Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

CHUYỆN KHÔNG THỂ CƯỜI

CHUYỆN KHÔNG THỂ CƯỜI
          Xin bạn đừng nghĩ rằng cách chọn đầu đề Chuyện không thể cười luôn gieo vào tâm trí một nỗi buồn người viết muốn đề cập đến. Mà cũng có thể là chưa vui. Và nếu tôi chọn lại cụm từ Chuyện không thể không cười lại mang ý khẳng định đồng nghĩa cười. Nhưng tiếng Việt ta lắm cách diễn đạt, nói gần nói xa cũng không qua nói thật. Chuyện không thể cười được bắt đầu giữa buổi sáng hôm ngày 09.5.2012, tôi đành gát lại thau ngâm áo quần lẽ ra từ hôm chủ nhật phải giặt, rút phít nồi cơm điện khi vừa bật sang chế độ giữ ấm, chải lại mái tóc theo từng lọn uốn cong cho trẻ trung, chọn bộ đồ vừa phù hợp với dáng thon thả của mình và phải đúng thời trang mùa hè, đánh qua lớp kem thoa mặt cũng như không quên kẻ đường môi, chân mày cho rõ nét, và nhất là đôi giày đi lại khỏi đau chân. Cuộc gọi lại tiếp tục, thôi yên tâm em đến là ra bến xe buýt ngay! Mà này, có một việc chị chưa chuẩn bị được là…vì bất ngờ quá mà lương hưu tháng này chưa nhận. Nhưng chị thường mua cả lốc phong bì để dùng, thế là Hà My bỏ hai khoảng vào bên trong, ghi tên cụ thể, còn tôi đưa lưỡi liếm qua một lớp nước miếng rồi dán kín lại! Đi dự tiệc cưới của MĐ đột xuất như thế này cũng là lạ, chỉ cần một cuộc gọi mời đầy sức thuyết phục mà không chính là chủ nhân, khi Hà My giải bày là ai cũng gởi quà, mà MĐ nó đâu cần quà, có mặt hơn mười gói phải không chị. Tôi chưa hiểu cô bé nhỏ MĐ (cũng đồng tuổi con mình) là tác giả tập thơ “ Ngày không bọt” ( NXB Trẻ, 2012) đã nhờ Rêu cầm lên tận nhà tặng tôi, và theo lời kể lại là MĐ còn ngại, không dám mời chị dự tiệc cưới vì chưa được gặp chị lần nào. Như vậy là MĐ đủ tiêu chuẩn kiến thức hiểu biết xã hội để lấy chồng được rồi! Thật đáng quý và trân trọng nhà báo MĐ từ Đất Võ yêu thương, nơi mà cô của cha tôi, cô của mẹ tôi đã có tình yêu và sinh con đẻ cháu quây quần sinh sống ở quanh thắng cảnh Hầm Hô. Còn tôi thì quý cái tình người Tây Sơn với lại cũng “ham” vui là chính, đẫm mình trong nắng hè tranh thủ ghé gởi một phong bì thứ hai mừng vu quy của nhỏ học trò mời cô chủ nhiệm vì sợ chiều nay không về kịp.
alt
Ai cũng khen mình xinh xắn
           Chờ xe buýt mới nhớ là sáng chưa điểm tâm, vội mua hai cái bánh tráng nướng vừa cầm vừa ăn. Người Bình Định cứ tự nhiên lên xe ngồi vừa nhai vừa nói chuyện dòn tan như bánh tráng bỏ vào miệng. Câu chuyện chưa hết khi bánh tráng vẫn còn, Hà My mới nghĩ đây là lần đầu em đi xe buýt rồi xuất khẩu cho tứ thơ chưa hoàn chỉnh: “Sáng nay đám cưới của Minh Đan/ Chị Phụng- Hà My diện thật sang/…” lại bảo để về nhà Hà My lại tiếp, rồi nảy ra cảm xúc mình nhờ cậu bán vé trên xe chụp tấm hình làm kỉ niệm. Hà My rất tự nhiên mở dây cột tóc và đưa tay ra sau rẽ hai bên thả đều mái tóc ôm lấy khuôn mặt tròn trĩnh của mình. Còn tôi mở túi xách lấy máy ảnh của Hà My ra chụp. Bấm nút “on” nhưng không hiện đèn báo sáng, My khéo léo mở ra xem, lại nhìn đăm đăm vào mắt tôi:
         - Trời đất ơi, không có pin! Em đang còn sạt ở nhà ! Lúc nghe chị nhắn em vội lấy máy theo không để ý gì cả!
          - Còn mình nghĩ đi sớm ở lại chơi, chiều dự tiệc cưới mới về, sợ không kịp cho chị Trướng mang theo chụp hình họp mặt các bạn của chị.
           Thế là hai chị em nhìn nhau mắc cười không thể nào chịu nổi, nhưng cũng may nhờ màn hình điện thoại di động của Hà My ghi lại hai tấm hình đang ngồi trên xe còn cầm bánh tráng.
           Chuyện không thể cười là mới có một trên tuyến đường Tuy Phước- Tây Sơn. Đến chuyện không thể cười khi bước chân vào nhà hàng Thanh Thanh ở thị trấn Phú Phong gặp nhà thơ Thanh xuân và Hà Nam từ Quy Nhơn cũng vừa xuống xe mô tô gọi ngay và bảo không gặp nhà thơ Trần Viết Dũng là chưa đến Tây Sơn! Lúc này tôi mới ngạc nhiên:
           - Nhà thơ Trần Viết Dũng có sức thu hút đến như vậy à!
           - Gặp nhà thơ để cụng li mà! - Hà Nam vừa nói vừa cười.
          Chúng tôi vừa tìm chỗ ngồi dưới tán cây sanh đã thấy anh Hà và anh Trường ở An Nhơn cũng vừa tới. Sáu người ngồi vào một bàn, thói quen của Hà My thường ngồi cách người khác giới, còn tôi chưa bao giờ phân biệt, nhưng lạ chưa mới có đứng bên Hạt Cát mà dây nơ áo đã tự động rớt từ lúc nào! Chà chà mới chỉ một hạt cát chứ cả sa mạc có lẽ…hi! Tính ra một bàn chỉ có sáu chúng tôi. Sau đó có thêm hai nữ ở Tây Sơn nữa mà vẫn còn thừa hai chỗ ngồi. Đặc biệt khi vào bàn tiệc ở đây luôn có món đặc sản chim mía. Chim mía nhỏ lắm chỉ nhỉnh hơn cái ngón út một chút nằm trần trụi đen đủi trên đĩa rau xanh. Tôi gắp một con bỏ vào chén thử mà còn ngần ngại quay sang hỏi:
       - Cái giống chim đặc sản này ăn chỗ nào ngon nhất?!
       - Phải ăn cả con chim mới ngon! Thanh Xuân nói cười tỉnh bơ, còn Hà Nam khẳng định đã ăn chim là phải ăn cả con mới ngon, rồi nheo nheo đôi mắt cười thích thú nữa chứ.
         Anh Hà ưng ý gật đầu phải nhai cả con mới ngon! Còn Hà My rùng mình nó bé quá không nở nào!... Và tôi nghĩ cũng chưa ra được ai đâu mà ngồi tỉ mỉ nhổ lông cả hàng ngàn con như thế!...
          Đến chuyện thứ ba cũng không thể cười khi đăng kí tiết mục văn nghệ. Hà Nguyên ghi tên Hà My với bài hát tự chọn. Sau giọng ca nam Lý Anh Võ (là cậu của Minh Đan) “… Thương nhau lí tơ hồng…” vừa dứt, MC Thanh Sơn tiếp tục giới thiệu giọng ca nữ trẻ trung, cùng lúc ấy cả bàn đều đưa mắt nhìn Hà My trong tư thế chuẩn bị, như động viên như cỗ vũ: My ơi, hãy tự tin nghen! Thế nhưng cứ mối lần giới thiệu giọng ca nữ là chúng tôi hớn hở đinh ninh khích lệ nhìn trong ánh mắt Hà My mà sao đến lúc tan tiệc về chúng tôi chưa được nghe người bạn của mình hát, có lẽ Tây Sơn ca sĩ hơi bị nhiều!...
         Tôi và Hà My trở lại Tuy Phước trên chuyến xe buýt có máy điều hòa, nhìn qua cánh cửa xe thấy “gã” tài xế mô tô Hà Nguyên chở  Văn Trường về An Nhơn, cũng như Hà Nam chở Thanh Xuân về Quy Nhơn mà con đường trải nhựa lúc này cứ hừng hực như thiêu như đốt!...
                                        11.5. 2012/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

ĐI TÌM MỘ của Nguyễn Văn Bằng

ĐI TÌM MỘ của Nguyễn Văn Bằng (*)

Bao tháng năm lần lữa chiến tranh
Mẹ chưa tìm được cha về nơi an nghỉ
Con muốn làm điều mẹ còn bỏ dở
Đi tìm cha nằm lại nơi nào

Lúc cha hi sinh con còn bé quá
Không hình dung một nét thân quen
Đồng đội của cha một thời tuổi trẻ
Giành nhau bộc phá đánh đồn

Sau chiến tranh ai mất ai còn
Bốn mươi năm mộ đâu còn đúng chỗ
Vẫn biết thời gian làm dày thương nhớ
Và dày thêm đau khổ ở trong tim

Con và mẹ lặn lội nhiều năm
Không biết cha nằm đâu để đến
Tuổi già đón mẹ về bên kia thế giới
Chỉ còn con mang ước vọng đi tìm…
                        Hà Nội, 27.5.1997

         Đọc bài thơ “ Đi tìm mộ” của Nguyễn Văn Bằng cứ đau đáu không nguôi về tình cảm của con đối với cha, với thế hệ đi trước đã nắm chắc tay súng để bảo về độc lập tự do cho Tổ quốc mình. Ngay từ khổ thơ đầu như lời tâm tình chia sẻ khi hay tin cha hi sinh, mẹ chưa kịp đi tìm không phải vì đường xa trắc trở, không phải vì sức khỏe ốm đau, mà vì cuộc chiến kéo dài làm trì hoãn nghĩa tình người vợ với chồng đã từng gắn bó keo sơn tự thuở nào:
          “Bao tháng năm lần lữa chiến tranh
           Mẹ chưa tìm được cha về nơi an nghỉ
           Con muốn làm điều mẹ còn bỏ dở
           Đi tìm cha nằm lại nơi nào”

        
      Việc “ Đi tìm cha nằm lại nơi nào” người đã hi sinh trong khói lửa đạn bom nơi tuyến đầu Tổ quốc, hay hải đảo xa xôi là một đáp số không đơn thuần như ở hậu phương người già bệnh tật đã mất được chôn cất chu toàn. Bởi: “ Lúc cha hi sinh con còn bé quá /Không hình dung một nét thân quen” để con có thể đong đầy kỉ niệm tình cha con gắn bó. Quả thật, người con lớn lên trong gia đình không chỉ thiệt thòi mà còn mất mát về sự chăm sóc yêu thương cả vật chất lẫn tinh thần như bao đứa trẻ khác. Nhưng người con mãi còn lưu giữ hình ảnh người cha dũng cảm ngoan cường hết mình cho đất nước:
         “ Đồng đội của cha một thời tuổi trẻ
           Giành nhau bộc phá đánh đồn”.
      Phải chăng vẻ đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ đã nuôi dưỡng tâm hồn “người con” về lòng tự hào cha anh không tiếc máu xương cho dân tộc Việt Nam yêu dấu ngàn đời.

         Để rồi:
            “Sau chiến tranh ai mất ai còn
             Bốn mươi năm mộ đâu còn đúng chỗ
             Vẫn biết thời gian làm dày thương nhớ
              Và dày thêm đau khổ ở trong tim”.
       Đi tìm mộ trong chiến tranh đã khó thì đi tìm mộ trong thời bình có lẽ còn khó hơn. Ta không khỏi rưng rưng xa xót sau chiến tranh ai mất ai còn nữa, rồi dấu vết ngôi mộ ngày ấy còn nữa không? Có phải thời gian đã làm cho “thiên biến vạn hóa”, phải chăng phần mộ người nằm yên trong lòng đất góp phần làm nên cánh rừng cứ ngan ngát xanh, làm nên điều kì diệu kết nối trái tim yêu thương trong tình nghĩa vợ chồng, tình cha con, anh em, bạn bè đồng đội như sợi dây vô hình mãi trường tồn trong cõi nhân sinh này. Một ngày chưa tìm được mộ là thêm một ngày ăm ắp nhớ thương, day dứt như chưa làm tròn bổn phận của con cái đối với mẹ cha. Nhưng biết làm sao!?... cho đến lúc:

                                     “ Con và mẹ lặn lội nhiều năm
                                     Không biết cha nằm đâu để đến
                                     Tuổi già đón mẹ về bên kia thế giới
                                     Chỉ còn con mang ước vọng đi tìm…”
          “ Mang ước vọng đi tìm” là lời khát khao nhắc nhở, là sự kế thừa tiếp nối truyền thống đạo lí uống nước nhớ nguồn, là nghĩa cử cao đẹp của người con đối với cha, của thế hệ trẻ không bao giờ quên công ơn các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Và trong hôm nay chúng ta có quyền tự hào kế tục sự nghiệp cha anh mà gìn giữ giang sơn gấm vóc cho được vẹn toàn để không hổ thẹn với người đi trước.
                                         10.4.2012/ Nguyễn Thị Phụng.
_________
*
Trích Tấm lòng nhà giáo của NXB Giáo Dục, 2010


Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

VƯỜN TRƯA của Nguyễn Thượng Trí

VƯỜN TRƯA của Nguyễn Thượng Trí
                                                 Tưởng nhớ anh Nhậm, anh Bành.
                                                          Tặng em Phụng, Phủ.
alt
Phụng và chị Nguyễn Thượng Trí (Nguyễn Thị Trướng)

Nắng vàng ong chảy qua kẽ lá lao xao đùa giỡn
Lũ chim ríu rít tâm sự đâu đây
Thảng nhường lời cho bọn gà nhiều chuyện
Tiếng cãi nhau về quả trứng hồng làm xao động cái tĩnh lặng miền quê

Ngọn nồm quyện hương quê ngoại xoa dịu bao nỗi nhân tình
Phía vườn bâng khuâng rơi giọt hạ thuở đầu trần chân đất
Trốn cùng giấc trưa thơ dại
Và tìm đến cái vườn hoang như tìm đến địa đàng

Thoắt bao hạ ngỡ ngàng
Bốn mươi năm yên phần với cây cỏ, anh giờ chỉ là nắng gió
Vẫn muốn nắm tay chúng em kết hoa như thuở đó
Ngậm ngùi xót xa
Thương những bàn tay vô tình rời rã
Vườn trưa ơi!...
                           NTT

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

NƠI  BÌNH YÊN NHẮC NHỞ
         Sang hè thật đẹp, nắng óng vàng nhuộm sắc quả ngọt lịm mọng hương. Ngọn nồm từ biển ùa vào theo nhịp chân người hối hả cùng thời gian sinh sôi nảy nở vun đắp cho đời như màu nắng vàng kia. Nhưng đâu đây niềm chia xa luyến tiếc len lỏi mọi ngõ ngách vào buồng tim đau đáu nhớ, đau đáu thương khi đêm chập chững nặng nề cố đọc cho hết thông tin trên trang tranhanam.vnweblogs.com: “Tình hình bệnh của thầy Trương Tham chuyển sang nguy kịch từ tối qua 23.4.2012. Thầy lâm vào tình trạng tắc nghẽn đường thở, và ngừng thở vào lúc 23h20. Các bác sĩ đã tận tình cấp cứu, trợ thở bằng máy và đến 24 giờ thì thầy thở lại được bằng máy. Từ 4 giờ 30 sáng ngày 24.4.2012, huyết áp của thầy liên tục giảm, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng liên tục cấp cứu. Nhưng đến 15 giờ, huyết áp, tim mạch đều báo động đỏ. 15 giờ 55 phút, thầy trút hơi thở cuối cùng tại phòng hồi sức cấp cứu của bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định.
Hiện thầy đã được đưa xuống Nhà tang lễ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định. Lễ liệm tiến hành đúng 17 giờ - 18 h 30 nhập quan. Lễ viếng đã bắt đầu lúc 19 giờ cùng ngày. Thầy sẽ được an táng tại nghĩa trang Phật giáo Quy Nhơn
”. Cùng lúc đó nhận được tin nhắn của Nhà báo Trần Quang Khanh, chủ nhiệm CLB Văn học Xuân Diệu báo tin Nhà giáo ưu tú Trương Tham đã từ trần…

         
      Tôi chợt nhớ năm vừa qua, khi đưa chị Kim Thanh( Phù Thủy gáo dừa) ở Sài Gòn về vượt cầu Thị Nại sang Nhơn Hội, Nhơn Lí săn ảnh đẹp vào ống kính đã có cuộc gặp bất ngờ với cô Phương Minh của trường THPT Trưng Vương cũng đưa hai người bạn lướt trên những cồn cát Nhơn Lí kia. Và lúc ngồi bên nhau giải lao, kể về tình thầy trò đã cho tôi xem hình ngôi mộ vừa hoàn thành mà thầy Trương Tham rất ưng ý và xúc động cho chuyến đi xa về nơi an nghỉ cuối cùng của thầy. Vì sao có sự chuẩn bị như thế, có lẽ theo sự tuần hoàn “sinh, lão, bệnh, tử” quy luật tự nhiên không ai tránh khỏi. Mà thầy rất đơn chiếc, không người ruột rà thân thuộc, họ hàng thì xa quá. Những tháng năm dạy học, thầy có biết bao nhiêu là học sinh thành đạt, yêu thơ văn, yêu kính thầy. Tôi không là học sinh của thầy trực tiếp giảng dạy, nhưng được biết và quý thầy qua bạn bè, qua trang sách, qua các buổi sinh hoạt CLB Văn học Xuân Diệu, một người thầy mẫu mực tận tụy với nghề, sống giản dị chân tình, yêu thương học sinh… và rất là tin người.
         Đến thăm thầy trong buổi lễ viếng hôm nay mà rưng rưng cảm xúc. Cái rưng rưng đầu tiên là không thấy một vành khăn tang nào cho thầy, phía trước di ảnh đặt trên bàn là những khăn sô màu trắng nằm ngay ngắn dưới cây nến bên góc phải, còn băng tang đen xếp chồng lên nhau nằm im trong một chiếc hộp. Bình hoa cúc trắng cùng quả chuối vàng, quả lê màu vàng nhạt, một quả cam vàng sậm hơn lặng lẽ bên thầy, hương trà hòa quyện với trầm hương như cố níu lại mà bóng nắng cứ vô đi qua trên đỉnh đầu chói chang khó chịu. Thầy nằm trong linh cữu bình yên đến lạ. Đôi mắt khép lại nào ai biết thầy đang nghĩ gì giữa một màu cam nhung gấm. Cuộc đời mỗi người là thế ư, mọi lo toan bộn bề rồi đến lúc cũng phải nằm vào nơi đây ư !... Nhưng đâu thể buông xuôi theo số phận. Khi cuốn lá rời thân là mỗi mắt cây một chồi non nhú ra nẩy lộc, lên xanh. Quanh thầy là những đồng nghiệp, những học trò tiếp nối nghề dạy học như thầy. Niềm hạnh phúc cứ thế nhân lên, khi tôi nhận ra Trần Hà Nam, giáo viên THPT trường chuyên Lê Quý Đôn lặng lẽ cẩm những cây nhang thắp sáng lên ngọn lửa đưa cho từng người đến viếng thầy. Tôi nhìn kĩ bức chân dung Nhà giáo ưu tú Trương Tham trên bàn thờ trước linh cữu còn trẻ lắm. Bởi lúc ngồi dưới tán cây bàng ôn lại kỉ niệm về thầy, nhà thơ Mai Thìn và Quang Khanh cho biết thầy không thích chụp hình chân dung nữa khi tuổi đã cao. Giờ lấy tấm hình ấy để thờ có phù hợp?!... Rồi còn nơi thầy đã ở sẽ làm nhà lưu niệm của thầy…Có lẽ khi nằm xuống nơi đây thầy yên tâm đã có sự chuẩn bị chu đáo. Ban lễ tang Nhà giáo ưu tú Trương Tham là của Ban giám hiệu trường THPT Trưng Vương đứng ra lo cho thầy…
        Bước ra khỏi Nhà lễ tang bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, tiếng kèn đưa linh thầy còn văng vẳng dọc theo đến cuối con đường Phạm Ngọc Thạch rợp bóng me tây, tôi nhẹ bước chân như sợ làm loãng bóng nắng vàng cuối tháng tư rực tím màu bằng lăng trên con đường Phạm Hùng trước mặt. Còn tháp giờ nằm ở trung tâm thành phố Quy Nhơn sừng sững bình yên giữa trời xanh nhắc nhở.
                              25.4.2012/ Nguyễn Thị Phụng.