Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

Nồng thắm Nguyễn Thị Phụng*. Bài viết của Lê Bá Duy

https://baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=216746 

Thứ Hai, 23/08/2021, 22:28 (GMT+7)

Nồng thắm Nguyễn Thị Phụng*

Tập thơ “Mùa đông và em” của Nguyễn Thị Phụng vừa ra mắt bạn đọc vào tháng 8.2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Cái tựa đề “Mùa đông và em” gợi cho tôi một nỗi buồn nhiều hơn là vui!

Khác với những tập thơ trước, ở tập này Nguyễn Thị Phụng chắt chiu từ ngữ diễn đạt và cảm xúc được nén lại rồi đẩy lên ở mức độ cao hơn. Ví như “Mùa đông và em”: Sợi nắng dưỡng sinh quanh miền sa mạc/ Được thể/ gió rít từng cơn rét buốt da người/ bấc phùn khó nén/ phả theo ngày xám xịt sầu đông… Ngoài tầng nghĩa ban đầu, đoạn thơ mở ra một trường liên tưởng trên những tầng nghĩa khác. Thơ là như thế vì thơ không đa nghĩa thì thơ khó hay nhưng nhà thơ vẫn gói thông điệp của mình vào khổ cuối đầy chất hồn hậu: Mùa đông và em dậy thì/ ken nhau nhóm bếp lửa/ xuân nồng thắm đượm cả miền thương… Thì ra mùa đông chỉ là cái cớ mà tác giả mượn để bộc lộ tấm lòng xuân thì của mình luôn cháy bỏng.

 

Nhà thơ là người sáng tạo. Muốn sáng tạo thì phải luôn tự làm mới mình. Hiểu điều đó, Nguyễn Thị Phụng nỗ lực làm mới chính mình, đặc biệt thông qua cách mở ra những trường liên tưởng, dồn nén cảm xúc tạo thành những mã ngôn ngữ để bạn đọc giải mã qua cách cảm nhận của mình. Tôi thích cái lối diễn đạt này của chị: Nhập cửa Phật mà người còn phàm tục/ Tiếng chuông chùa mắc cạn chân không…

Nguyễn Thị Phụng còn làm mới thơ mình bằng hình ảnh trong thơ. Bài thơ “Gạo ơi” và “Hình hài của gió” nói lên điều đó rất rõ. Với “Gạo ơi” nhà thơ đã nhân hóa cây gạo thành nhân vật gần gũi với con người hơn. Nhưng cốt yếu nhà thơ xây dựng một hình ảnh con người cao tuổi “gánh cả chiều rơi” bi thương trong cuộc đời lắm tai họa do con người và thiên tai mang lại, thông qua hình ảnh cây gạo “dáng gầy” “bên góc đời” “tần ngần” “cháy đỏ” trần gian…

Cần mẫn như con ong, Nguyễn Thị Phụng sáng tác với niềm đam mê - mười ba năm, mười đầu sách (2 tiểu luận, 4 tập thơ, 1 tập truyện ngắn, 2 tản văn và 1 tạp văn) - nếu không đam mê sao chị có thể viết nhiều như thế được? Cứ nhìn vào tác phẩm, thời gian sáng tác và in ấn ra mắt bạn đọc ta sẽ hình dung khao khát viết, in sách để sẻ chia tác phẩm luôn thôi thúc Nguyễn Thị Phụng, đó cũng là động lực giúp chị vượt qua bệnh tật để tồn tại với cuộc sống này.

LÊ BÁ DUY

*https://baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=216746

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2021

VẠN LỘC- NGƯỜI ĐÀN BÀ VIẾT THƠ TÌNH của NGUYỄN THỊ PHỤNG

 VẠN LỘC-  NGƯỜI ĐÀN BÀ VIẾT THƠ TÌNH


           Có thể tôi loay hoay khi chọn tựa đề viết về chị- Nhà thơ Vạn Lộc quê Quảng Nam, vùng đất của Bùi Giáng trước đây, của H. Man bây giờ. Xứ sở của “...chưa mưa đã thấm, của rượu hồng đào chưa ngấm đã say”. Cái say ấy ngấm vào thơ để lại cho đời biết bao nhiêu tác phẩm. Riêng chị Vạn Lộc đến nay có đến mười một tập, trong đó ba tập tái bản và rất nhiều giải thưởng được vinh danh. Nên thơ chị có mặt trên báo, tạp chí, tuyển tập, cũng như trên sóng phát thanh và truyền hình cũng là lẽ thường. Quả là cả đời chị yêu thơ đến dường nào. Thơ và đời là Chín chín nhịp*, là Lá thức*, là Gió miền lục bát*,...

        Lại nhớ được gặp chị của mười năm trước trong ngày ra mắt Hội thơ Lục bát Việt Nam tại Đà Nẵng, được chị ân cần đón tiếp niềm nở. Rồi trên đường từ trại sáng Đà Lạt trở về, lại gặp chị ở Quy Nhơn. Hẳn là cái duyên thơ. Giờ đây trong những ngày giãn cách xã hội, chị tiếp tục gửi tặng đâu chỉ thơ còn có cả hộp khẩu trang y tế thể như nhắc nhở chung tay chống dịch Covid-19. Và khi nhắc đến xã hội, chuyện đời thì biết chị- Nhà thơ Vạn Lộc nhiều lần trực tiếp sẻ chia những món quà từ thiện cho bà con gặp thiên tai bằng đồng tiền tích lũy cả đời mình. Ít nhiều san sẻ những âu lo cùng người dân lúc cơ nhỡ... Công việc từ thiện là chung cho những tấm lòng nhân từ và điều kiện sẵn có.

       Với cuộc đời đã đi vào thơ, hay thơ đi vào cuộc đời đã làm nên một Vạn Lộc, người con làng Đông Yên, Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam đến nay được 75 tuổi. Xin được chúc phúc chị hạnh phúc đã đong đầy từ gian lao khó nhọc, chịu thương chịu khó: “Bỏ áo nữ sinh mang áo chợ/ Tháng ngày mòn mỏi tuổi xuân tươi/ Những muốn cho chồng con hạnh phúc/ Gian lao cực khổ kể chi mình”(Chợ Cồn- Gió thổi từ Đông Yên*). Chính là đức hạnh của phụ nữ, hi sinh thầm lặng, chẳng ngại gian lao. Cũng như tất cả sự đóng góp mỗi thành viên trong gia đình sẽ là tổ ấm lâu dài bền vững nên mỗi bài là tiếng thơ tiếng lòng của chị-Người đàn bà viết thơ tình

       Tình yêu trong thơ Vạn Lộc bắt nguồn từ những bài lục bát. Chị có cả một tập Gió qua miền lục bát*. Nói đến thể lục bát, thì trong Nhịp điệu thơ ca- Lê Từ Hiển khẳng định: “Thể thơ truyền thống dân tộc được xem là sinh mệnh mang tiết điệu hồn sông nước Việt”***. Nó gần gũi với ca dao, ắt hẳn từ tuổi thơ nằm lòng trong những câu hát của mẹ: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”. Nhưng đời mẹ có dẫu đắng cay như bài ca dao xưa kia, thì lòng mẹ , tình bà với các cháu yêu như một Ban mai xanh**: “Mỗi trang đời đẹp trang thơ/ Yêu thương bà gửi giấc mơ lòng mình”. Riêng với các con, người mẹ sẻ chia với tấm lòng mình: “Mười bông hoa, mười niềm yêu/ Đã reo cánh sóng, vui triều nắng xuân/ Ban mai thơm gió trong ngần/ Thổi qua lòng mẹ, bâng khuâng quê nhà”(Ca dao mẹ)**. Đó là niềm vui người mẹ luôn kết nối và tỏa sáng:

      “Chiếc cầu nối biển nối sông
      Tình yêu nối những mênh mông chân trời
      Mùa đông vẫn chút nắng rơi
      Hình như nắng tự tim người nở hoa
”
                (Thương yêu tặng núm ruột của mẹ)**   

       Hình ảnh tự tim người nở hoa chính là tấm lòng đức độ, từ bi của người mẹ. Còn là sự trân trọng yêu kính người bạn đời đã trải qua sáu mươi năm sớm tối bên nhau, nhưng đâu thể níu kéo thời gian lại được, những hụt hẫng quá lớn, người phụ nữ- thi nhân, bên chồng đã bình tâm san sẻ: “Trăm năm đã gọi phai phôi/ Anh như mây xám bên trời đang bay/ Cầm tay anh, những ngón tay/ Guộc gầy năm tháng, đong đầy yêu thương”(Anh như áng mây bay lên trời)**.

       Và có thể nói vẹn nguyên tập thơ lục bát chính là tiếng lòng Vạn Lộc Một đời là mấy buồn vui** là những (Nội ơi, Cha, Vu Lan, Cánh cò và mẹ, Đóa từ tâm, Vô ưu kinh,...)**. Còn là sự thưởng ngoạn trên những điểm dừng chân(Hà Nội ơi, Nhớ Hà Tĩnh, Đà Nẵng ân tình,Tạ ơn quê,...)** Lục bát dễ đi vào lòng người, cũng là điệu tâm tình bộc bạch, kết nối trái tim đến với trái tim, đến với tình người và cảnh vật.

      Khác với Gió qua miền lục bát thì Lá thức là tập thơ thể Đường luật- thất ngôn bát cú đậm Gánh văn chương**. Bởi chịu sự chi phối văn chương bát học. Đâu chỉ dựa vào niêm luật gò bó từ số câu, gieo vần, đối thanh mà cái cốt lõi là thấm đẫm cái tình sâu lắng cô đọng. Trong tám mươi bài thơ Đường luật đã được tác giả phân theo đề mục của từng chủ đề. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra từng Mảnh tâm tư, chẳng hạn từ một Tiếng đàn**:

   “Thực tại bỗng dưng hóa ảo mờ
     Tay ngà nhè nhẹ chạm dây tơ
     Ngờ đâu cảm hứng tràn cung bậc
     Mới biết âm thanh ngập bến bờ
     Nâng khúc cầm xưa nâng điệu lý
     Ru tình duyên cũ động cơn mơ
     Ô hay! Tất cả là sương khói
     Hạt bụi bên đường cũng ngẩn ngơ
”

     Hay Hồn thiêng sông núi , Nhà thơ đã ưu ái vẽ nên bức tranh đẹp quê mình qua bài: Ngũ Hành Sơn**:

      “Ngắm Ngũ Hành Sơn đẹp sững sờ
       Thì ra tạo hóa cũng làm thơ
       Biển ôm triền sóng giao lời ước
       Núi kéo chân mây ngỏ ý chờ
       Non nước tinh hoa vàng với ngọc
       Sắc màu huyền diệu thực và mơ
       Thẹn thùng nhũ thạch khô nguồn sữa
       Mới biết người xưa khéo ỡm ờ
”

      Trong tầng nghĩa Lá thức là ẩn dụ cho sức mạnh tinh thần, niềm tin yêu được chắc lọc từ trái tim thân thiện. Điểm dừng chân trên từng mọi nẻo đường quê hương đều được đi vào trong thơ Vạn Lộc, mà hầu hết tác giả đã khai thác đến tận cùng cháy bỏng đam mê, khi dừng lại bài thứ tám mươi cuối cùng trong tập mà tôi tâm đắc nhất ở hai câu luận: “Em vẫn say tình ngùn ngụt lửa/ Anh còn giỡn nắng hững hờ bông”(Có một mùa thơ)**. Dấn thân vào thơ Đường luật phải là người uyên bác lựa chọn ngôn từ sáng đẹp mà tinh túy. Và chắc chắn rằng Lá thức đã là tài sản về thể loại thơ tồn tại đến bây giờ rất hiếm hoi.

      Để trọn vẹn về Người đàn bà viết thơ tình, thì Chín chín nhịp đã là độ nén trong toàn tập về thể thơ bốn câu. 

Nếu trước đây thơ bốn câu được quy định theo thể Đường luật, ngoài thất ngôn bát cú, thì còn có ngũ ngôn tứ tuyệt hay thất ngôn tứ tuyệt. Cho đến giờ lại được mở rộng thể tứ tuyệt không hạn định số từ trong câu. Từ độ nén theo lời ngắn tình dài tùy theo mạch cảm xúc giải bày. Thơ đã ngắn mà tựa đề bài thơ còn kiệm lời hơn, bởi Vạn Lộc chỉ dành một từ (từ một tiếng, từ hai tiếng) khá nhiều trong Chín chín nhịp , chẳng hạn như bài Soi**:

        “Trước gương mình lại gặp mình
         Thẳm sâu đôi mắt lặng nhìn mình thôi
         Nếu mai gương vỡ mất rồi
         Thì xin nhắm mắt mà soi lòng mình
”

        Từ trong cách ngắm nhìn qua gương chỉ hiện khuôn mặt người. Nếu chỉ ngắm mình qua đôi mắt thì vẻ đẹp thể chất khó tồn tại theo thời gian. Cái chính là vẻ đẹp tâm hồn lắng lại câu kết: Thì xin nhắm mắt mà soi lòng mình. Tình yêu thơ với chị lan tỏa, là nguồn vui vượt lên tất cả trong tứ thơ lục bát Ơn đời ** một cách trân trọng:

       “Còn bao nhiêu nắng trong hồn
         Em đem sưởi ấm cô đơn tháng ngày
         Ơn đời còn lại phút giây
         Vịn thơ vượt những đọa đày nhân gian
”

       Với Vạn Lộc, thơ là đời sống tinh thần cứu rỗi tâm hồn trong những lúc cô đơn nhất. Dẫu trên bước đường đời thăng trầm thì thơ là ngọn nguồn cho chị sẻ chia: “Phận đàn bà, phận bể dâu/ Câu thơ cay đắng nhĩ nhàu đau thương/ Mỗi bài thơ, mỗi đoạn trường/ Mà tim vẫn mãi ngát hương cuộc tình”(Người đàn bà làm thơ tình)**. Chỉ qua những tập thơ mới hiểu thêm đời chị. Lắm gian nan, lắm thử thách. Để rồi chị tìm về chốn tịnh thiền nơi của Phật, gửi vào nơi đây lời cầu nguyện chân tình, cho thế hệ cháu con mình an sinh phát triển: “Từ nay cởi áo xa hoa/ Tắm sông Bát Nhã, trọ nhà Hương Lam/ Buông danh vọng , xả sân tham/ Từ bi nép bóng, địa đàng dấn thân”(Nép bóng)**, còn là nhắc nhở, hãy vì cuộc sống tươi đẹp yêu thương vun đắp.

        Cho lời kết viết về Vạn Lộc- Người đàn bà làm thơ tình là tự kí gửi đời mình vào con chữ thấm đẫm muôn nỗi đắng cay:

       “Vẽ tim mình vệt sóng xô
        Vẽ thương đau buổi sông hồ ly tan
        Một đời nhặt đá, tìm vàng
        Xuân xanh đổi lấy trái ngang đời người
”./.

                      12.07.2021 / Nguyễn Thị Phụng.

__________________

*Tên các tập thơ của Vạn Lộc.
**Tên các bài thơ
***Trích  Sinh thể văn học- Những nẻo đường tiếp nhận(NXB. KHXH 2020)

Thứ Năm, 8 tháng 7, 2021

VỀ VỚI DÒNG SÔNG của Nguyễn Thị Phụng

 

VỀ VỚI DÒNG SÔNG

(Đọc Trường ca Sông thiêng trên facebook của Nam Thi)

       Con đường đến với mảnh đất văn chương ở mỗi người có sự khác nhau. Nam Thi- Nhà báo: Sau nghỉ hưu hơn mười năm, trong ba năm lại đây đã xuất bản hai tập truyện ngắn, ba tập thơ. Văn tài của anh có được xem là số lượng tác phẩm đã in chưa. Để rồi tiếp tục “Nghe lời xúi giục của mấy bạn giamahazui, hôm qua tôi cao hứng khởi sự viết bài trường ca Sông thiêng nói về dòng Côn chảy qua Tây Sơn quê tôi. Viết xong đoạn mở đầu của chương đầu “Nguồn xa”, tôi nhận ra cuộc chơi này lớn quá, đòi hỏi bỏ nhiều công sức và nhất là phải dài hơi,...”(Tản mạn 18.06.2021: Lời thưa cùng bạn bè) Và sự tiềm ẩn động cơ cho Trường ca Sông thiêng của anh ra đời trong thời gian quá ngắn kể từ lúc đăng trên facebook “Tản mạn 17-6-2021:... Nợ một dòng sông thiêng như sông Côn bao giờ mới trả hết. Tôi nay đã già, tài mọn sức yếu không dám nghĩ đến món nợ tinh thần to tác, thiêng liêng đó dù từ lâu vẫn đau đáu nghĩa tình với dòng sông quê hương...” Và Nam Thi đã vượt qua mười hai ngày (từ 17 đến 29 tháng 6 năm 2021) trả xong “món nợ tinh thần to tác” là kết thúc bốn chương cho một cuộc thử sức về dòng chảy Trường ca. Sự lựa chọn chủ đề Sông thiêng vừa gần gũi thân quen lại vừa khái quát về địa văn hóa nơi dòng Sông Côn chảy qua làng. Hẳn là cái tình đã từng “ăn con cá nhỏ, tắm con sông già”(thơ Nam Thi) đối với quê nhà Tây Sơn, hay là những ngày giãn cách xa hội vì Covid- 19.

      Trường ca là thể loại kết hợp tự sự và trữ tình. Cái đa dạng tự sự vốn có trong lịch sử, văn minh loài người thanh lọc qua thời gian còn tồn tại, ghi nhận đâu đấy trong dân gian, sách vở và chịu sự chi phối trong xã hội và tự nhiên kết thành trầm tích văn hóa. Dựa vào những điều đã có, đã trải qua, người viết trường ca thường theo mạch chảy khởi đầu đến kết thúc. Sức hấp dẫn bạn đọc về thể loại trường ca không hẳn là kết hợp tả và kể, quan niệm về nhân sinh, mà yếu tố chính vẫn là cảm hứng trữ tình của người sáng tác. Sông thiêng là đứa con tinh thần của Nam Thi bước đầu cuộc thử nghiệm vươn đến cái đẹp của thể trường ca viết về lịch sử, văn hóa trầm tích vùng đất Tây Sơn, trong mối quan hệ sông Côn hàng trăm năm trước lưu lại đến bây giờ.

       Với Trường ca Sông thiêng, khởi đầu Chương một: Nguồn xa sự hội tụ sông núi mây trời rất tự nhiên rất bền vững. Người nơi đây vươn mình lớn lên sự sống được khai sinh, duy trì tiếp nối:

“... Dòng sông chảy dài

Người đi dậy đất

Cõi hồng hoang nở hoa, kết trái địa đàng

Gà gáy đôi bờ gọi xóm làng thức giấc

Tiếng chày giã gạo vang động ánh trăng

Tiếng ru hời đong đưa nhịp võng

Trẻ em uống nước dòng sông

Lớn lên thành Biện Nhạc, Hồ Thơm, chàng Lía...

Nên sông là sông cổ tích - sông Thiêng...”

        Nguồn xa còn là điểm đến và đi theo mùa hợp và tan, dấu ấn của sum vầy và chia li. Đó là nguyên nhân từ ý thức của tộc người cho sự đấu tranh sinh tồn nảy mầm anh hùng ca sử thi: “Có ai biết sông chắt chiu mang từng hạt phù sa cao nguyên xuống núi/ Những hạt phù sa đất đỏ/ Thấm đẫm sử thi Ba na/ Của người anh hùng Đăm Noi/ Có ai uống nước còn nhớ nguồn /Có ai tắm nước sông Say để thành Đăm Noi /vụt lớn lên /cứu nhân độ thế/...”. Đất nước sản sinh nuôi dưỡng, bảo bọc con người. Con người cũng từ đó bảo vệ đất nước, cội nguồn đồng bào: người kinh và Ba Na xúm xít bên nhau bảo vệ giá trị thiêng liêng sự sống.

      
      Nếu ở chương một, Nam Thi đã dành 110 câu cho nguồn xa trong bốn tiểu đoạn nhỏ. Sang chương hai: Hợp lưu với sáu đề mục: Sông đôi, Ký ức dòng sông, Núi và sông, Hạc nội mây ngàn, Lời kết, Hoa của nắng. Tất cả có 173 câu là sự thống nhất dòng chảy, hay tên sông gắn liền với đời sống vùng miền, sông núi. Từ Sông đôi đến Ký ức dòng sông hay vẻ đẹp của người anh hùng Nguyễn Huệ đất Tây Sơn đầy tự hào, trong quan niệm về lịch sử được thể hiện bằng những câu phát vấn tâm tình như chương một, để bạn đọc tìm ra câu trả lời chính mình, còn là nhắn nhủ ngợi ca : “Ta muốn hỏi trống đồng Ngọc Lũ/ Duyên nợ nào lưu lạc đất phương Nam/.../ Ta muốn hỏi tảng đá giữa dòng/ Nơi nào Nguyễn Nhạc đã dừng chân/.../ Nơi nào Nguyễn Huệ dưới trăng múa bài quyền Ngọc trản/ "Ngọc trản ngân đài/Tả hữu tấn khai.."/ Nuôi chí lớn tung hoành ngang dọc”(Sông đôi)*. Bên những địa danh cho đôi bờ sông núi khắc ghi: “Mai Xuân Thưởng vì hiếu thà chịu bêu đầu, /không đầu hàng giặc/ Chàng Lía trúng mỹ nhân kế thất thủ ở Truông Mây/ Đều là những người con của  Phú Lạc/ Đồng hương của Quang Trung hoàng đế/ Một làng nhỏ trên bờ Bắc sông Côn”(Lời kết). Chẳng hạn Nam Thi có cách lí giải thật dễ thương cho một minh chứng khởi đầu và kết thúc:

“Chỉ còn bằng lăng trâng mình dưới nắng

Hoa của mặt trời

Sinh ra từ nắng

Nắng cháy lên màu rực tím

Từ thuở dòng sông ấu thơ chập chững mở đường ra biển.

Bằng lăng theo dòng nước xa ngàn

Nên bằng lăng là nhân chứng

Của lớp lớp phù sa qua triệu năm dòng sông bồi đắp

Và kể cho ta nghe những câu chuyện đời sông”

                                            (10: Hoa của nắng)

         Riêng chương ba: Lớp lớp phù sa với chín đề mục nhỏ tổng 255 câu. Có lẽ phần này chính là cốt lõi cho sự phát triển phồn thịnh và thơ mộng nhất của Sông thiêng.

       Từ mục 11: Những mảnh đá ghè đẽo- tiếp kể theo mạch cảm xúc về sự hợp lưu và phân dòng sông Ba và sông Côn,... về tình yêu và khí tiết của tộc người anh em bên nhau đều có nét tương đồng cùng người kinh. Cũng như các mục tiếp 12: Vang vọng tiếng trống đồng Vĩnh Thạnh; 13: Apsara giờ ở nơi đâu; 14: Trơ gan cùng tuế nguyệt...; 15: Chuyện vợ chồng voi đá; 16: Lời kẻ hậu bối; 17: Tuy Viễn- Đất võ Trời văn; 18: Đất lành chim đậu. Và có thể nói rằng Lớp lớp phù sa ở chương ba này chính là hồn của Sông thiêng được khai thác đến tận ngọn nguồn. Lời kẻ hậu bối đặt ra: “Ta muốn hỏi voi đá Vijaya.../ Ta muốn hỏi những mảng rêu xanh.../ Ta muốn hỏi lầu Bát giác.../” Đầy cảm xúc chứa chan ân tình, mạch thơ hào sảng mà trăn trở cho âm vọng một thời đã qua: “Trải mấy trăm năm/ Tuy Viễn là địa đầu / Nơi nghỉ chân của cuộc hành trình nam tiến/ Nơi tụ hội của giang hồ tứ chiếng/ Lúc lâm thảo khấu và hiền tài/ Nên trở thành đất võ trời văn”(Tuy Viễn- Đất võ Trời văn) của nguyên nhân và kết thúc, của kế thừa và tồn tại. Đó là sự thật không thể chối bỏ của Sông thiêng ngàn năm vang vọng đến giờ:

“Sông không chỉ chở nặng phù sa

Mà còn hòa tan cả máu

Sông không chỉ hát ca

Mà âm vang tiếng khóc

Đời sông như đời người

Lớp lớp phù sa là những địa tầng ký ức

Sông không thuộc phe nào

Sông chỉ làm nhân chứng”

        Trong lời khẳng định: “Sông không thuộc phe nào/Sông chỉ làm nhân chứng” để rồi còn đường thoát thai là tuôn ra biển. Sự thật đã hòa tan, chỉ còn lại dòng chảy muôn đời là từ văn hóa trầm tích tiếp nối. Đó là sự vĩnh hằng tự nhiên hội tụ hợp tan và tan hợp là tất yếu quy luật đời sông và đời người. Để rồi những con người được khắc ghi như một Đào Duy Từ, một Mai Xuân Thưởng, Trương Văn Hiến,... đã thuộc về lịch sử. Còn những tên sông, tên làng của vùng đất rộng được mở ra “chiêu hiền đãi sĩ” những vùng miền được nhắc nhớ lưu giữ đến bây giờ trong mục 18: Đất lành chim đậu là vô cùng phong phú.

        Đến Chương IV: Đời sông, đời người.  Chỉ 58 câu, với mục 19: Sông quê, giờ chỉ còn trong kí ức về “Thuở sông chưa có cầu, dọc bờ nhiều bến đợi/ Chiếc sõng nan nối đôi bờ / Người yêu nhau ra bến sông ngồi chờ/ Con tíu tít đón mẹ về sau buổi chợ phiên/.../ Dọc dài bờ tre mùa gió nồm mát rợi/ Ghe mắm Gò Bồi ngược dòng lên Tây Sơn.../ Người đầu sông hẹn người dưới giã/ Gắng chờ buồm mùa gió thuận năm sau”. Dập dìu và nhớ thương.

       Và cuối cùng mục 20: Tắm mát sông thiêng(thay lời kết): cứ tha thiết khẩn cầu trong sự lặp lại: “Về đi người ơi...về đi/ Sông quê luôn đợi người về tắm mát/.../ Về đi người ơi/ Nước sông thiêng không cải lão hoàn đồng/...”. Có thể hãy đồng hành cùng anh bằng đôi chân, hay miên man kí ức trên những nẻo đường quê tìm chút bóng tre dọc bờ sông Côn, nơi chiều về cánh cò còn chao nghiêng tìm tổ. Hay cũng có thể đồng hành cùng anh sẻ chia chút vui buồn thoáng qua như giấc mộng một đời người, mà đời sông là chứng nhân vĩnh cửu:

             “Đời đổi thay bãi bể nương dâu

             Nhưng sông thiêng vẫn chảy

             Đời sông dài

             Đời người ngắn lắm người ơi

             Sông theo ta góc biển chân trời

             Ta gửi hồn ta cho sông đời đời lưu giữ”.

         Trường ca Sông thiêng có 596 câu là điều bất ngờ ngoài dự định đặt ra của tác giả khi chốt lại phần kết trong ngày thứ 12. Bởi lẽ không nhẫn nha hay tham vọng, khi định hướng chủ đề, theo phạm vi giới hạn các chương đã vạch ra, chỉn chu cho mỗi tứ trong phần đề mục trường ca. Trở lại ban đầu cuộc chơi “giamahazui” đã về đích ngoài thời gian dự định cho sáu tháng. Nguyên nhân không là tuổi tác, cái chính là tích lũy kiến văn, của thực tế đời sống đã làm nên một Nam Thi với trường ca Sông thiêng ra đời. Những yếu tố lịch sử, văn hóa và con người trong trường ca là cái nền cho Sông thiêng của anh thăng hoa trong sáng tạo. Không kì vọng, có thể Sông thiêng của Nam Thi góp thêm vào vườn văn Bình Định về thể loại trường ca sau tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác viết về dòng sông quê hương./.

08.07.2021 / Nguyễn Thị Phụng

 

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2021

Thơ Trần Mai Hường: Bừng nở khoảng trời dấu yêu

Thơ Trần Mai Hường: Bừng nở khoảng trời dấu yêu

144

Nguyễn Thị Phụng

(Đọc Mây mưa với chữ, tập thơ Trần Mai Hường NXB. HNV, 2020)(Vanchuongphuongnam.vn) – Mây mưa với chữ không là cuộc thử nghiệm cấu trúc, phá cách mà an nhiên thoát thai từ một tâm hồn nhân bản. Đồng hành cùng thơ Trần Mai Hường mang tính tích cực, bởi sự cân bằng trong mỗi bài thơ đâu còn khoảnh khắc nuối tiếc quá khứ, hối hả nhịp đời đánh đố của bậc nữ sĩ tài hoa. 

  Mây mưa với chữ là tập thơ thứ tám của Trần Mai Hường, trong đó có ba tập in chung với vài nhà thơ nữ khác gần đây, chọn điểm tựa cùng chị em và từ đó làm bệ phóng riêng để thoát thai vốn có căn nguyên của mình: “Này thì anh/ Này thì thơ/…/ Này thì người/ Này thì em/ Quấn bao dan díu lấm lem thành tình/ Những huyền ảo, những phiêu linh/ Tên anh- từ khóa- chỉ mình em tra/…” (Từ khóa)*. Thơ Trần Mai Hường ở những tập in riêng trước (Sống khát-2009, Đó là em-2010, Những ngọn sóng tỏa hương-2012, Ngược đêm-2014) chứa đựng đầy đủ thi ảnh: “Cuộc đời chỉ có màu sắc ý nghĩa khi ngoài bánh mì còn cần phải có hoa hồng, ngoài tồn sinh thì sống phải có khát vọng- dù trả giá, trắng tay. Dầu vậy, cái giá của khát vọng và hạnh phúc ở đời là thước đo tầm vóc của con người chân chính”(Lê Minh Kha, Hồ Vân Anh – Sinh thể văn học… – NXB Khoa học Xã hội, 2020). Còn cách tra từ khóa tên anh trong Mây mưa với chữ phải chăng đã Bừng nở khoảng trời dấu yêu riêng của bậc nữ sĩ phương Bắc mưu sinh trên đất phương Nam miệt mài phấn chấn: “Chiều nay sóng dội ngàn xa/ Biết đâu sóng đợi kết hoa dâng đèn” (Từ khóa)*.

Với Trần Mai Hường, dù là một từ trong câu thơ, hay các câu trong một tứ thơ đều chỉn chu cẩn trọng. Bốn mươi lăm bài trong tập là sóng, là hoa, là đèn lung linh tỏa sáng theo mạch cảm xúc đón nhận. Một trái tim thổn thức đã từng khẳng định trong Đó là em** trước đây… khởi đầu chặng thơ đầy va vấp mà an nhiên: “Ta nhẩn nha cười này nhục, này vinh/ Chưa bám mép khôn đã trượt cuồng lưu dại/ Những tứ thơ rùng mình tự trói/ Rồi thăng hoa theo nhát chém thánh hiền”. Những tứ thơ của nữ sĩ lúc này không tự trói ngột ngạt, bung tỏa mây mưa khôn cùng cho những sắc cầu vồng phát tán.

Trong Mây mưa với chữ có lúc thả lỏng khoảnh khắc riêng tư không là bất chợt, dẫu lời đẩy đưa như gió mây trời, ngỡ đồng thuận nhưng được kiểm soát bằng vách ngăn mỏng manh như tấm áo, chị điều khiển bảng chữ cái trên bàn phím bắt mạch nhịp nhàng cho mỗi câu thơ cất cánh mới lạ run rẩy đến tận cùng nhưng nhức, vòi vĩnh từ lúc: “Anh mang mùa đàn ông ru em/ Đêm ấy thiên đường bỗng chật/ Lưng chừng trời chỉ đôi ta cổ tích/ Ngàn sao hoang gió đa tình/...” (Mùa anh)* chới với, đọa dày thi nhân: “Em lại nguyên em – bản thể – tinh khôi” (Vó ngựa trót hoang em)* đã kịp kìm nén nhận ra: “Lại em sắp ngửa nổi chìm/ Bơi trong sóng chữ biết tìm đâu phao” (Xin chừa lối thương)*. Rồi hoài nghi Gieo buồn giữa dòng trôi*: “Hỏi người đã thấm mê chưa/ Mà đem hồn đá làm bùa cầu hôn”. Cũng là chất vấn của liễu yếu đào tơ mà nữ sĩ Vân Đài thế kỉ trước từng chốt mạch đàn ông: “…Giăng đường mật ngọt lưới tơ tình/ Để lừa quấn riết đôi chân nhỏ/ Của những nàng tiên trẻ rất xinh”. Thì ra… xưa và nay cái tình đôi lứa bướm ong bám chặt đeo đuổi thân phận hồng nhan, cả thánh thần nơm nếp lo âu vồ vập.

Sự thử thách và cân bằng để trở lại với nhận thức chính mình. Thì ra hụt hẫng ấy không là nguyên nhân chối bỏ hòa nhịp, đền bù xứng đáng trái tim chân tình độ lượng, thỏa đam mê phóng khoáng khi Viết cho người đến sau*: “Cảm ơn anh/ Người đàn ông bao dung/ Đã dám yêu cả những bài thơ/ Em viết cho người cũ/ Những trái tim em sa mạc/ Anh có chắc mình thảo nguyên”. Những chông chênh hụt hẫng duy nhất lần đò sang ngang dang dở. Trở về em với thực tại (Vó ngựa trót hoang em, Xin chừa lối thương)*. Đâu riêng mình, thân phận thi nhân ngút ngàn những trầm luân dâu bể. Trần Mai Hường lần chọn từng trang sách thể ôn cố tri tân góp nhặt: “Lại thèm đọc Xuân Hương cười ngạo nghễ. Nhưng cau nhỏ trầu hôi đã trót quét một đoạn đời. Dù vẫn biết chẳng có gì bất biến. Sao vẫn đắng lòng trước xanh lá bạc vôi./ Ừ, đành lại quăng mình vào chữ nghĩa. Nghe Nguyễn Du than buốt những trang Kiều. Rằng sau bao đắm mê phút liền cành chắp cánh. Đau đã mưng mầm từ rẻ rúng người gieo”. (Ai nhớ đã từng nhau)*. Vậy thì, thi nhân chính là chủ thể trữ tình, những cung bậc cảm xúc ấy dễ dàng đến với người tiếp nhận qua thi hứng sáng tạo ở mỗi tứ thơ, không một trùng lặp. Hễ mỗi lần đè nén tột cùng đau thương thì câu thơ tài hoa nữ sĩ ngút ngàn dấu thăng.

Nét bổng trầm đa mang chính là nhịp phách Trần Mai Hường khi đối diện với tự nhiên không một ràng buộc. Lúc thì thuần thục: “Người đàn bà chọn thản nhiên về cứu rỗi. Xót xa ơi xin khép mắt nguyện cầu. Ngủ ngoan nhé trái tim mềm thương lắm. Gấp trang đời ai nhớ đã từng nhau” (Ai nhớ đã từng nhau)*.

Lúc thì Phân vân*: “Đò tình người chạy dọc/ Bỗng vương mắt em ngang/ Muốn nhốt anh vào sóng/ Lại thương những lỡ làng”.

Lúc thì Trót em* tự bạch thăng hoa:

“Chớm đêm vấp lối địa đàng

Gặp E-va với A-đam ngọc ngà

Thưa rằng-em-phận hồng hoa

Trót mây mưa với chữ mà hoang thai”

Phận hồng hoa lại trót mây mưa với chữ mà hoang thai. Cái thai không cần siêu âm đã xác định giới: “em” an nhiên thoát xác Thả bùa* tình tự với tự nhiên đất trời thơ mộng đẹp đẽ đến nhường nào trong tứ thơ năm chữ:

“Không thể bình tĩnh được

Trước Đà Lạt và thông

Rượt đuổi theo em – gió

Cứ trôi nhau kiệt lòng

        

Không thể bình tĩnh được

Trước rừng lạ mây tươi

Mơ lạc miền thành thảo

Mùi trần gian dụ mời”

(Thú nhận)*

Nếu bụi hồng trần mù mịt vùi dập thân phận nhọc nhằn, thì vì sao cái mùi trần gian dụ mời thi nhân bối rối đến nghiện như vậy?! Thưa rằng mùi trần gian của tri âm, tri kỉ còn không thể thiếu sự hôn phối cho việc phồn thực thiêng cao quý. Mùi trần gian dụ mời cho khúc tình ca viên mãn dịu ngọt: “Em sẽ có một tháng tư trong tim. Tháng tư có mùa anh ngự trị. Cát mịn biển xanh nắng hường quyến rũ. Một tháng tư mềm là lụa ghé môi thơ/…/ Sóng sóng sóng từ đâu bất tận vỡ òa. Vi diệu lắm không thể tin có thật. Giữa đắm say vũ điệu tình ảo thực. Em thầm thì thương lắm tháng tư anh” (Tháng tư phiên khúc anh)*. Mùi trần gian dụ mời tinh tươm hấp dẫn đã hoán đổi không ngần ngại:

“… Hình như em liều thế chấp

Cả đời thơ em nhọc nhằn

Biết chìa khóa đời có mở

Người em tìm đúng anh không”

(Em liều thế chấp)*

Để rồi khi chạm thấu Mây mưa với chữ bắt gặp một Trần Mai Hường say với mình, say với thơ: “…Cứ tự mình nguệch ngoạc/ Vẽ đa đoan cho đầy/ Tháng mười ngày mười chín/ Sao chỉ mình ta say// Xin đời đừng gió nữa/ Xin tim nhỏ thôi hờn/ Tự mình hôn mi ướt/ Hương tự mình cầm hương” (Sinh nhật)*. Một chút đớn đau mà tận hưởng. Ta cần đời hay đời cần ta. Hay cả đời và ta hòa quyện. Soi vào không gian đời chới với những vần thơ. Soi vào thời gian bóng nguyệt địa đàng trót đam mê say đắm: “Định cư ở lưng chừng trời/ Thầm em ước gặp được người trần gian/…/… Kinh nhật tụng thuộc ngàn trang/ Mà yêu nhớ vẫn xếp hàng cầu may// Là hường – thương cánh môi lơi/ Là trần xin nhé hẹn đời mốt mai” (Mai Hường Trần)*. Ngỡ nữ sĩ núp bóng Tản Đà ngông nghênh trăm năm trước, mà tôi luyện chưng cất mật tình đánh vật trái tim đã đủ chưa. Ngỡ nữ sĩ núp bóng thi tiên, thi thánh như Lý Bạch, Đỗ Phủ trong văn học phương Đông đã tôn vinh để có những tứ thơ đầy bất ngờ thú vị. Thêm chút tâm tình san sẻ: “Hà Nội hôm nay nắng phải lòng mùa/ Em cầm nhớ lang thang ru-bích chữ” (Ru-bích chữ)*. Phải chăng những cầm nhớ, cầm hương rồi cầm lòng không đỗ, thơ cuồn cuộn bay vào trang sách làm sứ giả tâm hồn, không theo khuôn mẫu nhào nặn. Đừng ngỡ quả trứng gà giống nhau, nếu cận cảnh sắc màu đã khác. Vỏ ngôn ngữ thơ tồn tại trong sáng tạo văn chương thuần khiết lắng sâu trí tuệ.

Mây mưa với chữ không là cuộc thử nghiệm cấu trúc, phá cách mà an nhiên thoát thai từ một tâm hồn nhân bản. Đồng hành cùng thơ Trần Mai Hường mang tính tích cực, bởi sự cân bằng trong mỗi bài thơ đâu còn khoảnh khắc nuối tiếc quá khứ, hối hả nhịp đời đánh đố của bậc nữ sĩ tài hoa.

N.T.P

01.02.2021

—

* Tên các bài thơ trong tập 

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2020

BẾN BỜ VĂN CHƯƠNG, Những vẻ đẹp thơ 1- của Lê Hoài Lương

 BẾN BỜ VĂN CHƯƠNG



            (Đọc Những vẻ đẹp thơ 1- của Lê Hoài Lương, NXB HNV 2019).

         Đặc thù của văn chương không trùng hợp với các loại hình nghệ thuật khác, luôn có bến bờ. Đó là cái tứ cho sự hoàn thiện mỗi tác phẩm ở  người sáng tác. Tiếp theo là sự tiếp nhận không đơn thuần của độc giả mở ra chân trời mới như Những vẻ đẹp thơ 1- Cảm nhận và bình thơ của Lê Hoài Lương NXB HNV 2019. Chẳng hạn khi viết về Thơ viết ở biển*(tr.150): “Biển của Hữu Thỉnh cũng quen thuộc các chất liệu: sóng, gió, cánh buồm. Cũng như tình yêu luôn cần có hai người. Đúng ra, tình yêu luôn cần cái cô đơn. Chính trạng huống cô đơn vô tình góp phần nuôi dưỡng tình yêu. Và, người ta đã thành nhà thơ từ cái cô đơn trong tình yêu”.

          Sự lựa chọn cách giải tỏa nỗi “cô đơn” góp phần nuôi dưỡng tình yêu đối với Nhà văn hướng về tác phẩm. Cân bằng tâm hồn luôn song hành: đọc- tiếp nhận, viết- truyền thụ và định hướng khách quan. Công việc không đơn giản. Những vẻ đẹp thơ 1 hiện lên vừa từ ngằn cô đúc của người bình thơ, nhưng điểm nổi bậc không là sự tản mạn làm phá vỡ câu từ trong bài, giữ cái hồn cốt cho thơ, là duy trì thăng hoa cảm xúc với người sáng tác, đồng thời mở ra phần nào mối quan hệ vốn có của thi nhân. Nên mở đầu trang sách, trong phần Vài lời... Tác giả đã lí giải: “Tôi mê thơ. Mọi tạng thơ, từ mấy ngàn năm trước,.... Hình thức thơ khác nhưng chỉ một đích cuối cùng, dù ngàn năm hay mới hôm qua, thơ sống được trong bạn đọc, là thơ hay...”. Cái minh chứng đầu tiên, ngoài thơ anh sáng tác và giải thưởng thơ của Bình Định từ những năm tám mươi, thế kỉ XX. Anh thuộc thơ rất nhiều và hào hứng đọc thơ bạn bè trong những lúc nhàn tản, kể cả khi dự Trại Sáng tác ở Sao Việt Phú Yên. Nói có cơ sở trong Nhà văn và Tác phẩm số 3 và 4.2019 đã lưu lại. Theo cách nhìn của Lê Hoài lương đến với thơ hay là niềm đam mê của mình, không phân biệt tác giả, xưa và nay.

         Nhưng anh lại là người chuyên văn xuôi, nhất là mảng truyện ngắn với nhiều giải thưởng cao Đào Tấn- Xuân Diệu năm năm một lần của tỉnh, sáng giá trong Tạp chí VNQĐ, trên Báo Văn nghệ, truyện ngắn mới nhất là Người bọ chét, Nghề vớt xác đạt giải nhì năm 2018- 2020 của Nhà văn và Tác phẩm. Nói là để khẳng định, Cảm nhận và bình thơ cũng vậy. Cái cốt là tinh, thấu đáo. Sự thẳng thắn vốn có trong cách viết mà Nhà văn đã nêu ra “Có thực trạng:  Trên báo, tạp chí in mục bình thơ... quá cũ nhàm. Đến hơn nửa thế kỷ, kiểu bình tán “thủ công” này rồi, còn gì?”(Tạp chí VNBĐ, 7.2020), và không ngại thuyết phục: “Với năng lượng dồi dào của mình, anh có thể bày biện cho bạn đọc một khoái cảm thưởng thức khác với những món ăn đã tỉ mỉ các thứ chế biến, gia vị...”(Tạp chí VNBĐ, 7.2020). Cho nên một khoái cảm thưởng thức khác không ép buộc: “Bạn có thể không đồng cảm, không thích lời bình của tôi. Nhưng nếu bạn không thích những bài thơ trong tập sách này, chắc chắn không phải lỗi tôi”(Tác giả). Nên chăng đó là sự sẻ chia chân tình nhất của Nhà văn.

         Những vẻ đẹp của thơ 1 có thể hiển lộ qua ngữ nghĩa phía sau của ngôn từ. Tôi đã dừng lại thật lâu đoạn cuối bài Cõng bạn về quê(Với liệt sĩ Nguyễn Hữu Nhơn) của Lý Hoài Xuân: “...Tao bỏ mày vào ba lô/ Cõng đi tàu thống nhất/ Cấm cựa quậy để nhân viên tàu biết/ Họ ách lại giữa đường thì khổ mày ơi!” (Nguồn: Thivien.net). Lê Hoài Lương lôi cuốn bạn đọc gần trang sách về thơ và thơ hay: “... Không phân biệt nó thuộc trường phái nào, phong cách nào, cũ hay mới, cứ bật ra, thơ hay... chinh phục tức khắc người nghe/đọc, lần đầu tiên, vô điều kiện” và “Đề tài tình đồng đội, những người từng đánh giặc cũng đọng lại nhiều bài thơ hay. Chuyện cạn tỏ nỗi niềm, thân thiết ký gửi kiểu “mày, tao” cũng từng có Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ của Phạm Sĩ Sáu nhiều người thích.” Để rồi, giới thiệu bài thơ về một chút tâm tình của bạn bè, sau dẫn dắt bối cảnh mở đầu tứ thơ. Không dàn trải hay lan man phần tiếp theo. Cuối cùng đi đến cái kết khẳng định: “Dường như Lý Hoài Xuân không làm thơ, nếu xét thơ với mọi thứ nhì nhằng nội dung, nghệ thuật gì gì đó. Chút ý nghĩ, tâm trạng, tâm sự về bạn, với bạn, đúng ra là với hài cốt bạn, chân thành và trực diện. Ở đây là cái tuyệt đích chân thành và trực diện. Vậy có nên định nghĩa thơ hay là thơ từ trái tim đến với trái tim không?”(tr.149).

        Những vẻ đẹp của thơ 1 luôn dẫn dắt người đọc cái tính khách quan của người tiếp nhận yêu thích và sảng khoái như thế nào khi giới thiệu bài thơ: “Có điều lạ và dễ hiểu: thơ càng sống trong lòng bạn đọc càng nhiều dị bản. Không kể văn bản trên mạng tam sao thất bản bây giờ, riêng chuyện nhiều người thuộc, hứng lên, diễn đàn rượu thơ nào cũng đọc, và tha hồ “sửa” một vài từ theo ý mình cho đã, người đọc, người nghe dần rồi... nhập tâm, cứ vậy rất tự tin “xuất bản” miệng những lần sau. Bài thơ Vua và em của Trần Viết Dũng là một trong những trường hợp như thế”(tr.21)

         Hay khi đến cái kết chân tình hơn cả khói hương: “Không phải chuyện bếp núc nữa, ngọn lửa với tro tàn đã là “một người từng giúp mẹ con ta sống sót” và “tro tàn cũng làm nên vẻ đẹp”. Giản dị và thiêng nghiêm cách so sánh, cách nói về tro tàn. Bạn sẽ bảo kiểu triết lý tro tàn và vẻ đẹp cũng không mới. Thực ra Lê Văn Ngăn có định khám phá gì đâu, ông chỉ nói cái điều con người thường bỏ quên. Thư gửi mẹ và những nắm tro tàn không chỉ là bài thơ hay về mẹ. Điềm đạm và như rụt rè những chiêm nghiệm cho riêng mình, Lê Văn Ngăn lặng lẽ nhặt nhạnh, nâng niu từng mẫu tro tàn sự sống. Đó là vẻ đẹp thơ ông, một vẻ đẹp thực sự có chiều kích”(Thư gửi mẹ và những nắm tro tàn- Lê Văn Ngăn).

         Kể thêm một cái kết sau khi dẫn dắt về nỗi nhớ như trong thơ tình Xuân Diệu, của Phạm Tiến Duật, của Dương Hương Ly,... đều có minh chứng, để rồi chốt lại: “Nhiều nữa các cung bậc của nỗi nhớ, nhưng Nhớ vợ của Cầm Vĩnh Ui là riêng, là độc đáo. Vì riêng và độc đáo nên số phận của nó không bình thường”, và số phận không bình thường không là cái tứ của bài thơ mà xâu chuỗi thêm một số bài thơ và cuộc đời của thi nhân.

        Trong Những vẻ đẹp của thơ 1 chừng mực theo mạch cảm thụ. Bởi nhà văn không là chuyên gia trợ giúp mổ xẻ câu chữ, văn tự vốn có ở mỗi tứ thơ. Thể như cùng độc giả tâm tình với thi nhân. Thế minh bạch là nâng cảm nhận, gợi mở sự sáng tạo cho người tiếp nhận ở hai văn bản: Bài thơ của tác giả và nâng tầm những vẻ đẹp thơ bằng lí luận rất Lê Hoài Lương: “Nhưng hình như Nguyễn An Đình bẫm sinh là thi sĩ dù anh cuốc cày và am hiểu đời nông dân. Chỉ nòi thi sĩ mới sống bằng huyễn mộng, mới nghe được thời khắc “thu trút lên ngàn” và “nằm ngửa miệng uống tàn trăng đêm”. Đứa con truyền nghề nông dân trong bài thơ biến mất và vấn đề mưu sinh đặt ra không còn nữa. Chỉ còn cái khoảnh khắc xuất thần nhập nhòa cuộc nhân sinh thi sĩ./ Nếu không phải vậy thì đây là những câu thơ ma ám!”.

          Rất cần nói đến cái đằm sâu ở bài thơ Sẽ một ngày của Phùng Tấn Đông chép tay tặng(tr.44), Lê Hoài Lương chụp nguyên bản đưa vào Những vẻ đẹp thơ 1 . Phải chăng anh trân trọng mối quan hệ, hay sự độ lượng của thi nhân với người tình của mình. Cả hai. Cái đẹp nhất của tình yêu là cho đi: “...Và mạch diễn đạt này đã khai mở, dữ dội mà nhẹ tênh, nhất quán. Phần tiếp theo là nói với tình: Sẽ một ngày/em thôi đừng nhắc/ anh đón em trong căn nhà nguyên vẹn/ giấc mơ xưa/ em cứ hồn nhiên ra sân mà hong tóc/ cứ bình tâm cắm hoa chờ kẻ khác/ những đóa vô ưu trắng muốt dịu dàng/... Chuyện tình yêu, hạnh phúc đáng lý đã nói đủ rồi, nhưng dẫu gì cũng có sự riêng giữa hai giới: trên thân thể em bất trắc/ sẽ mọc lên tiếng trẻ con cười/ từ hôn phối mùa thu và âm nhạc/”.

        Rồi thi nhân với thi nhân như: Người lái đò bến My Lăng của Lệ Thu(tr.74), Xuân Quỳnh với Tự hát(tr.80). Trân quý Những chiếc lá thiêng của Từ Quốc Hoài(tr.164), Viếng chồng của Trần Ninh Hồ, Những người đàn bà gánh nước sông của Nguyễn Quang Thiều(tr.70), Hỏi Kim Dung của Văn Trọng Hùng(tr.100), Một vị tướng về hưu của Nguyễn Đức Mậu(tr.60), Viết tặng một “gái bao” của Tạ Văn Sĩ(tr.145), Tặng vợ của Hồ Dếnh(tr.106), Vườn xưa của Tế Hanh(tr.90), ... Tất cả trong toàn tập trên 180 trang đều là những vẻ đẹp thơ từ mọi nguồn ngoài chép tặng, nguồn quansuvn.net, nguồn Thiviet.net, và rút từ mỗi tập thơ của mỗi tác giả. Vậy thì Nhà văn Bình Định yêu thơ không có gì lạ. Cái xứ sở ra ngõ gặp anh hùng không quên “luyện võ” thường ngày, khẳng khái mà hào phóng đã làm nên cốt cách Nhà văn yêu quý thơ đến chừng nào. Suy cho cùng những người thực thụ yêu văn học đến với văn chương đều giàu nhân bản.

        Không chỉ có ba mươi bảy thi nhân xưa và nay họp mặt trong Những vẻ đẹp thơ 1 của Lê Hoài Lương mở rộng bàn tròn cùng bạn đọc về miền văn chương Việt đa dạng, phong phú đến như vậy. Bởi thơ không thể thiếu trong đời sống tâm hồn mỗi người. Thơ hay, không cần cái cao siêu đẳng cấp hàn lâm ngôn từ, lại rất “ca dao, thành ngữ” chân chất mà thấu tận trái tim hòa cùng nhịp thở. Yêu thơ, lại chịu khó góp nhặt thơ, thuộc thơ, khác nào công việc tinh tuyển kho báu từ mọi thi hứng của nhà thơ, anh lại không cất giữ riêng mình. Có phải đó là sự quảng đại và minh triết. Tin chắc trên miền đất hứa trong trang sách Cảm nhận và Bình thơ Những vẻ đẹp thơ “n” tiếp theo của Lê Hoài Lương sẽ đến với bạn đọc./.

20.09.2020

Nguyễn Thị Phụng.

DỌN MÌNH ƯỚP LẠI MÙI SEN BAN ĐẦU, Nguyễn Thị Phụng đọc thơ Lệ Thu

 

DỌN MÌNH ƯỚP LẠI MÙI SEN BAN ĐẦU



          (Đọc Khói mỏng nhẹ bay- tập thơ Lệ Thu, NXB HNV 2020)

          Chặng đường thơ Lệ Thu kết nối trước tháng 5. 1975 và hai mươi năm đầu thế kỉ XXI đã có trên mười tập thơ cùng với Nhật ký Nữ Nhà báo chiến trường. Cả những Giải thưởng được vinh danh trên thi đàn Văn học Việt Nam. Nhưng với chị đâu chỉ tự dặn lòng còn muốn sẻ chia: “Tháng ngày lấm bụi bon chen/ Dọn mình ướp lại mùi sen ban đầu(Tơ sen)*. Nếu ở tập văn xuôi trong gian khổ chiến trường giàu chất trữ tình bao nhiêu thì tập thơ Khói mỏng nhẹ bay lại đậm chất triết lí nhân sinh bấy nhiêu. Đó là lẽ thường bậc cao niên nữ sĩ Việt Nam.

          Từ điều Suy ngẫm* đầu tiên... đến  ba bài cuối: Tơ sen*, Hành trang*và Khói mỏng nhẹ bay* kết thúc gửi đến bạn đọc gần xa khơi dòng hừng đông mặt biển hay lặng lẽ ánh tà dịu êm, cũng phải trải qua hai mươi bốn giờ trong ngày cộng hưởng. Tất bật, vội vã để rồi thong thả ung dung vẫn là cốt cách Nhà thơ rất Điềm đạm Việt Nam ** không thể thiếu của người Tuy Phước như Nguyễn Diêu, Đào Tấn, Xuân Diệu,...

         Phận người và nỗi cô đơn trong Khói mỏng nhẹ bay không hề tách bạch. Chẳng là thỉnh cầu, hay an phận thủ thường, nhưng với thi nhân yêu lắm sự tự tại của mình. Thanh lọc tâm hồn. Buông. Lại vô cùng lắng đọng. Bởi dòng sông quê hương luôn là bên bồi bên lở, nước dẫn từ nguồn ra bể, cũng luân lưu hòa mình thẩm thấu cùng biển mặn kia: “Ta là giọt nước biển khơi/ Chết đi muối vẫn mặn mòi ngàn năm”(Muối)*. Chỉ ra điều Ngộ*(tr.92) trong bài lục bát tứ tuyệt:

         “Đã xong nghĩa trọng với người

          Chẳng cần ràng buộc những lời vu vơ

          Thôi mong đợi, hết nghi ngờ...

          Ta thanh thản với với vần thơ một mình”

        Với vần thơ một mình, với thanh thản ấy được bao lâu. Ừ nhỉ. Khởi sinh từ Một đời* qua Cầu vồng bảy sắc*, như Giọt đêm* dễ gì tan vỡ, là sự Biện hộ cho người nói dối*. Để bạn đọc hiểu thêm lời muốn nói (Lý lịch trích ngang)*, không riêng mình cần thấu đáo hơn nhịp đập mỗi phận người hiển hiện bên cạnh ta (Dáng em bơi đứng, Suất cơm thiện nguyện,..)*. Sự mở khóa để bước vào đời sống tâm hồn người bằng những việc làm nho nhỏ mà vô cùng lớn lao. Vô cùng trân trọng sự tỉ mỉ quan tâm, không thể phớt lờ, vô cảm. Rồi cố nén dấu lòng, trăn trở phẫn nộ bởi những nhập nhòa trước mắt kẻ mưu cầu lợi ích riêng tư, vụ lợi hay là sự nhẫn tâm vơ vét “máu xương” của đồng bào đã trải qua bao cuộc kháng chiến, bảo vệ chủ quyền dân tộc, lời thơ đầy uất ức:

        “Đau đến tận cùng không còn chỗ để đau

         Hụt hẫng vô biên sau bao lần hụt hẫng

         Từng chân thực trọn mình cho và nhận

         Chẳng phân vân tính toán nghi ngờ

         Mãi mê vượt sóng tìm bờ

         Bão ở trong tim, bão từ ruột đất

         Cái còn cũng chẳng còn, cái mất thì đã mất

         Đau đến tận cùng không còn chỗ để đau”

                                         (Hụt hẫng)

         Xét về bình diện cấu trúc một tứ thơ. Thì Hụt hẫng* mở đầu và kết thúc đều lặp lại: Đau đến tận cùng không còn chỗ để đau” là sự phẫn nộ của một trái tim đã từng cống hiến vào sinh ra tử nơi chiến trường đẫm máu trên quê hương Bình Định ruột rà mình trước đây.

         Một Chấp chới mùa xa* đong đầy: “Trời vẫn mưa to và nhiều gió lạnh/ Nghiêng bên nào cũng lốc xoáy dòng đau!”. Rồi có lúc lãng đãng những khát khao, đoái hoài: “...Ru nắng mai đến tận trăng tàn/ Cất giấu mãi chờ mong, ao ước/ Trái tim buồn run rẩy chốn nhân gian”(Kiếp khác)*cũng đành vậy thôi những mưa nắng đắng cay bên đời, những ngụp lặn nông sâu trớ trêu gợi nhớ (Một thời trăng tỏ, Trăng khuyết, Hương tự mùa xa,...)*.

        Khói mỏng nhẹ bay hòa mênh mông giữa hoài niệm và thực tại trong trái tim thi nhân. Không là phân cách, nhưng lại là song hành vẻ đẹp về một thời đã trải nghiệm. Cái thực tại của quá khứ, là thực tại mang tính nhân sinh, một trái tim nhân từ, vị tha luôn được bảo hành nhân rộng và sẻ chia từ mọi kích cỡ tâm hồn. Lúc thì tựa như một châm ngôn trong thể tứ tuyệt: “Biển cứ ngỡ lòng mình đủ rộng/ Hóa giải bao nhỏ mọn bọt bèo/ Biển cứ ngỡ hào hùng ngọn sóng/ Dưới muôn trùng rác rưởi vẫn trong veo”(Biển)*. Lúc thì phân trần dè dặt chỉ bốn câu: “Lan man cùng gió chiêm bao/ Ôm con sóng nhỏ thả vào đắm say/ Vùi trong đêm mọi chua cay/ Cho mặn ngọt giữa ban ngày vinh danh”(Vị đời)*. Lúc thì san sẻ mở lòng:

        “Chợ chiều nhiều khế ế chanh”

          Em gom hết đắng cho anh ngọt ngào

          Những gì thương, những gì đau

          Chất lên chật cả khoang tàu thiêng liêng

          Em từ góc khuất an nhiên

          Cầu cho “khế”của trăm miền đừng chua”

                                   (Thương bấy ca dao)

        Cầu thang lên bậc tình yêu thăng hoa trong cảm xúc của nữ sĩ. Và tôi cho rằng không còn là sự hiếm hoi khi đọc hết những bài thơ trong Khói mỏng nhẹ bay. Ta học được thêm những gì ở chị để đủ đầy Hành trang*:

        “Mỗi ngày sống như một ngày áp chót

         Xin nhẹ lòng buông hết mọi sân si

         Chỉ yêu thương và làm điều có ích

         Chút hành trang gom góp tự xuân thì”

Cách lối vào tâm hồn tỏa hương hòa nhập sự sống “... Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui cùng với anh em tìm đến mọi người... Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống, vì đất nước cần một trái tim”(TCS). Rất thiết thực ngời sáng Thương quá, Việt Nam ơi!* Bởi trong suốt chiều dài đại dịch Covid-19 hôm nay, cả nước ra quân dập dịch, có biết bao trái tim Những ngọn đèn đức hạnh*(tr.119): “Chưa phải Phật- chỉ là Người/ Không ngự ở Tòa sen/ nhưng có thể chia cho đời chút nắng/ bằng trí tuệ sau nụ cười thầm lặng/ bằng tài năng sau giọng nói khiêm nhường/ bằng trái tim tràn ngập yêu thương/ bằng cử chỉ dịu dàng/ bằng “quyền uy”lễ phép/...”. Phải chăng bảo vệ sự sống, không quên đồng hành lệnh từ Công hàm của sóng* đóng dấu đỏ trong thơ Lệ Thu.

       Khoảng lặng Khói mỏng nhẹ bay được lan tỏa mái ấm gia đình thoáng Phảng phất mỗi mùa xuân sang* dặn lòng về một Tình yêu cứu rỗi*: “Nếu không có tình yêu chân thật của anh/ Những tán tỉnh vu vơ có thể làm em nghiêng ngả/ Lời chót lưỡi đầu môi trả giá/ Vũng nước trâu đằm vờ thăm thẳm giếng thơi/...”. Nên lời nhắc nhở (Nỗi buồn không gọi được tên, Yêu cho cây lúa lên đòng, Trái tim lưu lạc, Can đảm,...)*. Có những lúc Nỗi niềm thơ* bật dậy, chị... thao thức Cùng mẹ canh khuya*, Mùa Vu lan* cứu rỗi. Rồi Người Mẹ- Nhà thơ bức xúc tấm lòng: “Con vất vả mang cành đào từ Hà Nội/ Về Quy Nhơn... cho Tết má đỡ buồn/... Cảm ơn các con/ với cành hoa và tiếng cười con trẻ/ rộn ngày Xuân.../ khỏa lấp những đau buồn!”(Cành đào thơm thảo)*. Qua đi những đau buồn là cánh cửa mở rộng bầu trời nhắn nhủ yêu thương: “...Sáo vi vút nhạc trời xuân đồng vọng/ Cứ bay cao cho thỏa sức cánh diều” (Viết cho con tuổi năm mươi)*. Và chính bàn tay chị- Người Mẹ, Thi nhân thôi thúc, sẵn sàng khi Khói mỏng nhẹ bay*:

       “Dặm dài vạn đóa hoa tươi

         Thắm trong vạn trái tim người khát yêu

         Bay lên! Gió giục cánh diều

         Sợi dây nối đất cuối chiều mỏng manh”

      Khói mỏng nhẹ bay có cần ướp lại mùi sen ban đầu!...

      Tự tên những bài thơ trong tập lúc dìu dịu hương sen theo làn gió phảng phất đâu đây, lúc thì lan tỏa cả bờ hồ, đọng vào cỏ cây hoa lá mở rộng không gian xanh vời vợi Bay lên! Gió giục cánh diều ngang tầm thời đại. Khói mỏng nhẹ bay là hình tượng thơ của Lệ Thu. Mỗi tứ thơ trong bài, mỗi bài trong tập đều bộc lộ cảm xúc chân tình, khát vọng, còn là sự bảy tỏ chính kiến, là sự trải nghiệm gian lao, va vấp chông gai tình đời, tình người nhẹ nhàng mà sâu lắng, đôi khi cũng kiên quyết không khoan nhượng dẫu là một người phụ nữ, là sự đánh đổi hạnh phúc không dễ gì có được, nếu ta không thực sự hòa mình cùng cuộc sống với nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi. Xin cảm ơn chị về những dòng chữ kí trang đầu tập thơ như điều ước bàn giao: Thương tặng em Nguyễn Thị Phụng.

15.09.2020

____________

*Tên các bài thơ trong tập

**Tên tập thơ của Nhà thơ Lệ Thu.