Thứ Tư, 5 tháng 7, 2023

SẮC HƯƠNG GÓP NHẶT NÊN ĐỜI

 

Đọc tập thơ Thức của Bạch Xuân Lộc

                         SẮC HƯƠNG GÓP NHẶT NÊN ĐỜI



               Sắc hương góp nhặt nên đời

               Mốt mai mây trắng ngang trời lênh đênh...

        Đó là cảm xúc đề từ khi đọc tập thơ Thức của Bạch Xuân Lộc.

        Khởi nguồn từ trái tim yêu làng chài, nơi anh cất tiếng khóc chào đời, trên chiếc nôi cánh võng đong đưa con sóng bên Bãi nồm Nhơn Lý. Quả thật, cái khát khao tĩnh lặng rất tự nhiên, nhưng sóng mãi ngàn năm yêu bờ, có chăng là sự nghịch lí. Với thi nhân, đến bao giờ chọn mặt gửi vàng. Cái vàng xuất phát từ chân thiện mĩ đã làm nên cốt cách một Bạch Xuân Lộc với 99 bài thơ đa thể loại, đa phong cách. Tập trung vẫn là câu chữ mộc mạc chân chất, cộng vào cảm xúc phóng khoáng con người sông nước ăn sóng nói gió, vật lộn với gian nan vất vả, khó khăn cực nhọc mà ngàn đời dân chài chịu đựng, đã nuôi dưỡng tâm hồn anh, cho ta trân quý tác giả trọng ý không cưỡng từ khi thi tứ bật lên, lúc cô đơn tìm về, trong lời Tự tình* tha thiết:

              “Muốn ngồi một chút với một tôi,

                Không gian yên tĩnh vắng lâu rồi,

                Vị cà phê đắng như màu đá,

                Hương thời gian và gió buông lơi...”

         Cô đơn bầu bạn, trêu ngươi, thách thức hành trình xuyên suốt cả tập thơ. Chỉ có hương thời gian và gió buông lơi tác động mạch cảm xúc sẻ chia theo mỗi chủ đề. Mở ra cái nhìn đầy thiện cảm: “Nơi kia cũng giữa đất trời/ Ở đó vẫn có những người mình yêu!”(Chạnh lòng)*. Những người mình yêu ắt hẳn sẽ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đong đầy vẫn chính là tác giả chân tình với người thân, họ hàng, bạn bè,... kể cả mọi vật xung quanh như (Phượng xứ Melb, Bạch đàn,...)* Nhất là tiết trời chuyển mùa từ thu sang đông khi khoảnh khắc (Đợi vàng chiếc lá, Sắc thu, Thu của Melbourne,...)* cho anh xao xuyến không nguôi:

              “Cuối thu gom nốt lá vàng,

              Vùi sâu nỗi nhớ đa đoan sông hồ.

              Suối thu róc rách đôi bờ,

              Sau lần tương hội con đò về đâu.

              Gieo neo chi trắng mái đầu?”

                                         (Bright, màu lá)*

         Có phải là gieo neo trắc trở, vất vả mới vượt qua được. Mà đúng là vậy. Gian nan đủ thử sức người. Bền bỉ, chịu đựng chính là lòng nhân. Ngẫm cho cùng thì đời người đâu đo bằng tuổi tác. Giá trị cuộc sống là sự dấn thân, từng trải, chiêm nghiệm luôn được nâng cao và lưu trữ thể như sự hiển nhiên vốn có trong đời:

           “Đò chiều... không ngóng không mong,

             Có qua thì chống chứ trông chờ gì…

             Đò chiều…buông bỏ sân si,

             Tham an thanh thản đường đi lối về”.

                                                   (Đò chiều)*

      Tình yêu trong thơ Bạch Xuân Lộc cũng bắt đầu từ những “đường đi lối về” khi mà những tứ thơ (Tâm an, Sáng thứ ba, Đi lễ chùa...)* có thể phối hợp nhịp nhàng lớn lên trong các mối quan hệ. Xuất phát từ tấm lòng kính yêu mẹ đơn côi tuổi già nhưng tràn đầy năng lượng sống, là chỗ dựa tinh thần cho con nơi phương trời xa tìm về với quê hương, nguồn cội không xa lắm (Từng bước tới lui, Chỉ là màu tóc mà thôi,...)* với lời nhắn nhủ:“Về đây em mộng sum vầy,/ Tình kia dẫu đã như mây vô thường./ Vũng Nồm/  nối kết yêu thương” (Vũng Nồm mùa hạ)*. Về với gia đình, dẫu lắm lúc biết thời gian nghiệt ngã vô cùng, một sự thật chấp nhận như khi: “Vậy đó nhớ Me cứ gọi về/ Mặc dù âm sắc bà chẳng nghe/ Nhưng thôi gọi để như nhắc nhớ/ Ký ức xa xưa lối đi về”(Mẹ nghe không rõ)*.

           Nhắc nhở ký ức xa xưa rồi gần lắm, nhớ nhung “Được có bữa trưa với Mẹ/ Cơm canh hạnh phúc thắm tình/ Xưa nay nhà mình vẫn thế.../ Chung tay chén vỡ chén lành”(Bữa trưa)*. Gìn giữ vẹn nguyên tấm lòng thơm thảo ngọt bùi đùm bọc: “Nhớ ngày giỗ Cha, cả nhà chung tay từ thiện.../ Cứu tế bà con trong mùa biển động khó khăn/... Giúp đỡ nhau cân gạo cọng rau/ Văn hóa cưu mang quý hóa bền lâu!...” (Nhân ngày giỗ cha)*. Trân quý biết bao nét đẹp văn hóa nghĩa cử phát sinh từ trong gia đình luôn được nhân rộng ra cộng đồng xã hội.

          Với Thức của Bạch Xuân Lộc là ngày về họp mặt những năm tháng trong nhà trường sư phạm thuở nào. Rồi nén bao cảm xúc hay tin: “Tiễn biệt Thầy phút cuối đời/ Có thương, yêu... lắm mấy lời phù du. / Chốn thế gian chút công phu/ Xây nhân dựng cách ngàn thu mãi còn”(Tiễn biệt thầy Trần Văn Mẫn). Mất và còn với Thức, đủ bừng tỉnh có khác gì buông và giữ. Nâng niu một chút xuân thì cái thuở còn Với xuân 2021*:

             “Thời gian quấn quýt bên nhau

              Tuần trăng chưa đủ thương đau ít nhiều.

               Em ơi nắng gió đìu hiu

               Vàng lên mấy dãi mây chiều trôi nhanh”

          Thức là bản hợp ca đồng điệu hướng về tịnh thiền, hoan hỉ: “Quy Nhơn đợi Ca-li./ Thương nhớ vô định kỳ/ Ca-li. chừng hội ngộ/ Hạnh phúc Quy Nhơn thì...// Vui niềm vui đoàn tụ/ Vơi đi điều nghĩ suy/ Sau đại dịch CoVid/ Tấm chân tình khắc ghi!”(Công nghệ yêu thương)*. Tìm về Thức với Bạch Xuân Lộc là nhận ra sự hiện hữu một Quy Nhơn lưu dấu tâm hồn đầy kỉ niệm khó quên: “Đêm Quy Nhơn khuya /vẫn còn đông người trên bãi/ Hiu hắt ngọn tây nam/ chưa đủ mát ven bờ/ Ta về đây bên em / tình yêu ấy chẳng hẹn thề/ Như gặp để gỡ / cái âm thầm giữ hồi ngăn cách!”(Gặp gỡ)*./.

                                              05.07.2023/ Nguyễn Thị Phụng

........

*Tên các bài thơ trong tập.

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

TIỄN MỘT ĐỜI ĐÃ XANH, Nguyễn Thị Phụng

     TIỄN MỘT ĐỜI ĐÃ XANH



                    Đọc bài thơ Lá của Anh Phương, facebook 05.06.2018.

          Nếu như nghe trong ca khúc “Lá còn xanh như anh đang còn trẻ, lá trên cành như anh trong toàn dân... anh là lá trên cành ngại chi gió mưa, anh là trai phải ra chiến trận phen này...” đầy hào hứng thử thách gian lao của người trẻ tuổi. Thì Lá trong thể lục bát của Anh Phương không là đối lập, mà chính là tiếng thơ làm nên một thi sĩ trên diễn đàn tự do facebook mở rộng cho nhiều bạn đọc thưởng thức:

             LÁ ...

        Chiều nay vuốt mặt lá vàng

         Là khi tiếng gió lầm than...dỗi chiều

         Em rồi góp nhặt bao nhiêu?

         Một mai lá thản nhiên liều cuộc rơi

         Đêm xao xác gió...lá ơi

         Nỗi buồn sẽ ruỗng xuống đời nỗi phai

         Một mai lá úa một mai

         Ai người quét lá tiễn dài vệt đi

         Đêm nghe tiếng lá thầm thì

         Gió nghiêng tai hóng tiếc vì thuở xanh

         Thương cho chiếc lá rời cành

         Chiều sao lắm nỗi... chòng chành lá bay...

                                                                    A,P

        Bài thơ được viết một mạch không phân đoạn. Nhưng cái tứ chặt chẽ trong cảm nhận tinh tế chút kiêu hãnh khôn nguôi, chút man mát luyến lưu, chút vấn vương là thế sao, biết rằng phải giã từ sau lần tái hợp là không thể tránh được.

        Nếu như tách được bốn câu đầu cho sự khẳng định nguyên nhân là tất yếu tác động lên bề mặt lá vàng, gió kia trăn trở rất khách quan là sự luân lưu khí quyển. Đành vậy. Đã chiều rồi kia. Có là hốt hoảng chút bâng khuâng thảng thốt: “Người ơi, trời sắp chiều rồi/ Nắng bâng khuâng rụng trên đồi hoàng lan”(Cao Hoàng Từ Đoan). Không. Chiều vẫn nên thơ, ấm áp. Mà đời xanh vốn có tự ban mai, thuở xuân thì đẹp đẽ. Cái từ vuốt, trong “vuốt mặt” rất hình tượng và đa nghĩa. Nhưng cũng chừng mực, từ tốn trân trọng biết bao:

        “Chiều nay vuốt mặt lá vàng

          Là khi tiếng gió lầm than... dỗi chiều

          Em rồi góp nhặt bao nhiêu?

          Một mai lá thản nhiên liều cuộc rơi”

       Với cử chỉ “Chiều nay vuốt mặt lá vàng/  Là khi tiếng gió lầm than... dỗi chiều” có là lần cuối cùng của gió vuốt mặt chiếc lá vàng mà trách mình hay dỗi chiều đến vậy ư!... Và cơ hội cho lần nữa có còn được chăng!... Thì hai câu tiếp “Em rồi góp nhặt bao nhiêu?/ Một mai lá thản nhiên liều cuộc rơi”. “Em” lúc này trong thế bị động, câu phát vấn đặt ra có còn nói với chiếc lá, hay với em, hay chính thi nhân. Trong cách “góp nhặt” cho hay nhận. Giữa quyền lợi và nghĩa vụ với mức độ như thế nào. Thiên vị hay công bằng. Để rồi, đời lá đời em đối mặt với trần gian cho một lần xuất hiện có an yên và thanh thản hay không.

          Đến với hai khổ thơ tiếp theo:

              “Đêm xao xác gió... lá ơi

               Nỗi buồn sẽ ruỗng xuống đời nỗi phai

               Một mai lá úa một mai

               Ai người quét lá tiễn dài vệt đi

               Đêm nghe tiếng lá thầm thì

               Gió nghiêng tai hóng tiếc vì thuở xanh

               Thương cho chiếc lá rời cành

               Chiều sao lắm nỗi... chòng chành lá bay...”

        Với cái kết đẹp trong nhịp thơ lục bát, vốn từ ngữ lay động tâm thức con người, hay là linh hồn cuộc sống rất cần được sẻ chia. Đêm đâu dễ gì tĩnh lặng. Bởi gió nói gì mà xao xác lá ơi. Tiếng lá thầm thì cùng gió. Trong cái rối loạn cảm xúc của đêm cũng qua, rồi gió sẽ đến hồi bình lặng trở lại, nỗi buồn cũng sẽ ruỗng xuống đời nỗi phai kia. Và tiếp nối không nguôi cho dòng đời bất biến. Bên cái vô thường cũng niên viễn hợp tan.

           Hình ảnh Lá bất tận vô cùng phong phú cách diễn đạt. Bởi về mặt sinh học, lá là dưỡng khí, là bóng mát ban trưa, là mái nhà cánh chim bay về trú ngụ, là tỏa bóng râm hò hẹn chuyện trò. Và không còn là giả thuyết nhìn lá là biết sức mạnh của cây nữa. Đời lá, đời người sinh ra là cùng nhau bảo bọc nương tựa. Và cũng thấu hiểu, tiếc nuối chuỗi ngày dài thân thiện bên nhau, cho một chút lo xa của tác giả hay tình đời của ai đó người ơi: “Một mai lá úa một mai/ Ai người quét lá tiễn dài vệt đi”. /.

                                                   06.06.2023 / Nguyễn Thị Phụng

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2023

TÍN NGƯỠNG BẬC TIỀN NHÂN -Góc nhìn về tên gọi Lễ Hội Chùa Bà- Cảng thị Nước Mặn, của Nguyễn Thị Phụng

                    TÍN NGƯỠNG BẬC TIỀN NHÂN

       Góc nhìn về tên gọi Lễ Hội Chùa Bà- Cảng thị Nước Mặn



       (Trong buổi Tọa đàm Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia về Lễ Hội Chùa Bà- Cảng thị Nước Mặn hôm thứ bảy, 13. 05. 2023 do Chi hội Văn nghệ Dân gian của Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định tổ chức tại Quy Nhơn).

            Tín ngưỡng bậc tiền nhân là đời sống văn hóa tinh thần không thể thiếu đối với dân tộc ta.

        Nói đến Di tích Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn ở thôn An Hoà, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định được xem là một ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và nổi tiếng linh thiêng. Còn là điểm đến của nhiều người dân và du khách thập phương khi xuân về, Tết đến.

       Chùa là nơi thờ Phật, thuộc tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn ở đây lại là nơi tín ngưỡng bậc tiền nhân quê mình.

        Từ trong buổi Tọa đàm Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia về Lễ Hội Chùa Bà- Cảng thị Nước Mặn cách đây ba năm. Đó là hôm thứ bảy, 13. 05. 2023 do Chi hội Văn nghệ Dân gian của Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định tổ chức tại Quy Nhơn, thì thông tin ở một số tham luận trình bày đã nêu rõ vào khoảng thế kỷ XVI, XVII, nhiều người Hoa di cư đến Nước Mặn. Họ không những lập nên phố xá buôn bán sầm uất mà còn mang theo tín ngưỡng của mình, điển hình là thờ Quan Thánh và Thiên Hậu. Chùa Bà được dựng lên vào giai đoạn này. Từ giữa thế kỷ XVIII trở về sau, biển lùi ra xa, tàu thuyền lớn không vào cảng thị Nước Mặn, cảng thị này suy tàn dần.

         Nhưng sự thật Quán Thánh Thiên Hậu là người từ trong truyền thuyết ở Chùa Bà được dựng khoảng năm 1610, thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu – một nhân vật thể như thần thoại Việt Nam có công cứu vớt tàu thuyền mắc nạn trên biển. Các tàu thuyền thường đặt bàn thờ Bà đầu mũi thuyền để khấn bái phù hộ khi lênh đênh trên biển cả. Theo một sự tích kể lại, Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật Lâm Mị Châu tức Lâm Nương Nương từ đời vua Tống Nhân Tông, sinh năm Giáp Thân (1044) lúc lên mười một tuổi đã tâm nguyện ăn chay theo Phật, đã đọc được cổ thư, rồi từ đó tự luyện mình đắc đạo. Là con gái gia đình lao động, thường dệt vải ở nhà, hôm đó trong người có điều gì khác lạ thể như linh tính trong thần giao cách cảm, nàng mắt nhắm rùng mình lo lắng sau cái đánh thức của người mẹ, nàng hốt hoảng lo lắng sự báo mộng cho chuyến thuyền của cha và các anh đang chở muối đi bán bị sóng lớn dìm thuyền. Sau đó mấy ngày, mới biết tin người cha bị sóng dữ cuốn mất, còn các anh trai được cứu thoát nạn. Từ đó tin truyền rất nhanh, hễ trước khi thuyền rời bến ra khơi, họ đều đến vái bà nhờ cầu thuận buồm xuôi gió, ơn bà phù hộ. Cũng từ đó về sau này bà được người dân tôn vinh Thiên Hậu Thánh Mẫu, lập miếu thờ duy trì niềm tin an lành trong cuộc sống.

       Sau hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều di tích còn lại của cảng thị bị xóa sạch. Chính quyền địa phương tu bổ lại chùa Bà - miếu thờ duy nhất còn lại ở vùng trung tâm cảng thị Nước Mặn cho đến ngày nay.

       Với tấm lòng thành kính tín ngưỡng cầu an bình thịnh vượng cho cuộc sống sung túc hơn, người dân nơi đây nhất là thương nhân đóng góp xây dựng lại đền thờ Quan Thánh Thiên Hậu, trước đây hay gọi là Chùa Bà, để tỏ lòng biết ơn Thiên Hậu và Thánh mẫu đã phù trợ chở che cho mưa thuận gió hòa, tàu thuyền ra vào tấp nập giao thương hàng hóa, cho ngư dân ra khơi vào lộng tôm cá đầy ghe, cho nông dân mùa màng bội thu, cho gia đình ấm no hạnh phúc con cháu hiếu thảo thuận hòa siêng năng học hành lễ phép, cho xóm làng đùm bọc chở che,...

       Chùa Bà có kiến trúc độc đào tấp áo theo kiểu chữ Nhất. Thiết kế 3 gian. Gian chính chùa Bà thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng bằng gỗ sơn son thếp vàng, tạc trong tư thế ngồi, mặc triều phục, chân đi hài mũi cong, khuôn mặt bầu, phúc hậu, trầm tư. Hai bên có 2 tượng đứng là 2 vị Thiên Nhĩ và Thiên Nhãn dưới gầm bàn thờ bày 2 tượng thần Hổ nằm, tư thế khác nhau. Phía trên gian chính là bức hoành phi đề 4 chữ “Hộ quốc tý dân” (hộ nước giúp dân) do triều Nguyễn ban tặng. Bàn thờ bên trái thờ Thần Hoàng làng; Bên phải là bàn thờ bà Thai Sanh Thánh Mẫu.

        Lễ hội Chùa Bà- Cảng thị Nước Mặn được người dân tiếp nối gìn giữ qua rất nhiều đời.

        Phần Lễ: đậm văn hóa tín ngưỡng dân gian như: nghinh thần, rước sắc, rước biểu tượng ngư - tiều - canh - mục.

        Phần Hội: đậm văn hóa sinh hoạt dân gian với các hội thi đấu bóng, bài chòi, trò chơi dân gian như nhảy bao, kéo co, đi cà kheo,...

        Người dân Nước Mặn, ở An Hòa xã Phước Quang xem lễ hội này là cái Tết thứ 2 trong năm (sau Tết Nguyên đán) thường tổ chức vào ngày cuối tháng giêng thường năm, nếu là tháng thiếu thì ngày 29, tháng đủ là ngày 30, và hai ngày tiếp theo là ngày 01 và ngày 02 tháng 02, từ đó người dân nơi đây thường truyền tụng nhắc nhở: “Tháng giêng xem hội chùa Ông/ Mà lòng nhấp nhổm chờ mong hội Bà/ Ai đi buôn bán nơi xa/ Lo về kịp hội quê nhà thường niên”(Ca dao Bình Định).

        Lễ hội Chùa Bà - Cảng thị Nước Mặn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào ngày 04.08.2022. Đây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thứ tư của tỉnh Bình Định được ghi danh, tiếp sau Võ cổ truyền Bình Định, Hát bội Bình Định và Nghệ thuật Bài chòi Bình Định.

        Vậy thì, trở lại với tên gọi Chùa, trong Chùa Bà có phù hợp với tín ngưỡng tri ân bậc tiền bối, những người đã lần đầu đặt chân đến ở nơi đây, mở ra cuộc giao thương làm nên Cảng thị Nước Mặn ngày ấy. Hay là sự tôn vinh văn hóa tinh thần trong tín ngưỡng của người Việt có nói quá lắm không. Nên trong cách gọi từ ngôi miếu nơi thờ cúng còn sót lại, mà nhân dân nơi đây ưu ái xây dựng lại sao không gọi là ngôi Đền thờ Bà – Thánh mẫu, Cảng thị Nước Mặn gần gũi với văn hóa tinh thần Việt của mấy nghìn năm để lại. Để không trùng lặp và nhầm lẫn với tên Chùa trong tín ngưỡng Phật giáo. Cũng có thể gọi Chùa là nơi thờ Phật, mà Phật tại tâm mà ra. Có thể từ đó gọi Chùa trong Chùa Bà là thể hiện sự an lành, chở che từ tấm lòng người mẹ muôn đời yêu quý con dân.

                                                                         Nguyễn Thị Phụng


          

                                                              16.05.2023/ Nguyễn Thị Phụng

 

 

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

BÊN CẠNH NHỮNG BỘN BỀ.(Đọc Góc phố ba người của Nguyễn Mỹ Nữ) Nguyễn Thị Phụng

 BÊN CẠNH NHỮNG BỘN BỀ.

         (Đọc Góc phố ba người, tập truyện ngắn của Nguyễn Mỹ Nữ, NXB. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2022).

         Bằng sự tử tế trong cuộc sống thường ngày và khiêm tốn là tính cách đáng trân trọng khi đọc văn Nguyễn Mỹ Nữ. Chị không chỉ là Nhà văn viết cho thiếu niên của Nhà xuất bản Kim Đồng, là cây bút tản văn hấp dẫn. Và dẫu Bên cạnh những bộn bề với những vướng mắc Covid-19 cùng di chứng để lại, Nhà văn vẫn kịp thời ra mắt bạn đọc Góc phố ba người (NXB Tổng hợp Thp. HCM- 2022) là tập truyện ngắn thứ tư trong tám tập sách đã xuất bản. Ấn tượng nhất của bạn đọc đối với Nguyễn Mỹ Nữ đâu chỉ là giải thưởng vinh danh như ở các cuộc thi truyện ngắn tuần báo Văn nghệ(1998-2000), tạp chí Văn nghệ Quân đội(2001-2002 và 2005-2006), hay Giải thưởng Đào Tấn- Xuân Diệu lần III, IV, V. Không là liệt kê, sức hấp dẫn ở 15 truyện ngắn trong Góc phố ba người với phương thức biểu đạt tự sự có cả lập luận chân tình pha chút dí dỏm, lại ấm áp yêu thương chủ yếu miêu tả sự tiếp xúc, va chạm giữa con người và xã hội rất cô đọng và súc tích, độ nén trong khoảnh khắc kể cả tựa đề hấp dẫn chỉ từ một tiếng: Hát, My, Thở, Ám, Siêng, Vỡ, Diễn;  từ hai tiếng: Tiền bay, Vui vầy,... đã làm nên một Nguyễn Mỹ Nữ không thể nhẫn nha khi mà cuộc mưu sinh hối hả.

         Góc phố ba người là sự thẩm thấu tính cách phụ nữ biết sẻ chia và trân trọng. Đó là cái tình vốn có ở tấm lòng phụ nữ. Nếu như trong tận cùng ngược lại dẫu gian nan dễ làm con người so đo tính toán, thì cái chừng mực điềm tĩnh được phát huy, không ồn ào căng thẳng, hướng đến sự lựa chọn tế nhị đầy bất ngờ trong Khẽ và thầm* khá trăn trở nội tâm ở nhân vật “tôi”- người phụ nữ không thể sống chung cùng với chồng thường ngày, nhưng vẫn trong vai là vợ là chồng bên nhau những ngày bảo hỉ của các con, sum vầy với các cháu, thời gian li thân đủ nếm trải cô đơn tâm hồn ngỡ đã tìm ra sự đồng điệu cảm xúc khi đọc lại dòng tin nhắn từ nhân vật Luân ở cuối truyện: “Anh có ý nghĩ em chính là cơ may cuối của đời mình. Và hẳn em cũng thế! Chúng ta có nhau vào khoảng này vẫn tốt hơn... Trễ đâu hẳn là muộn. Và giá mà anh có thể? Cuốn phăng những ý nghĩ em lay bay, những lười lĩnh em những chênh chao em những đắn đo, những toan tính ở em...Cuốn, theo cách của anh ấy mà”. Phần nào khẳng định “Tôi trở về. Bỏ lại một biển đêm trăng non. Mênh mang và bàng bạc. Và khuya đó với lòng thật bình yên.” cho một cái kết rất khẽ và thầm. Còn Những cuộc hẹn cuối ngày* dẫu gì cũng là mối quan hệ vợ chồng thời trẻ và tuổi già lắm lúc vướng mắc cũng sẵn lòng tha thứ cho nhau, nhưng cách chọn sống độc lập không ràng buộc đôi khi là sở hữu của tự do. Ở truyện My*- nhân vật trẻ trung, năng động, không thích những gò bó, nhưng cái kết không thể duy trì, chọn cho mình mái ấm yêu thương.

        Không gian gia đình là mối quan hệ ràng buộc phụ nữ trong Góc phố ba người. Gia đình là mấu chốt của yêu thương, là sẻ chia, nhưng khi những câu mâu trong sinh hoạt thường ngày của gia đình nhà chồng đông anh em khó có sự thông cảm và bao dung, người phụ nữ- thân phận là dâu tìm đến tiếng hát mọi lúc mọi nơi là cách vượt thoát gò bó tù túng cảm xúc như chị Nhung trong Hát*. Còn kết cấu Rượu và Sương* là những dằn vặt của gã được mở ra cách ẩn dụ cướp công của loài chim cánh cụt lười xây tổ cho riêng mình. Nhưng hạnh phúc chẳng thể đong đầy trong tháng ngày tiếp nối khi vợ gã ấm ức nhận ra cái đớn hèn nhu nhược ấy: “Cả đời tui đã thúi hoắc, còn có thêm thằng chồng hờ thúi hơn nữa, chịu gì nổi? Thà sớm bửng cha lo nốc giùm mấy ngụm rượu mới, cho cái râu nó thơm. Cái miệng cha không thơm nổi đời cha sao thơm?...”. Người đọc hẳn sẽ hả hê với ý tưởng: “...Người ta căm thù rượu lại phải ập vào rượu và người ta thích rượu và người ta thích cả sương. Nhưng say sương thử hỏi ai đã từng.” Cả nỗi đau dằn vặt đầy ám ảnh: “Ông đánh cắp của người nên đâu có giữ được cho mình. Đúng không?” có là bài học nhớ đời không riêng gì gã.

         Những cảm xúc ban đầu có là câu trả lời cho tình yêu kết nối? Đã có trong Góc phố ba người với cốt truyện Siêng* giữa sự đối lập mối quan hệ vồ vập chóng vánh giữa hai nhân vật “chị và anh” cuối cùng nhận ra thực tế: “Nhưng anh lười, chị lười khiến mọi thứ nơi đây ngày một tồi tệ thêm, nên, tan rã ấy là điều tất nhiên. Thôi, trả lại anh người lười ngay đến cả nụ cười với vợ. Thôi, thu về chị người phụ nữ lười ngay cả đến việc nấu cơm cho chồng”, đến hồi tháo gỡ ràng buộc để không làm tổn thương trái tim cho nhau. Khi đọc Vỡ* tìm ra cái kết hôn nhân nên duyên chồng vợ khởi đầu từ sự hiếu sắc, mà đàn ông mấy ai yêu đạo đức như yêu sắc đẹp thì họ thành thánh tất cả. Thánh giữa đời thường quá hiếm, bởi ở gã từ lúc đầu “phất phơ và lông bông sống cho qua ngày” và còn “Gã rất mê đàn hát và vợ gã, là hoàn toàn ngược lại” nhưng vòng đời níu kéo chung mái nhà, chung con cháu, chung số phận. 

         Ngổn ngang thanh âm vơi đầy vọng lại là tiêu đề trong Góc phố ba người. Sẽ dễ dàng nhận ra thanh âm giữa bộn bề góc phố không trùng lặp. Từ truyện ngắn Ám* đầy câu mâu, cả quyết ngỡ như mình đang bị xúc phạm, bởi bản tính con người tự trọng như cô Bốn đầy bảo thủ.  Với Thở*, khởi đầu từ tiếng guốc vỉa hè của em bé trước nhà đối diện luôn là sự cô lập, tách biệt, sự bất an, mà trong nhà người mẹ hành nghề mại dâm, không gian góc phố ngột ngạt. Cái hay ở Diễn*, chỉ là khoảnh khắc đường phố cho mọi người tham gia giao thông, người gây ra tai nạn từ lúc đầu “Biết mình sai nhưng vẫn lớn giọng trấn áp, đè bẹp người khác. Mà không xong và bị lật tẩy thì tức khắc, đóng vai khờ khạo tội tình...”. Cảm nhận ở nhân vật “tôi” đủ khẳng định không tìm đâu xa trên sân khấu, ngay thực tế đường phố cũng diễn quá sinh động kia mà.

       Trong bộn bề vẫn tìm về nhịp thở sinh sôi. Nơi Góc phố ba người* là truyện kể về ba cô gái nông trường, trong đó Hạnh là một trong những phạm nhân sau khi mãn hạn tù, sẻ chia: “Em sợ ra đời không kiềm giữ nổi mình rồi hoang hư lại”. Nơi đây, với Hạnh đúng nghĩa với cái tên của em, xốc xáo nhanh nhẹn mọi việc, hòa nhã khéo léo tốt bụng nên tất cả yêu thương sẻ chia. Nhưng sự đời không như ước mơ đẹp của “tôi”về Hạnh, Hạnh đã phải là người mẹ đơn thân sinh con ngay trong đêm giao thừa và trú ngụ bên mái hiên nhà trong giá rét không người thân thiết. Mà được tình bạn cưu mang nhau lúc cơ nhỡ này. Vẻ đẹp “tôi”- giữa những người phụ nữ trong Dăm phía đời, gác lại*, nơi phương trời xa và cuộc trở về những triền miên xáo trộn, bề bộn lo âu. Nhưng tìm ra cho mình được góc nhỏ đời sống tâm hồn: “Lạ thật! Bởi đã quyết lòng “thôi thì gác lại...” vậy mà trái tim mình vẫn đập rộn những nhịp vui, khi dõi theo một sắc màu lấp lánh, một bóng nắng lung linh nơi khu vườn nhà cùng với mọt người đàn ông có tên là Kurt”. Riêng một không gian bao trùm cuộc gặp gỡ của các cựu thanh niên xung phong trong Vui vầy*đầy kỉ niệm gắn bó của thời trai trẻ nơi từng xa núi cao, giờ xa xôi lắm.

        Góc phố ba người với bài học nhân sinh bất ngờ sâu lắng. Nếu như ở truyện ngắn Tiền bay* khi cuộc đời không cho mình sự lựa chọn nghề nghiệp như: cùng nghề đan thúng, túng nghề đan nia nữa. Cái cung và cái cầu luôn song hành cho nghề mua bán chim trời đầy vật lộn. Một cái kết truyện đầy ám ảnh trong tuyệt vọng gió cuốn cả người và giỏ nhốt chim rơi xuống cầu, phút cuối cùng được vớt lên bờ, người đàn ông nhanh tay mở cánh cửa lồng cho chim bay về trời. Thì đến với Điều may mắn cuối cùng* lại là sự tự giác lương tâm, luôn bảo vệ sức khỏe con người nên đã hỏa táng con Nu, vật nuôi trong nhà, vì không muốn tiếp tay cho gian tham có cơ hội đào lên xẻ thịt bán cho người tiêu dùng.

       Truyện ngắn của Nguyễn Mỹ Nữ trong Góc phố ba người , nhưng không còn là của riêng ba người mà của chung bạn đọc. Kết cấu mỗi truyện cũng là thước phim đời người trong mỗi cảnh. Nơi ấy chứa bao nhiêu là tình người luôn được cân bằng trong vun đắp trong ân cần mách bảo. Nơi ấy còn là thông điệp về lương tri con người, hãy vì con người sống tử tế bên nhau. Nơi ấy, những dối gian sẽ không còn lặp lại. Nơi ấy là bầu trời phóng khoáng, tâm hồn luôn cởi mở và kết nối yêu thương./.

......

*Tên các tr.ngắn trong tập.                               13.06.2022 / Nguyễn Thị Phụng

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2022

KHÁI NIỆM THẨM MỸ TRONG THƠ LỤC BÁT H. MAN - Nguyễn Thị Phụng

                        KHÁI NIỆM THẨM MỸ TRONG THƠ LỤC BÁT H. MAN



 

       H. Man làm thơ từ năm 1972, đến nay đã trọn nửa thế kỉ. Dấu mốc làm thơ không là thời gian, và rất hiếm những tập lục bát đã trình làng như H.Man 35 bài lục bát(NXB.Văn học 2011) và tiếp đến nay Lục bát bay vòng(NXB Văn học 2022), tôi cho đó là kỉ lục “xưa nay hiếm” của một thi nhân vừa tròn thất thập, tính kỉ lục được bắt nguồn từ cảm xúc tha thiết yêu cuộc đời đến dường nào. Vậy yếu tố thẩm mỹ trong mỗi tứ thơ lục bát H. Man thấm đượm dòng sông Thu Bồn trải qua mưa nắng, trong ngọt ngào bên võng mẹ đưa: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”(Ca dao). Cái ánh trăng vàng ấy bất biến trong Lục bát bay vòng lung linh vỡ ra rồi tròn trịa cơ hồ như bức thủy mặc của họa sĩ tài hoa.

      Yếu tố thẩm mỹ không thể thiếu trong mỗi tứ thơ, đó là cái đẹp khó trộn lẫn với loại hình nghệ thuật thẩm mỹ nào. Tự thân ở mỗi từ trong từng câu thơ có nhiệm vụ khơi gợi thể mặt trời sinh ra ánh sáng theo mùa. Nhưng vì sao ở trong bài thơ Lau trắng* có sự chấp nhận, không một chút phân bua: “Ừ thôi! Một góc trời nầy/ Bờ lau phủ trắng một ngày đìu hiu”. Thể chừng đủ sức khẳng định một sự cầm cố cô đơn, nhưng đó có thể là một nửa, có thể nửa còn lại nơi miền xa kia an nhiên kết hoa đơm trái. Thơ có là chốn mong manh nỗi buồn đẹp nhưng chưa kết thúc: “Tôi cầm một nửa trái sim/ Dẫu lưng bát nước cũng chìm nổi tôi”(Một nửa)*.

        Đến với tập đầu tiên H. Man 35 bài lục bát:

        Có thể khi chìm nổi tôi chỉ của riêng anh mà lay thức thị hiếu thẩm mỹ ở người tiếp nhận: “Đưa người, dài một bến sông/ Về, làm sợi nắng giữa mênh mông vàng”(Tiễn người)**. Không gian bến sông là một thực thể tồn tại đã từng đi vào ca dao vốn gặp gỡ và chia tay, lúc này với H. Man, tiễn người “dài”trong thẳm sâu nhung nhớ, vốn gắn liền một kỉ niệm ấm áp rời xa, khoảnh khắc ấy nung náu âm thầm mong manh quá đổi cho cái đẹp “sợi nắng” cứu cánh câu thơ anh, bừng sáng không trùng lặp từ vốn kế thừa bậc tiền bối Bùi Giáng thi nhân với dòng chảy miên man, lặng lẽ: “Âm thầm như nhánh sông quê/ thấm sâu vào đất câu thề đã xưa”(Đường về)**. Chỉ một nhánh sông quê đủ làm nên mùa vàng cho sự sinh sôi cánh đồng văn mà anh chăm chút. Cuộc sống vốn bình thường, nhưng được nâng lên nhờ sắc xuân tươi trẻ. Thơ H. Man 35 bài lục bát dù có đượm buồn, nhưng là cái buồn thi vị đáng trân trọng biết bao cho sự sinh tồn tiếp nối, cho sự tận hiến khôn nguôi:

        “Cháy lên những mụn than hồng

         Rồi tan loãng giữa mênh mông đất trời

         Cội nguồn sông suối à ơi

         Đất quê khép chặt mấy lời kệ kinh...”

                                                     (Đất khép)**

         Đất khép lại mở ra những khao khát cháy bỏng trái tim thi nhân. Không là cái cớ của một Lưu Trọng Lư “Ai bảo em là giai nhân /Cho đời anh đau khổ/ Ai bảo em ngồi bên cửa sổ/ Cho anh vướng nợ thi nhân”. Mà cội nguồn trong sâu lắng nhất, vẻ đẹp phụ nữ, của người mẹ tần tảo đơn côi thuở nào: “Xứ nghèo bếp lửa chiều đông/ Cứ nhen nhúm mãi chút lòng rạ rơm/ Giọt mồ hôi đổi chén cơm/ Nuôi con tình mẹ dẻo thơm một đời”(Nhớ mẹ)**chan chứa đủ đầy nuôi dưỡng tâm hồn anh sao quên được. Có lúc anh như cánh mai kia khi mỗi độ xuân về khoe sắc áo tươi nguyên, đủ thẩm thấu được thế nào viên mãn cho sự thăng hoa mà trăn trở:

         “Đã vàng một đóa trong nhau

          Mà run sương giá cuối ngày sang xuân

          Đông thay áo lá ngập ngừng

          Có nghe đau nhói trong từng búp non

          Với người

                          một cánh môi ngon

          Với tôi

                      một chút hư mòn thời gian

          Mở lòng đón gió xuân sang

          Có thương chiếc lá hư tàn bữa qua

          Cứ vì xuân

                          mà trổ hoa”/ (Hoàng mai)**

      Mùa xuân, dấu hiệu của cái đẹp. Cái đẹp không riêng gì đất trời, cỏ cây hoa lá xoay vần tạo hóa. Cái đẹp chính ở tâm hồn người khi biết khám phá, vun đắp sẻ chia giá trị của sự tận hưởng. Cái đẹp trân trọng vốn có từ đôi tay người làm nên, thơ cũng vậy rất từ tốn nhẹ nhàng, nhịp thơ rơi dòng “Với người/.../ Với tôi/...”  một sự đối lập tương xứng cùng đánh thức làn hương ngọt ngào ý vị, mà đầy thảng thốt âu lo trong sự cộng hưởng thời gian rất riêng H. Man: “... Bây giờ tay nắm bàn tay/ Tình không là rượu mà say hết đời...”. Phải chăng cốt lõi cái tình bắt nhịp con tim là hơi thở thường ngày đâu cho riêng thi nhân mà tất cả.

         Đến Lục bát bay vòng là sự tiếp nối cho cái “say hết đời” của H. Man như thế nào?

       Đi tìm câu trả lời không khó. Cái khó ở người làm thơ trong cảm thức mùa mênh mang, cảm thức không gian tầm tay khó với, độ chín trong tứ thơ lục bát, độ rung thanh âm tự tơ lòng bật ra: “Nao lòng một phím thơ rung/ Tình như mây trắng chập chùng trên cao/ Khi về, đón nhận hư hao/ Vườn xưa, kìa! Bóng chim nào vụt qua...”(Về sau những cuộc rong chơi)*. Tha thiết với cuộc sống đến thế, không là cách nói bóng câu qua cửa trong ngẫm nghĩ người đời. Với anh, cánh chim của bay lượn, tung hoành thoáng trông mà nuối tiếc khôn nguôi giữa vùng trời mênh mông độ lượng, mà khắc khoải vô biên: “Gọi người, tàn một mùa mơ/ Gọi tôi, những bước chân hờ hững đi...”(Về với mưa đông)*.

         Câu trả lời cho mạch thơ với nhân vật trữ tình tiếp nối từ H.Man 35 bài lục bát đến Lục bát bay vòng : “người” và “tôi” và có cả “em”, cùng với cách nói trống không: “ai” phảng phất âm hưởng ca dao: “Dây tình ai buộc tay ai/Trời xa, mây trắng cứ mài miệt tôi”(Một mình với biển)*. Có thể trên từng chặng đường phiêu lãng, như Bất chợt mưa trên đèo Tà Nung*, hay điểm dừng chân Bên cầu Daknong nghe nước chảy*,... đầy xao xuyến tâm hồn. Cảnh và người bên đời hòa quyện chút bâng khuâng thương nhớ. Nhớ nhất vẫn là “em”, ẩn dấu trong tim bức xúc bật ra rất H.Man: “Tôi cầm chút mộng đào hoa/ Mà đi cho hết năm xa tháng gần/ Mỗi lần lá rụng đầy sân/ Là thương cái thuở ân cần gọi nhau” (Lặng lẽ chiều)*. Với người tình, thi nhân chỉ có khoảng trời thơ:

         “Dở chừng lời hẹn xưa, sau

         Tóc xanh kia đã úa màu thời gian

         Ngùi ngùi trời đất mênh mang

         Câu thơ đến tím mấy hoàng hôn xưa”

                                                   (Lạnh đông)*

        Trong Lục bát bay vòng, ngoài sức mạnh của từ láy từ ghép, còn có sự phá cách thể thơ không đánh đố độc giả, chút sẻ chia gợi nhớ tình phụ tử đầy trân trọng biết ơn khó mà nguôi ngoai:

           “Bảo rằng liều liệu tàn phai

           Trái mít non đã chín một vài khúc ru

           Mẹ giờ ngút ngát trời thu

           Bốn tao nôi còn vọng

            tiếng chim cu gọi bầy”/ (Về khúc hát ru)*

         Cứ mỗi câu thơ làm nên cái tứ trọn vẹn chữ tình thật chỉn chu, cho dù trong tần suất thanh âm tâm hồn biến động, bao trùm cái buồn đồng vọng không thuộc về bản ngã, dẫu như biến thiên của đất trời, dịch họa neo lòng người khắc khoải âu lo. Mỗi bài lục bát của H. Man thấm sâu cái hay ở nghĩa từ vốn có kết tụ mà thành, theo dòng chảy cảm xúc miên man khơi gợi của một Lục bát bay vòng*:

          “Lơ ngơ lục bát bay vòng

           Còn trong biến dịch niềm mong mỏi chờ

           Đã mòn ruỗng một đời thơ

           Đường trơn đá cuội cứ ngờ nghệch đi

 

           Nghe trong không vọng tiếng gì

           Cứ như tiếng khóc từ khi chào đời

           Lời ru theo mẹ về trời

           Ca dao mắc cạn những lời đục, trong”

        Miệt mài “những lời đục, trong” lắng lại, và làm bung nở cho toàn tập Lục bát bay vòng thể như bóng nguyệt mát lành sẻ chia.

                                                           Bình Định, 31.03.2022

........

*Tên bài thơ trong tập Lục bát bay vòng

**Tên bài thơ trong tập H.Man 35 bài lục bát