúng ông Thơm, quay về nhà lấy hộp quẹt, khi ra lại không còn thứ gì đặt lên mộ để cúng nữa em ơi! Bà Thơm khấn vái xin ông thứ lỗi. Chuyện cúng kính nghi lễ với nguời đã khuất đã có từ xưa nay, người sống đối với người mất ngoài cái tình còn hiện vật mới biểu hiện sự quan tâm nữa hay sao! Hương hoa chưa đủ nói hết lòng nhớ thương tử biệt này!...

        Dọc con đường bê tông hơn cây số, trời đêm càng lúc càng sáng hơn, trăng lạnh có phải là hơi sương giữa mùa xuân còn chùng chình luyến tiếc chưa muốn rời xa con người, hay là cái cảm giác vắng vẻ nơi nghĩa địa lúc này chỉ có hai chị em tôi. Đêm trăng hôm nay đâu chỉ là chiếc đèn soi bóng chị dắt chiếc xe đạp chở cái giỏ xách phía sau, tôi lo lắng hỏi:

       - Thế đêm ba mươi, mùng một chị cũng đi một mình à!

       - Thì… một mình có sao đâu em! Chị đem theo cây đèn pin, nhưng cũng có lúc giật mình khi mấy đứa nhỏ núp sẵn trong mả, thấy chị đến, nó chạy trốn chị đấy. Ai xa lạ đâu em, như anh em thằng Lươn, thằng Lịch con bà Thổ trong xóm mình. Đâu phải hộ nghèo.Mà nói thế, nếu chúng nó không lấy về ăn, chỉ để ruồi bu kiến đỗ, mình cũng phải dọn sạch đem đổ ngoài bụi cây.Cười.

       Nghĩa địa làng tôi là một cái gò rộng nằm giữa đồng, thường gọi là gò Ông Trới, cạnh con mương thủy lợi. Thường ban ngày, dù nắng hay mưa, mỗi khi tiễn một người trong làng mất theo tiếng trống đưa ma, tiếng kèn đưa đám réo rắc lòng người, âm thanh là một sự lặp lại không bao giờ thay đổi, không phân biệt giới tính, tuổi tác, giàu nghèo, bước chân tôi cứ nặng nề trên con đường mòn dẫn vào phần mộ đã đào sâu ba lớp đất… cho đến khi hạ huyệt xong, mỗi người vốc một nắm đất đắp thêm cho phần mộ vun cao, rồi hồi trống kết thúc số phận một con người, thì ai về nhà nấy, lòng trĩu nặng bâng khuâng.

        Lần đầu tiên tôi đi thăm mả dì ba, cũng là lần đầu tiên đến nghĩa địa vào ban đêm.Không phải là đêm ba mươi. Đêm rằm tháng hai, trăng sáng vô cùng. Bốn bề im ắng, im ắng đến lạ lùng. Thường giữa đồng không như thế này, ếch nhái rộn ràng trò chuyện, nhưng từ hôm tết tới giờ trời chưa mưa. Cũng không có tiếng vạc kêu đêm, tiếng chim lạc bầy gọi nữa. Chỉ có gió, gió thì thầm với tóc với áo rồi len lỏi vào sống lưng tôi, tôi rùng mình nhìn dáng chị Thư mảnh khảnh nhỏ nhắn trong bộ đồ màu đen, dựng chiếc xe đạp,  lui cui chiếc xách bên tay rồi bước đến phần mộ trước mặt bảo má chị nằm đây nè em. Chị vói tay lấy cây chổi phía trên quét sạch trước cửa mộ, đặt cây đèn hột vịt bật lửa thắp sáng  cạnh tấm chân dung của dì. Bên phải là lọ hoa cúc, bên trái là đĩa chuối mốc to chín vàng cùng hai phong bánh bột huỳnh tinh mà lúc sống dì ba rất thích ăn sau bữa cơm, uống ngụm nước trà cho thơm miệng. Chị Thư thắp ba cây nhang rồi lâm râm khấn như thầm thì điều gì với mẹ.Tôi cũng thắp nhang cho dì tự giới thiệu tên mình, cầu mong linh hồn dì sớm siêu thoát nơi miền cực lạc, còn chốn dương trần thì chúng con cố gắng sao cho trọn bổn phận làm người. Đôi mắt nghiêm nghị của dì từ lúc nào sao giờ lại nhòe đi, hay khói hương làm cay mắt, hay dì xúc động có đứa cháu đến thăm dì giữa đêm rằm, hay dì còn muốn nhắn nhủ điều gì nữa!.. Ngọn đèn dầu ấm áp soi rõ khuôn mặt của ba người. Người nằm dưới mộ sâu kia một đời trọn vẹn thủy chung với chồng con, với họ hàng làng xóm.

        Và đến khi ánh vàng đêm trăng âm thầm vô tư chảy mãi miết trên mái tóc hai chị em chúng tôi, gió lùa vào khoảng lặng, chị mới đứng lên cắm nhang các mộ phần xung quanh cũng không đủ, hương theo gió khép kín các mộ phần khu nghĩa địa. Những cái mả gió (còn gọi mả cô hồn) nằm cạnh dì ba cũng được chị Thư cho người xây lại theo hình chóp nón chừa một lổ nhỏ để cắm nhang, chị đặt lên đó một nhánh chuối nhỏ rồi lâm râm khấn: xin người láng giềng để má tôi được nằm bên cho vui. Chị vừa cười vừa đưa tay chỉ cho tôi xem phía trên phần mộ dì ba là một ô hình chữ nhật được xây một lớp đá chẻ ngay ngắn là nơi mà những người làm mộ cho dì ba đã chọn dành cho chị sau này, rồi chị nói không có nằm ở đó đâu. Tôi ngạc nhiên: A, thì ra chị sống suốt đời?!... Chị đang nghĩ (mà nói riêng với em thôi) là sẽ hiến xác, nhưng chưa biết cách nào đây! Tôi phì cười, đến lúc đó, chắc gì nội tạng chị đảm bảo đủ 100% không đấy! Chị dứt khoát với tôi là đủ 100% tốt lắm, chị không đau bệnh gì, kể cả… chị ngập ngừng không nói tiếp. Tôi đùa kể cả còn…con gái chứ gì! Ha…

      - Mà sao chị ở một mình?

- Ở với má chứ sao một mình, em khéo hỏi.

Được thể tôi mạnh dạn hơn, đây là điều chưa ai dám mở miệng về chị:

        - Không, em muốn biết tình yêu của chị kìa!

        - Chị mang trầu cau đi hỏi mà người ta không chịu, không ưng, nên chị ở vậy. Rồi chị đánh lảng, em lung tung quá.

        - Em mà nghe chị nói sớm cái quy định chế độ mẫu hệ áp dụng và duy trì cho người kinh lại hay đó nghen. Bọn đàn ông chỉ có nước ế vợ như chơi, lúc đó “ mua về mà bỏ trong lồng cho kiến nó tha”.

        Cả hai chị em thoải mái thư giãn giữa nghĩa địa chỉ có trăng mênh mông, trăng nhìn xuống, trăng im lìm, trăng ngờ vực, trăng ngậm ngùi,…


       Điện thoại reo: em đang ở đâu? Ra ngoài xem trăng đêm nay đẹp lắm, tròn lắm, to lắm. Thời sự VTV1 mới đưa tin đây! Đâu phải bây giờ tôi mới ngắm trăng, tôi đã ngắm từ lúc chiều, trên đường ra nghĩa địa, trong nghĩa địa và đang về nhà đây.Quả thật trăng đẹp.Tôi có thể khẳng định chỉ có miền quê trăng mới đẹp, màu vàng lung linh vô tận, công bằng sẻ chia cho tất cả không phân biệt với một ai, cái đáng trân trọng của tự nhiên là như thế.Ngọn đèn đường lúc này tự thấy mình có thừa ra không? Tôi không dám đề cập đến việc tiết kiệm điện, với tôi, chỉ có ngọn đèn thiên nhiên mới là trong lành,vĩnh cửu.

        Đêm nay, ngồi trên ghế đá trước nhà, thức cùng trăng đi ngang qua đỉnh đầu.Tôi chẳng vướng bận lo âu một điều gì, con cái cũng đã lớn, ngoài đồng lương hưu hàng tháng nhận về tiêu hết là xong. Tôi cũng chưa nghĩ như chị Thư lo đến cái chết cho mình, mà quý chị ở cái tình đi mua từng lạng đinh về đóng từng cái đòn nhỏ cho hết người này đến người kia, bỏ vào bao đem tặng nhà chùa để khi ngày giỗ các bổn đạo vào bếp ngồi nấu nướng cho đỡ mỏi chân. Chị phân loại tặng mấy cái đòn nhỏ cho các cháu ngồi mua bán đồ hàng với nhau, dành những cái đòn lớn xếp chồng lên ngay ngắn để ngay trước hiên nhà mình cho anh chị em công nhân sáng sớm ngồi chờ xe đưa đón, còn bảo tôi lúc nào đi Sài Gòn lên ngồi đây chờ xe cho đỡ mỏi chân nghen! Những cái đòn làm ra từ việc tận dụng những miếng gỗ vụn, gỗ tạp chị mua về nấu nước mà làm nên sự quan tâm thật đơn giản trong cuộc sống đời thường. Nhưng tôi làm sao quên được vào những buối chiều cái dáng chị đang ngồi đóng đòn, mắt cứ nhìn chừng sang bên kia đường, rồi vui vẻ đứng lên bảo chờ chút theo sau tiếng gọi: Bà hai ơi, dắt cháu qua đường! Đó là tiếng của mấy cháu nhỏ trong xóm đi học về, mà cha mẹ chúng còn bận đi làm chưa đón kịp.

        Nếu như hồi đó…chị cũng có những đứa cháu như lũ trẻ bây giờ gọi bằng bà nội, bà ngoại kia! Nhớ trên đường đi về, hai chị em chậm bước, chị kể hồi đó anh ấy yêu tha thiết lắm chứ! Mà sao thời con gái, lúc ấy chị ba mươi rồi, chị cũng chờ và khao khát cho anh, thế nhưng đến với nhau, anh lại dè dặt, còn bảo chị hãy cố giữ gìn. Mà chị thì…chị thèm chút hơi hướng đàn ông sao anh không cho, không đáp lại.Hay là chị nghèo, gia đình anh cũng thuộc diện cơ bản mà. Rồi tên anh có trong danh sách đợt  đầu tiên của xã đi kinh tế mới Cát Tiên Lâm Đồng, anh nói đi vài năm hoặc cũng có thể lập nghiệp nơi ấy, chưa hẹn ngày về. Chia tayanh trong nước mắt từ lúc ấy và anh khuyên chị lấy chồng. Lúc đó má chị nói hay là… giờ má còn khỏe, con có ý định đicùng với nó lên đó mà lập nghiệp làm ănlà tùy ở con quyết định. Còn chị thì đang đi làm, sao bỏ việc nhà nước, nên cứ buồn buồn làm sao, muốntheo anh lại thương mẹ cả một thời thanh xuân góa bụa, giờ thì tuổi tác già nua, sao chị nỡ đành…

        Hình như, nghe nói là ba năm sau anh lập gia đình. Nghĩa là sau trận ốm sốt rét li bì trời đất, được cô điều dưỡng ở bệnh viện còn chăm thêm anh miếng cháo, miếng canh, cho tình anh gần gũi thân thương tự nhiên nảy nở, như hoa gặp nắng cho sắc đậm màu, cho hương ấp ủ. Vậy là Tâm, vợ anh là bạn cùng lớp với bọn chị. Tự nhiên chị thấy tưng tức như con người ghét những áng mây đen che khuất ánh trăng rằm. Bất chợt, chị nhìn lên bầu trời trong xanh quá, không một gợn mây, màu trăng ngọt ngào thanh tao tỏa sáng. Chị trầm tư... Rồi kể tiếp, cũng mừng anh khỏe mới lấy được vợ, có một đứa con gái, tiếc là cháu bé lớn lên năm tuổi mà cứ quặt quẹo chân tay, không phải là sốt bại não, mà qua kết quả xét nghiệm của Bệnh viện Nhi đồng thành phố là cháu bị ảnh hưởng chất dioxin từ những năm bảy mươi anh đi bộ đội!...

       Trăng tĩnh lặng.

       Tôi lại tiếc, sao lúc nãy chị Thư nài tôi ở lại dùng cơm chay với chị, có thể còn được nghe chị kể thêm về thời xưa nữa kia, nhưng tôi dị ứng món xì dầu, xin phép ra về. Ngày mai đi sớm xuống chợ cảng Quy Nhơn mua cá cơm mùa này về làm nước mắm để dành ăn trong những tháng mưa và gởi vào thành phố cho các con cùng dùng nữa chứ!

       Trăng giữa vòm trời xanh đã chênh chếch bóng phía sau nhà.

                                                                                 Rằm tháng hai, 2011 

*Trích tập truyện ngắn NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI (NXB HNV- 2018)

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

HÃY THỨC CÙNG ANH, đọc Đi và về- thơ Nam Thi


                       HÃY THỨC CÙNG ANH
          Hãy thức cùng anh là cụm từ trong câu thơ “Em hãy thức cùng anh đêm nay” (Uống cạn chén trăng rằm)* mong em“ Cứ say cho đời thôi hiu quạnh”. Thì ra thi sĩ đang cô đơn thật rồi, cần lắm “em” cho và nhận, tiếp nối vun đắp và sẻ chia dù chặng đường đất nước từ Tây Sơn – Sài Gòn Đi và Về *thường niên không khó. Cái khó đã làm cho anh bối rối một vầng trăng giữa trời sao mời gọi chúng mình.
           Đọc thơ Nam Thi thể như cách nói của tục ngữ, ca dao vô cùng thâm thúy dẫu chưa là “thành ngữ” để khẳng định nhưng đủ chín vàng ươm hấp dẫn người tiếp nhận. Bởi làng quê Thuận Nghĩa dọc bờ sông Côn sinh ra anh, chăm anh trưởng thành, nên tứ thơ anh tràn ngập cái tình sắt son, đôn hậu chừng mực của bậc cao niên đã ngoài thất thập trên vùng đất võ Tây Sơn này.
         Nếu như tựa đề tập thơ “Tôi không tìm thấy tôi”(NXB HNV 2019) đầu tay của anh, giả dụ là một ẩn số thách thức bạn đọc, tìm gặp anh trên mọi chặng đường từ thời trai trẻ và những chiêm nghiệm đã qua, là sự giao lưu “ngoạn mục” để bày tỏ chính kiến của một công dân, hay truyền thống gia đình nhà báo Nam Thi, qua câu chữ anh cố tình hé lộ bí mật để thỏa đam mê khôn cùng. Phải chăng đó là Hạt ngọc* được mẹ đã từng “mớm cho tôi những ngày cạn sữa”. Hạnh phúc với lúc đói có sẵn cơm thơm, lúc khát có sẵn nước lọc tinh khiết. Và bây giờ người dùng phải tự tay mình làm ra. Dễ gì có được mùa hoa tử kinh quê nhà sang hè từng chùm hồng thắm trĩu cành cho người săn ảnh đẹp, cũng phải chăm nom từ cuối thu năm trước. Thơ anh cũng vậy. Cái đẹp không chỉ ở câu từ , chính cái hồn cốt văn chương bật mí: “Ở nơi đâu/ Không gian không có chiều nào/ Và thời gian cũng không bắt đầu và kết thúc/ Anh với em không gần mà cũng không xa nhau./ Em hiện ra và biến mất/ Như ảo ảnh trên sa mạc/ Nhưng anh tin em có thật/ Ở đâu đó mà anh chưa biết.”(Hư & thực- trích tập Tôi không tìm thấy tôi). Thì ở tập Đi và Về (NXB HNV 2020) này bù đắp khao khát ăm ắp tình: “Tôi muốn em là hoa/ Trên đời tôi cằn cỗi/ Chút hương thầm thoáng qua/ Giữ thời gian không vội/... Tôi muốn em là sông/ Mang tình tôi ra biển.../...Tôi muốn em là em/ Gần tôi như hơi thở...” là tự sàng lọc chính mình.
        Đi và Về theo mùa đất trời tự nhiên, phù hợp với lẽ đời. Và mỗi bài thơ bắt nguồn từ cảm xúc của thi nhân, đều hợp thành mảnh hồn văn học phục vụ đời sống con người. Không là bất chợt mùa đại dịch, dẫu bực bội trong ngày: “Từ góc cách ly sao hôm lẻ loi/ chênh chếch đầu ngọn cây leo lét/ như mắt chiều hấp hối/ Lời kinh cầu vỡ vụn tiếng chuông rơi”(Cách li chiều)* thì “Lời chim hót trong lồng”* chính là ban mai minh chứng lẽ sống an nhiên cho mùa của lòng người không còn ngột ngạt mà tỏa hương tận hiến. ...v v...
        Thơ Nam Thi đã hoàn lại không gian cho sự tĩnh tâm yên bình lắng nghe vọng lại. Hay còn là sự lan tỏa bức tâm thư: “Phép lạ đến từ mẹ đất/ đã duy trì sự sống hàng tỉ năm/ Qua những kỷ băng hà/ hỏa diệm sơn và thiên thạch/ lưỡi gươm hay bom nhiệt hạch/ thiên tai và nhân họa/...” ập đến. “Phép lạ” ấy cộng với ơn trời mưa nắng phải thì, cộng với cần mẫn đôi tay thường ngày, dẫu sao “những cánh rừng Tây Nguyên/ trụi lá thời chiến tranh/Nay đã thành ruộng đồng tít tắp màu xanh” trong cách so sánh: “Đất mẹ vẫn bao dung, nâng niu sự sống trường tồn/ Những chồi non nhú lên/ Những hạt giống dưới lớp tro tàn sẽ mọc/ thành cây thành rừng bạc ngàn/ Tình yêu cũng sẽ trường tồn như thế/ Hãy tin và biết ơn mẹ đất/ như tin ở tình yêu bất diệt”(Hãy tin ở mẹ đất)*. Bởi Trọn đời mẹ ở cùng con*chăm chút nuôi dưỡng cho anh có những câu thơ phóng túng thỏa đam mê hướng về cái thiện, cái đẹp trong cuộc đời này.

       Không gian và thời gian Đi và Về nhất quán đồng hành cùng thi nhân. Chẳng thể cất giữ riêng mình nỗi nhớ quê (Ngày xửa ngày xưa, Hẹn hò hoa tử kinh, May mà còn có hoa và em,...)*, thao thức nhớ nhà da diết bên cạnh Người đàn bà thức đợi bình minh* kể từ Đêm trừ tịch*, hay Độc hành chiều giáp Tết* cùng sẻ chia Nỗi niềm với Quy Nhơn – Sài Gòn*, có thể lan rộng ra cả nước và thế giới, để thay đổi cách nhìn lại về “thời điểm bắt đầu một kỷ nguyên thái bình/ tình yêu ôm trọn hành tinh” và không chế, khuyên can: “Xin đừng đếm ngược ngày tận thế/ nhầy nhụa máu xương và thù hận/ ngập tràn rác và chất thải độc hại”(Nào ta cùng đếm ngược)*. Đó còn là sự sống dân tộc và nhân loại kịp thời đánh thức anh và tất cả khi trở lại Thành phố lúc 3 giờ sáng* trong cao điểm chống Covid-19:
      “Thành phố đang ngủ say
      Em cũng đang ngủ say
      Con virus corona không biết ngủ
      đang ẩn nấp đâu đó
      trong phổi người mắc dịch
      và gặm nhấm trái tim con người...”
      Còn riêng anh “... thức cùng những viên cuội/ và trái tim mình/ nàng Apsara vẫn mỉm cười chúm chím/ Chén trà đã nguội/ Và phương đông đã hừng sáng/ Một ngày bắt đầu như mọi ngày/ Cách li và gần gũi/ với mọi người/ và với em.” Yêu biết chừng nào.
        Không là sự lựa chọn thi pháp khi thể hiện chủ đề nhất định, làm sứ mệnh phản ánh hiện thực, Nam Thi lại thanh lọc ngôn ngữ thiên về thể thơ tự do xuyên thấm vào trái tim người tiếp nhận cùng đồng cảm sẻ chia nào đó, mở rộng nâng cao tâm hồn mình như thực tại “đại dịch” thế kỉ đang đe dọa sự sống con người trên toàn thế giới. Làm cho ta bừng tỉnh nhìn nhận ra bức bách xã hội còn là trách nhiệm chung của cộng đồng, trong đó có ta. Bên cạnh ấy, thơ anh khắc sâu nhắc nhở thương mình, thương người cùng với việc lo chung cho đất nước(Hạt ngọc, Cơn mưa và hạn hán, Lời chim hót trong lồng, Hãy tin ở mẹ đất, Quê hương, Cùng hát tình ca bạn nhé, Quê hương, Bão lửa,...)*.

       Đi và Về  là tập thơ thứ hai, cùng với hai tập truyện ngắn của Nhà báo Nam Thi xuất bản trong năm 2019 và 2020. Tất cả với anh như là kỉ niệm lưu lại bạn đọc khi Tôi không tìm thấy tôi * nữa!... Nói có cơ sở, thơ anh làm tôi thật sự xúc động: “Nhớ linh xưa/ Thanh gươm yên ngựa/.../ Nghĩ mà thương/ Thanh kiếm cùn rỉ sét/ Lâu lâu lôi xuống lau chùi/.../ Nghĩ mà tậu/ Một hôm tráng sĩ già ngồi khóc/.../”(Dũng sĩ chém gió)* và tôi đã “khóc” theo tráng sĩ già cùng “văn tế” sống này./.
Tháng sáu 2020/ Nguyễn Thị Phụng.
_________
* Tên bài thơ trong tập


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

CHƯNG CẤT HƯƠNG ĐỜI, Nguyễn Thị Phụng


                         CHƯNG CẤT HƯƠNG ĐỜI


      (Đọc tập thơ Nụ hồng cho Trái đất của Võ Ngọc Thọ, NXB HNV-2020)
      Khái niệm “Người ta là hoa đất” thuộc về tục ngữ xưa nay. Thì tập thơ Nụ hồng cho Trái đất của Võ Ngọc Thọ đã minh chứng phần nào cốt lõi hương hoa được chưng cất hàng mấy năm ròng mới có được. Và đây là tập thứ năm Võ Ngọc Thọ đã xuất bản, mỗi bài thơ là cảm thức về con người và thời gian không còn xa lạ, trái lại khắng khít thể như hình với bóng, hơn nữa là trách nhiệm thuộc về nhau rồi.
       Nụ hồng cho Trái đất là người mẹ bao dung muôn đời bất tử. Chẳng còn là giả dụ thời gian vòng quay bốn mùa, lại chỉ dành riêng một ngày nói về thiên nhiên cho Trái đất, không phải thiệt thòi mà nhắc nhở sẻ chia tình người bên nhau thắm thiết, ý thức cộng đồng bảo vệ hành tinh xanh. Và nếu như Nhà thơ Định Hải xác nhận “Trái đất này là của chúng mình” thì Nhạc sĩ Trương Quang Lục dẫn dắt tuổi thơ: “Quả bóng xanh bay giữa trời xanh” cho các em yêu màu hoa, màu da sắc tộc và bình đẳng con người. Thì riêng Võ Ngọc Thọ dành Nụ hồng cho Trái đất(Viết nhân ngày Trái đất)*về dấu ấn khó quên từ những thiên tai: hạn hán, lũ lụt, sóng thần,... đến những trận động đất kinh hoàng chỉ trong khoảnh khắc sáu mươi giây: “Sau hàng trăm năm ngủ quên/ Trái đất cựa mình/.../Haiti tan hoang đổ nát/ những xác người chết nằm la liệt/ những người may mắn sống sót vất vưởng đầy đường/ những gương mặt thất thần ngơ ngác/.../ những phận người thê lương” (Trái đất sau hàng trăm năm ngủ quên)*. Cái bất chợt quặn lòng, cái bể khổ trước mắt không riêng phận người thê lương, đã có Nụ hồng cho Trái đất san sẻ.
        Thiết thực nhất, gần gũi nhất là tình yêu bắt nguồn từ Âm vang tiếng sóng*: “Đi dọc vạt nắng chiều hôm/ nghe trong biển mặn hương thơm đất trời/ người đi ngược gió tơi bời/ âm vang tiếng sóng vọng lời nước non”. Và nếu như Những tượng đài*(tr. 58) là sự lựa chọn về nhận thức: giữa hi sinh, an nhiên và bình thản- giữa tận hưởng, ngụy trang và dối trá thì lời nước non nhắn nhủ theo nhịp sống, nơi con đường thường ngày đi về thôi thúc tấm lòng người mẹ đẹp tựa một bài thơ, một vầng trăng tròn sáng tỏ, lung linh tình người mẹ hiến tạng con gái chết não ở bệnh viện Chợ Rẫy đã ngộ ra: “Xác thân rồi cát bụi/ nhưng còn đó:/ trái tim/ lá gan/ và hai ... quả thận/ Người Mẹ gần như chết ngất/ khi chần chừ.../ hiến tạng của con// Con thân yêu/ Mẹ muốn thấy trái tim con còn đập/ quả thận con còn lọc/ lá gan con còn được tưới máu tươi/ chỉ mình con cứu sống bốn người// Con thân yêu/ con vẫn ở cõi người/ ở trong lòng người/ Mẹ xin lỗi/ con ơi!”(Tấm lòng người mẹ*). Phải chăng ta có thêm tượng đài người Mẹ được nhà thơ trân trọng viết hoa là vẻ đẹp tư duy khoa học tiến bộ ấm áp nhân từ. Rồi đến cả Chị quét rác* hằng đêm làm sạch đường phố, mong mỏi gởi vào “giữ sạch lề đẹp lối em nghe”(Chị lao công- Tố Hữu) thế mà “lề” không giữ “Kẻ nát rượu lái xe/ đã không cho chị được sống”.  Và chị đã hóa thân: “Chị đã biến thành con sóng/.../ Chị biến thành ngọn gió/.../ Chị biến thành ngọn lửa/ sưởi ấm con...”. Những người bình dị đời thường mà cao cả đã đi vào trang thơ Võ Ngọc Thọ, đó là điểm nhấn trong Nụ hồng cho Trái đất.
        Và nếu như điểm nhấn cho tập thơ Võ Ngọc Thọ bắt nguồn từ tình yêu đất nước: “Tôi nghe tiếng em bé/ Bập bẹ chữ Việt Nam/.../ Tôi nghe tiếng ngọn sóng/ Nghẹn lồng ngực biển đông/.../ Tôi nghe tiếng sông núi/ Vọng lời hịch cha ông/...”(Tôi nghe)* thì hình ảnh Cây bàng chứng nhân*(tr.34), cho đến Hương quê*(tr.50) Nhơn Lý được nhắc đến. Nhưng cũng từ ấy thì Chiếc áo ấm của ba tôi*(tr.54) khắc ghi dấu mốc thời gian: “Chiếc áo theo ông Cụ từ ngày đi tập kết/ ra Bắc vào Nam/ đằng đẵng hơn hai mươi năm/ chở che ông bớt rét lúc xa nhà/ ấp ủ trong tim bao hoài bão...” cho nguôi ngoai nỗi nhớ, mà nén niềm hân hoan. Võ Ngọc Thọ- người con mượn hình ảnh chiếc áo nhớ ngày đi tập kết của cha mình là lời nhắc nhở công ơn để đến ngày trở về bao thảng thốt:
        “Ngày đất nước thống nhất
         ông trở về thăm quê
         chị Hai tôi không còn nữa
         ông khóc
         sao con không nán đợi ba về!
        Ngày đất nước thống nhất
        ông trở về thăm quê
        chú Chín đã hi sinh trong hang Núi Bà
        xương thịt tan vào đá
...”
      Chiếc áo ấm của ba tôi và thời gian của năm tháng khắc khoải đâu riêng mỗi gia đình, mà trở thành kỉ vật chung cho bao thế hệ tiếp nối duy trì bảo vệ quê hương: “Ông trao chiếc áo cho tôi làm kỉ niệm/.../ Tôi lại trao chiếc áo này cho các con tôi/ như trao một báu vật/...”. Với người cha, là niềm tự hào. Riêng với con gái lại là nỗi nhớ khôn nguôi khi đọc Hoa cắm cho con*( tr.79), không khỏi bùi ngùi số phận ngắn ngủi tuổi xuân chưa kịp cống hiến, bởi thường ngày “hồn con lạc bến chơi vơi”. Thương và nhớ thường trực trong cảm xúc thi nhân từ : Một đóa vô thường* cho đến Những đóa tình* về một sự thật thời gian: “Muốn hay không/ Ta vẫn thêm tuổi nữa/ Khi xuân về gõ cửa trái tim// Hôm nao tóc xanh/ Tràn nhựa sống/ Nay bạc mái đầu/ Bạc những khát khao” nhưng từ ấy bật ra:
        “Kìa mai vàng đang nở
         Những đóa tình tin yêu
”
        Những đóa tình kịp bung nở tỏa hương trong Nụ hồng cho Trái đất chính là sứ mệnh thi ca, tập trung chủ đề viết về đất nước và con người nhân hậu làm nên mùa xuân Với đời* (tr.94). Bởi nơi đó có Khung cửa*(tr.95) bao dung đón chờ, sẵn lòng mở ra: “Có một khung cửa/ đi về mỗi ngày/đều đều quen thuộc/ khung cửa thời gian/.../ khung cửa tâm hồn// .../ khung cửa tự do//.../ khung cửa riêng mình/...khung cửa tình yêu”cô đúc, lắng đọng. Nụ hồng cho Trái đất giàu suy ngẫm về tâm hồn đồng điệu, một bức tranh hiện thực đầy: “Sống động và thú vị/ Với những/ Con người/ Cây cỏ/ Hoa trái/ Đôi lứa yêu nhau...”(Quên). “Quên”* là khẳng định cái nhớ, việc phải làm tựa một danh ngôn. Hãy dành Nụ hồng cho Trái đất như dành môi trường sống cho con người, như tự bảo vệ chính mình các bạn ạ./.
10.07.2020/ Nguyễn Thị Phụng
___________
*Tên các bài thơ trong tập.          

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

SÔNG CÔN TRĂN TRỞ THEO MÙA, Nguyễn Thị Phụng.


          SÔNG CÔN TRĂN TRỞ THEO MÙA.
                                                    Nguyễn Thị Phụng.
        Mượn từ Sông Côn để nói đến thi nhân sinh ra ở làng Thuận Nghĩa, chắc hẳn người Tây Sơn Bình Định đều trân quý anh. Nam Thi, bút danh từ khi “viết lách”(những năm 1965) và tòa soạn báo Thanh niên là ga cuối trước khi anh về hưu. Còn khoảng “bí mật”với chừng thời gian ấy anh đã làm những gì: - Duyên nợ “chuyện đời” gởi vào trang văn với hai tập truyện ngắn Nụ hôn đầu của chim én, Nàng Eva góa bụa (NXB Văn hóa Văn nghệ, đầu năm 2019). - Trả vay trên từng dòng sông Trăn trở tuổi mười tám*(1965) nhẹ nhàng kín đáo, Tiếng hát lên đường*(1967) từ lúc đôi mươi… Rồi mãn nguyện dự báo “Và cái bóng của tôi rồi cũng biến mất”(Tựa), nên khao khát sẻ chia:“Tôi không tìm thấy tôi”(NXB Hội Nhà văn- 2019) tập thơ đầu tay ở tuổi 72, vẹn nguyên sen hồ theo mùa xôn xao. Ẩn trong Hoa cho Tết và Em *(1980) lặp lại thường niên, tươm tất trang trọng, duy trì nét đẹp văn hóa không được lãng quên trong mỗi cá nhân, gia đình.
         Tựa đề Tôi không tìm thấy tôi, “Có thể tôi không có thật, tìm tôi uổng công”, nhưng tôi từng tồn tại thế gian này, được xác tín đúng thời điểm đỉnh cao công nghệ thông tin cập nhật ngõ ngách làng quê. Giữa cái thật chân chính lại có cái ảo mơ hồ rập rình liếm láp. Sự ngộ nhận “cái ảo” bị bác bỏ, bởi “cái thật” lịch sử thuộc về thế hệ trước xả thân cho hôm nay: “Con đường Nguyễn Du mát bóng me/ Ngày hai buổi anh đi về./ Biết mấy mùa Xuân đã qua trên con đường đó/ -Những mùa Xuân lửa đỏ/ Mười mấy năm đời anh gian khổ/ Để Xuân này anh chở em đến sở/ Đưa em vào ca đầu năm.”(Hoa cho Tết và Em)* giao mùa khởi sắc. Ba trăm sáu mươi lăm ngày qua, hay quá khứ khép lại, chút mưa xuân rắc hạt quanh thềm, lung linh nắng mới, hoa giấu mình trong hương mà hương cứ tỏa, thẩm thấu thơ văn thời Lí Trần ngày ấy:“Hồn nhiên người với hoa vô biệt/ Một đóa hoa vàng chợt nở bung” gieo vào tâm thức thi nhân, giá trị bản chất cuộc sống thường ngày mỗi người gắn kết cộng đồng xã hội. Mùa xuân hương sắc ấm áp, lan tỏa từ trách nhiệm “Còn nửa giờ nữa anh vào họp/- Những ngày vui, Công an vẫn bận/ Tranh thủ ta đi mua hoa nghe cưng” điệu nói tâm tình lãng mạn, chừng mực mà sâu lắng nồng nàn tình yêu hạnh phúc gia đình kết nối:
      Mình mua hoa cúc tím cho em
      Em có thể nghĩ đến màu nhớ thương
      Màu của không-bao-giờ-quên
      Nửa cuộc đời qua của riêng em.
      Mình mua hoa lai-ơn đỏ cho anh
      Màu hoa như màu áo cưới của em,
      Màu của cuộc sống và hy sinh
      Cho nửa cuộc đời còn lại của chúng mình.
                        (Hoa cho Tết và Em)*
       Phải chăng Màu của cuộc sống và hi sinh nhắc nhở nhau trên Những chặng đường đã qua*, theo năm tháng gánh vác, gian nguy mà kiêu hùng, vẹn nguyên: “Được tin hắn vừa chết hôm qua/ Mà tôi không về được Sài gòn để viếng./ Delete tên mà nhớ hắn vô cùng/…/ Nhưng làm sao tôi xóa hắn trong tim tôi./ Người bạn chí cốt một thời sống chết có nhau./ H. ơi.”(Delete tên bạn tôi, 2010)* Cuộc đối thoại tâm tưởng hay tự soi mình về một thời tuổi trẻ cống hiến, bởi không gian hiện hữu và quá khứ đan xen: “Có bao nhiêu trận mưa/ Trong suốt đời ta/ Làm sao ta nhớ hết?/ Mưa đầu mùa quê nhà/ Ruộng cày vỡ phơi suốt mùa hạ/ Đất hồi sinh sau những ngày khát nước…/… Mưa rừng Miền Đông xối xả/ Đọt mì non ngửa bàn tay lá/ Hứng trận mưa chiều/ Nhão nhẹt bùn đất đỏ/ Đường hành quân chân bước liêu xiêu./ Đồng Tháp Mười mùa nước nổi/ Mưa ướt áo…/Áo khô rồi lại ướt/ Đêm vượt biên giới cười Kinh Kha:/Ta đâu chỉ một lần qua sông Dịch…”( Mưa Sài Gòn chợt nhớ.)*. Và lúc này trái tim “siêu ngã”(Freud- nhà phê bình văn học trạng thái tâm lí) của thi nhân và người chiến sĩ quyện vào nhau, giữ vai trò chỉ đạo “tự ngã” trong cuộc đấu tranh với “bản ngã”, đồng thuận với hồn dân tộc đất nước…
       Tôi không tìm thấy tôi luôn thường trực nỗi nhớ. Khơi gợi từ những Nhịp cầu* Nghe tin bạn về thăm Huế*, cứ cồn dâng: “Nỗi mình ai sẻ mà chia?/ Cõi người bến tỉnh, bến mê phương nào?” Đến khi lần về thăm Huế ơi*, Huế- Ngày về* sau năm mươi năm trở lại: “Nếu có thể vo tròn nỗi nhớ/ Thành hòn sỏi nhỏ/ Quẳng xuống dòng sông./ Triệu triệu năm/ Nước chảy không mòn”(Qua cầu Trường Tiền)*. Nước chảy, đá mòn nhưng dễ gì nỗi nhớ triệu triệu năm sao mòn được những dấu yêu một thời ở quê ngoại đến trường, cộng thêm tình mẹ thiết tha: “Mẹ tôi xa Huế/ Theo chồng về tận đất phương Nam/ Mang theo lời hát ru của Huế:/ “ À ơi,/ Gió đưa mười tám lá xoài/ Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi/…/ Đường đi dài/ Mẹ tôi đi không trở lại…” (Mẹ ru)*. Trong Tấm ảnh cuối cùng của mẹ* thể lời di chúc khắc ghi Huế quê mẹ ruột rà có dòng Hương giang thơ mộng bấy lâu; Bình Định quê cha, máu mủ với mạch nước Sông Côn trăn trở theo mùa. Hòa quyện sóng đôi từ nguồn Trường Sơn làm nên cốt cách Nam Thi, ngọt ngào lời tự tình lục bát khi Về với dòng sông*:
        “Ta về ngồi với dòng sông
         Chìm trong đáy nước mênh mông mây trời
         Ta về trong dáng núi soi
         Trông hoàng hôn xuống ửng trời Tây Sơn
         Ta về cắn cọng rau non
         Ăn con cá nhỏ, tắm con sông già
”
         Về với dòng sông để được tắm con sông già đã là hạnh phúc. Từ vẻ đẹp nguồn cội Tình quê lúa lép, lúa lừng*, của tuổi thơ ngày ấy ăm ắp Buổi chiều nghe em hát* về Sông Côn đôi bờ*. Giờ Em là ngọn gió*, Anh như là ngọn gió* thong thả  Rong chơi giữa đời*. Chút lãng đãng nên thơ, dù biết rằng lúc Tiễn bạn về Nha Trang*, hay trở lại Quy Nhơn*, Diêu Trì* đâu phải là Đường đi không tới*. Nhưng trên mỗi điểm dừng, Nam Thi đều lưu kỉ niệm (Thành Hoàng đế kí sự, An Khê kí ức hóa thạch, Hạt phù sa Champa tươi rói,…)*. Trong Kí ức của dòng sông*, thoáng Lao xao và tĩnh lặng*, ngẫm Xem tượng Quang Trung* mà băn khoăn: “Ta không quen thấy Người giáp trụ, long bào/ Như tượng đồng người ta mới dựng”. Bởi Người anh hùng áo vải, nghĩa khí hào hùng:
         “Suốt đời Người quen ngồi trên yên ngựa,
          Vung ba thước gươm dọc ngang
          Đánh Nam dẹp Bắc
          Người chưa quen ngồi trên ngai vàng
          màng che, trướng phủ.
         Suốt đời Người quen ở giữa chốn ba quân,
        Quen nghe tiếng ngựa hí voi gầm, quân reo dậy đất, trống trận bập bùng
”...
        Tôi không tìm thấy tôi không là khoảnh khắc Mặc niệm*: “Lãng phí như trận mưa chiều cuối hạ”, chính chung quy Ngày của mẹ* cũng như Mẹ nhớ lời con dặn* tồn tại được mất là tất yếu: “Rồi con cũng sẽ già như mẹ/ Cũng mỏi mòn ngóng đợi con xa…”. Nên không quên: Chúc phúc con gái lấy chồng*. Riêng mình khi Chiều đã xanh rêu*, còn Vòng tay của đêm* ấp ủ sự tiếp nối sắp đặt tự nhiên, khoảnh khắc: “…Hoa ngẩng trông một trời mây trắng/ Nắng chiều nghiêng rưng rức tử kinh/…/ Cũng như mây đời ta trôi nổi/ Một chiều về soi bóng dòng sông”(Hạ vừa lỡ trượt sang thu)*, tìm thấy Những hòn cuội giữa dòng*: “Âm vang của thơ” quay quắt xót lòng: “Thương ngọn cỏ cháy vàng/ Thương dòng sông đang chết…”(Đất đợi)*giữa mùa khô hạn, giờ điệp khúc hân hoan:
    “Ruộng đồng không chỉ đợi nước trời
      Nước dự trữ trên nguồn sẽ chảy về cho mùa gieo hạt
      Rồi trời sẽ mưa cho mát lòng người, vui lòng đất
      Những cánh đồng rồi sẽ xanh mát mắt em ơi
”
                               (Về quê mùa nắng lửa)
       Cảm ơn nước dự trữ trên nguồn, cảm ơn những cánh đồng xanh mát, hay chính là lời cảm ơn những đôi tay cần mẫn làm nên mùa vàng. Nhà thơ còn … lần theo cảm xúc xao động trào dâng ở những chùm Thơ bốn câu*: “Anh về dưới giã tìm chút gió/Mà gió trùng khơi chửa kịp về/ Chợt nhớ Tây Sơn chiều ráng đỏ/Mưa nguồn gió lộng nẻo sơn khê”, tạo vật theo vòng luân lưu: “Những chiếc lá khẽ chạm vào nhau/ Cùng sẻ chia nắng sớm mưa chiều/ Cùng khô vàng để gió cuốn theo”(Chùm thơ Haiku)*. Đơn giản đóa vô thường đằm thắm sắc thiền đã ướm, giữa người và thiên nhiên hợp thành cảm thức thẩm mĩ cô đúc làm nên thi hứng sáng tác.
      Nếu như “Biên niên sử trên cánh đồng hoa bất tận”* chắt lọc từ tâm hồn “Thi dĩ căn tình, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thơ” của người xưa, tác giả gởi vào Lời kết: “Giờ thứ 25 dành cho thơ và em”* ung dung trọn vẹn: “Anh dìu em qua đường như chàng trai ngày đó/ Và trái tim vẫn lặng lẽ/ gõ nhịp bài hát tình yêu”(Mỉm cười với nắng vô ưu*).
        Nên chăng sự phủ định thách thức“Tôi không tìm thấy tôi”tất yếu. Nhưng bạn đọc tâm đắc khẳng định Nam Thi hóa thân vào cả tập thơ: Lúc mộc mạc thân tình, lúc day dứt suy tư, lúc bày tỏ chính kiến về những chặng đường(dấu mốc thời gian từ 1965 thế kỉ XX đến giờ), những dòng sông vượt ghềnh thác đổ về xuôi mà tự hào, dẫu biết: “- Lịch sử im như đất/ Không biết khóc biết cười/ Tình im như hạt thóc/ Gieo vào đất nẩy chồi”(Thơ bốn câu)* đâu chỉ chiêm nghiệm tình đời mà thăng hoa cách sống trọn vẹn đẹp tựa sắc hương theo mùa bung nở./.
                                                                                       09.12.2019.  Nguyễn Thị Phụng.
____________
*Tên các bài thơ trong tập.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

KHÔNG LÀ NGÕ HẸP của Nguyễn Thị Phụng


KHÔNG LÀ NGÕ HẸP

               (Đọc Ba tao bay ra ngoài của sổ và 9 truyện ngắn khác của Trần Nhã Thụy, NXB HNV 2020)
            Không phải lục tìm ở quầy sách, chỉ cần cuộc gọi từ người bưu tá đến tận nhà là tôi sở hữu Ba tao bay ra ngoài cửa sổ và 9 truyện ngắn khác của Trần Nhã Thụy. Xác định nhà văn có duyên tiếp thị sách như những truyện anh viết. Tôi chẳng quan tâm đến lời cảm ơn của tác giả. Hay đoạn trích Nhà văn quèn và đạo diễn lừng danh*, kể cả “Con người ta có thể học hành nhiều thứ, nhưng không có một trường lớp nào dạy con người ta sống thú vị”(Ba tao bay ra ngoài cửa sổ)* lại là đáp số “thú vị” cho bạn sau khi đọc xong tập truyện ngắn này. Cứ thênh thang đường bay hướng đến đích cần tới, đến việc cần làm. Bởi nó không là ngõ hẹp đâu.
          Nhà văn và cuộc sống: Không theo mô-tip truyền thống cổ điển, mặc dù họ là những nhà văn thế kỉ trước trước nữa đi nữa, thì Trần Nhã Thụy với phong cách lập luận riêng những cảm xúc cách dẫn truyện bắt nhịp từ một cây cầu nối Những kẻ câu đêm* đến những kẻ Râu câu ngày quyền rủa “Trên đời này làm có cái chó gì tinh khiết” sau “…lần Tay trái nửa đùa nửa thật rằng, ước ao lớn nhất của đời gã là được nằm trên giường cùng lúc với hai cô nàng sinh đôi con của lão Râu”(tr.29) Sự châm chọc cạnh khóe rồi cũng đề huề quanh bàn tiệc rắn dã ngoại “ăn đêm”. Bởi ở họ có sự đồng nhất như cái tên gọi ẩn dụ quanh chiếc cầu đêm: Râu, Trọc, Chân ngắn, Tay trái không giống truyện ngụ ngôn Chân Tay Tai Mắt Miệng. Ở đây, nhà văn mở đầu cuộc chơi kí hiệu ngôn từ vừa nhập cuộc vừa tan rã. Còn cách vào truyện với nhân vật “tôi”: “Sẽ không biết ở đó có một cây cầu, nếu như không rời khỏi con đường quen…” Chính con đường quen dễ dẫn dụ người ta chi phối rất nhiều những sinh hoạt thường ngày, kể cả văn hóa viết đọc khó khăn lắm mới dễ duy trì, nhưng nhu cầu thể chất đã lấn lướt. Vậy thì qua cái kết cuộc trò chuyện giữa “tôi” và G. “Chúng tôi bắt đầu từ sự ngạc nhiên, sau đó tái diễn nhiều lần. Triết học bắt đầu từ chỗ ngạc nhiên…” có gì là lạ. Suy cho cùng, bản lĩnh người cầm bút chẳng những am hiểu thực tế, nhưng đồng thời là người sáng tạo phong cách riêng, không pha tạp, trộn lẫn không thể làm theo dù đó là đơn đặt hàng “khủng”khi đọc Nhà văn quèn và đạo diễn lừng danh*.
         Chết lúc 9 giờ sáng* cũng cùng chủ đề về người cầm bút. Bước đường của thi nhân không là tự sát, không thể dựa vào thơ mưu sinh. Có chăng nhát dao của tên nghiện nào đó kết thúc một mạng “thi nhân” cái chết buồn tẻ tiễn đưa , làm trăn trở nhân vật tôi: “… Nhưng càng về sau, tôi càng nghĩ về cái chết của Phong. Có ngày, tôi chỉ nghĩ về cái chết của Phong. Phong chết năm 24 tuổi. Nguyên do gây ra cái chết xem ra có vẻ hài hước và cay đắng. Tôi không nghĩ chết là buồn. Chết là nhẹ gánh. Chết là tự do tuyệt đối. Chết là hết mệt. Tôi luôn thấy mệt… Thật vớ vẩn nếu phải chết vì cúm gà cúm heo. Nếu tôi cũng chết năm 24 tuổi, thì bây giờ tôi là cái gì?Từ đây, tôi sẽ sống tới bao lâu, rồi chết?Rồi tôi sẽ là cái gì…” Là sau đó những dự định in tập thơ cho Phong và chứng kiến những (Mối tivi đặt câu hỏi rồi nói như khóc trước máy quay), (Đọc thơ Châu Âu tỏ ra điềm tĩnh, khúc chiết, nhắc lại), (Học viết văn ở Mỹ phàn nàn, tặc lưỡi), có cả Nữ doanh nhân kiêm nhà thơ,… diễn ra không trên sân khấu mà ngay chính nơi Kỳ Phong gục xuống trên sân vườn nhỏ ở quê nhà mình. Xót xa đau đớn đến tột cùng cái nghề làm thơ, mòn mỏi bản thảo gởi đi tăm biệt, đáp trả bằng thời gian đợi chờ kì vọng trong nghèo đói xác xơ. Để rồi: “Trên thềm hè nhà Phong. Tôi còn sống. Tôi đang sống. Tôi sống. Tôi ngồi trên chiếc ghế mà (có lẽ) Phong đã từng ngồi. Chờ một bóng người ngoặt vào sân” cho một cái kết khác nào sự tiếp nối. Truyện viết về người cầm bút trăn trở và ám ảnh người đọc sống trong lặng lẽ cô đơn tột cùng.
        Cái đích của một số người là gì? Có thể là truyện ngắn Súng săn ám ảnh không chỉ hạ gục loài thú cho mối bữa nhậu với nhau, mà nhắc nhở người dùng phải thận trọng, cân nhắc nếu như người đàn ông bốn mốt tuổi (Kỷ) không giương nòng súng bắn vào bụi rậm lại trúng ông năm mốt, người cùng nhóm săn. Và nếu như buổi sáng ra ông Đồng không say rượu đánh vợ, và nếu như để tự vệ bà vợ không cầm con dao,… Cũng là một sự trăn trở ở nhân vật tôi- người kể chuyện đọng lại cái kết: “Lúc này, tất cả những gì tôi muốn là một khẩu súng và nắn nó trong tay”. Còn Con ngựa trong phòng ngủ luôn có sự móc xích đến cái chốt cuối cùng đầy ám ảnh trần trụi những chuyện đời giữa những người “bạn” với nhau. Từ chuỗi đường mưa giữa không gian thực và hình ảnh gã cao bồi trong phim tán tỉnh được và kẹp cô nàng chủ quán rượu đặt trên lưng ngựa phi về phía chân trời kia. Đến cuộc gọi của người bạn gởi trả cặp trống Djembe Châu Phi, giữa tử tế mượn sử dụng và trả lại cho tôi lắm công nhọc nhằn cũng phải chứng kiến qua nhiều “lớp lang” mà chao đảo tâm hồn. Ám ảnh cả một trường liên tưởng: ngựa- người, người- ngựa dễ dàng thong dong.
        Về một cuộc mưu sinh. Văn hóa ẩm thực luôn gắn liền với cá nhân và tập quán mỗi gia đình, cộng đồng. Theo xu hướng xã hội tiện gọn dễ dàng đến với người tiêu dùng thì Shipper vĩ đại và nước mắm gia truyền* đã nói lên được niềm vui cuộc sống về kí ức tuổi thơ, về hình ảnh người mẹ với nghề thống cũng được phát triển. Còn khi đọc Những chiếc lông công trên phố bụi mù* chính là kịch bản cho cuộc mưu sinh đầy hấp dẫn xu hướng người tiêu dùng lẫn lộn giữa mơ và thực.
       Tâm hồn tuổi thơ. Truyện ngắn Những đứa trẻ tóc bạc viết về thế giới tuổi thơ lạc loài nhưng rất hồn nhiên, luôn bày thái độ đối với người lớn: “Nó rất ghét những người hút thuốc lá, nhạy cảm với mùi thuốc lá một cách đặc biệt. Mỗi khi ông hàng xóm ra trước nhà hút thuốc, khói vừa bay lan sang là nó chạy ra đóng chặt cửa lại. Nó tự vẽ những poster có nội dung chống hút thuốc lá, dán một cách công khai và mỹ thuật trong nhà…” và chính điều đó cảm thức cho người lớn nhân vật “tôi” tự trọng hơn đã “không dám hút một điếu thuốc nào mỗi khi về tới nhà./ Nhưng bây giờ thì tôi quyết định bỏ hẳn thuốc lá khi không có ở nhà” cùng với sự quan tâm đến những đứa trẻ đi vào trong cùng giấc mơ: “thấy mái tóc của thằng con trai tôi trở nên trắng xóa. Những đứa trẻ mà tôi gặp trên phố, con trai và con gái, tóc cũng bạc phơ như vậy. Nhưng tóc của người già đen nhánh, đen một cách kỳ quặc như được nhuộm hàng trăm hàng vạn lần…” “Tóc bạc” đã không còn là sự phát triển tự nhiên của con người nữa, mà chính là sự già dặn của nhận thức và thái độ.

         Riêng Ba tao bay ra ngoài cửa sổ đọng lại kí ức tuổi thơ khó quên về cú ngoạn mục đẹp mắt như trong thế giới thần tiên có phép màu. Cái phép màu ấy chỉ có thể làm giàu sự tưởng tượng phong phú từng độ tuổi mới lớn. Đã thành đề tài khai thác tranh luận tò mò cho lũ trẻ cùng lớp tập trung theo dõi câu chuyện đầy bản lĩnh, tự tin: “Mày không biết thì nín dùm cái đi. Bay ra ngoài cửa sổ thì cần gì siêu nhân. Ba tao hả, ba tao luôn là người đầy năng lượng. Chỉ cần búng một cái là ba tao bay ra ngoài cửa sổ” cùng với suy diễn của thằng bé có quyền diễn dịch theo ý của mình…Và thật dễ thương cho những lời thoại chất vấn những câu hỏi của đám bạn như: “Nhảy cửa sổ, chắc chắn là do chán học, nếu không chán học thì nhảy của sổ làm gì? Ba mày là học sinh cá biệt. Rồi ba mày có bị làm sao không?...” Và không gian tuổi thơ vô cùng hấp dẫn:  “Thường thì nó đợi bọn kia tung ra hết các câu hỏi, rồi nó mới lần lượt trả lời… có khi nó bảo đám bạn về nhà suy nghĩ đi, sử dụng hết các quyền trợ giúp đi, nếu không có đáp án cuối cùng thì hãy tìm tới nó”. Cách dùng từ bay- bay ra ngoài của sổ, thế giới thoáng đãng cảm xúc thì lại đối lập sự quan tâm bó buộc của giáo dục. Phụ huynh phải nhượng bộ công tác quản lí nhà trường: “…đó là câu chuyện bịa đặt kể cho vui thôi, không có thật đâu,…  nếu như tôi nhảy của sổ thì phải bị sao đỏ hay như thầy giám thị đây phát hiện, rồi cô chủ nhiệm bắt làm kiểm điểm, rồi cô hiệu trưởng mời lên phòng uống nước trà, như vầy nè. Chứ làm gì có chuyện nhảy của sổ trốn học mà không bị gì. Chuyện kể cho con nít nghe thôi mà. Tôi xin lỗi vì đã đùa quá trớn. Cũng có thể là do thần kinh tôi có vấn đề. Tôi thành thật xin lỗi. Xin các vị hãy tha cho tôi…” đến đoạn kết ra về trong một tâm trạng đầy dao động “…mắt cứ dán mãi xuống mặt đường, không biết trên cao kia có cái gì đang bay, hay chỉ là những hạt mưa bắt đầu rơi xuống”. Và đến lúc này người đọc mới thực sự lưu ý lời đề từ Nhà văn Trần Nhã Thụy đã dẫn vào trang bìa “Con người ta có thể học hành nhiều thứ, nhưng không có một trường lớp nào dạy con người ta sống thú vị.”
          Thêm một cái kết khẳng định: “Một câu chuyện tưởng tượng, nó bắt đầu từ một trưa tôi rảo bộ ra phố tìm một tiệm cơm bình dân,…nhưng rồi thấy mấy chú công an phường cùng một đám lâu là dân phòng lùng bắt mấy người hút thuốc lá lậu, rồi tôi bỏ bữa ăn tò mò ngồi dòm, rồi rốt cuộc tôi mua được một hộp xì gà Cohiba,… tôi vẫn để hộp xì gà trong túi xách của mình để thỉnh thoảng lấy ra đưa lên mũi quẹt quẹt hít hít như một kẻ nghiện ngập dở người”(Hội xì gà). Vậy công việc nhà văn, sự lặp lại sáng tạo từ hương thơm thực tế “quẹt quẹt hít hít như một kẻ nghiện ngập dở người” cộng với “câu chuyện bịa đặt” làm tròn tác phẩm nâng cao giá trị thẩm mĩ thu hút độc giả của mình.
       Ba tao bay ra ngoài cửa sổ có thể xếp vào những tập truyện ngắn chọn lọc cho ta suy ngẫm công việc người cầm bút 2020 này, hay xưa nay có thế không.
07.04.2020.