Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

NGỠ NGÀNG SAY MỘT TỨ THƠ. Nguyễn Thị Phụng.

NGỠ NGÀNG SAY MỘT TỨ THƠ.
(“Đắm đuối nửa tờ thơ ” của Đặng Quốc Khánh)

    
        Tôi rất thích hai câu thơ: “Cứ mỗi năm chợ càng thêm trẻ/ Chẳng ai già khi trời đất vào xuân”(Lúng liếng tình xuân) in trong tập Lóng ngóng câu thề (Nxb Đà Nẵng-2006) của Đặng Quốc Khánh.Đến nay, tập “Đắm đuối nửa tờ thơ ”ra đời, Đặng Quốc Khánh vẫn giữ một phong cách sáng tác riêng “…càng thêm trẻ… khi trời đất vào Xuân”, lại thêm sự chững chạc của một nhà giáo nghỉ hưu, sự đắm đuối vì thơ của một thi sĩ đa tình.
       Tựa đề “Đắm đuối nửa tờ thơ” đã khơi gợi sức xuân căng đầy khao khát yêu thương của Đặng thi sĩ, sự say mê cuốn hút tưởng chừng quên cả lẽ đời.        
       Thơ Đặng Quốc Khánh có thi pháp không gian nghệ thuât, thời gian nghệ thuật độc đáo. Hành trình “Đắm đuối nửa tờ thơ “ của anh đi qua nhiều không gian, thời gian khác nhau, không gian thời gian nào cũng đầy những hoài niệm.

       Có thể nói, “nửa tờ thơ” chính là sự cộng hưởng rộn ràng từng bước chân anh trên những nẻo đường đất nước, những không gian xanh mở ra thật ý vị, chan chứa dâng trào cảm xúc sâu đậm. Stendhal - nhà văn Pháp từng nói: “Cái đẹp là sự mời gọi hạnh phúc”.Với Đặng Quốc Khánh, hạnh phúc đầu tiên rất khẽ khàng mà bừng hương sắc không thôi khi anh đặt chân lên miền đất cực Nam của Tổ quốc:
           “Chạm tay vào Mũi Cà Mau
            Nghe thơm mùi đất địa đầu cực Nam
       … Chạm tay cột mốc bạc đầu…
            Lòng nao nao máu rộn câu ân tình…
                                                             Đắm đuối nửa tờ thơ * 93

        … Chạm tay sang sảng giọng cười
            Con người hào phóng trùng khơi trở mình”
                             (Chạm tay Đất Mũi).
       Có lúc, bản thân anh - nhân vật trữ tình, không giấu được những khoảnh khắc rung động tự đáy lòng mình khimiền đất lạ anh đến cũng đã hóa tâm hồn không biên giới, khi sự cận kề  nam nữ sóng đôi trong từng điệu múa  làm  thăng hoa cảm giác và cảm xúc , mở ra cái đẹp duyên dáng, uyển chuyển hình thể: “Môi kề môi/ Vai sát vai/ Điệu lăm-vông/ chảy mướt dài sóng chân/ Đôi tim Lào - Việt lâng lâng/ Thanh cao cũng lắm/ Phong trần cũng ghê/ Dấu son in nửa câu thề/ Để ta thờ thẫn nẻo về bâng khuâng…” (Cái đêm Paksé tang tình).
       Có lúc, người đọc bắt gặp một hiện hữu  không gian tưởng chừng tĩnh mịch:
           “Con nắng rớt lìa chiều không lụi tắt
            Đêm không trăng vẫn sáng một bên trời”
                              (Chút lòng ngóng đợi)
nhưng ẩn chứa đằng sau lại là những đau buồn không nói nên lời.
        Có lúc, những miền đất phương Nam anh đi qua cứ hòa quyện thắm thiết tình người tình đất mênh mang dạt dào sóng nước sông Tiền sông Hậu tuôn ra cửa bể  vô vàn nỗi nhớ  qua những bài thơ đặc sắc: Gửi phương Nam, Sóc Trăng thương nhớ, Chút lòng ngóng đợi, Giọt lệ muộn màng, Vọng cổ Vĩnh Long lộng gió sông Tiền…
        Có lúc, bước chân nhà thơ lãng tử còn vượt qua những chặng đường quanh co uốn khúc, lên đến độ cao trên ngàn mét đầy vơi trăn trở: “Trời cao / Ta tận cùng đau / Đất sâu / Ta tận cùng sâu nỗi buồn”(Lục bát ở Măng-Đen) để rồi trong cô đơn anh tự giãi bày, tự an ủi chấp nhận: “Thì thôi / Cuối đất cùng trời / Ta - Em / Vui hái lộc đời ân ban” ( Lục bát ở Măng-Đen), hay vỗ về: “Thôi em / Đừng nói gì thêm / Chỉ Anh - Đà Lạt và em / Thiên đường!”(Ngẫu hứng Đà Lạt).
       Cũng có lúc , anh như đến thiên đường thực tại say hết mình với những cuốn hút mạnh mẽ :
           “Cùng em nhảy sạp, múa xoan
             Điệu khèn, tiếng Pí xoay tròn vòng yêu
             Với tiên nữ mấy cũng liều
             Không mưa gió cũng liêu xiêu dáng hình
             Gặp em một thuở Chợ Tình
             Đường về cứ mãi gập ghình lòng anh”
                                      (Điệu tình SaPa)
        “Đường về” trong “Điệu tình SaPa”được xem như là cuộc chia tay màu hồng đầy kỉ niệm giữa kẻ miền xuôi - người miền ngược. Đi - đến - ở - về … còn hòa chung cảm xúc nhớ nhung trong cách ngắt nhịp ở một bài lục bát chân chất mà rất trữ tình:
           “Rượu Bàu Đá, cá sông Côn
            Người ơi
            Người thích ở luôn đừng về!
      
        …Thì thôi hát trọn cung đàn
            Rồi mai
            Rồi mốt
            Hợp tan cũng đành

            Chút duyên nước biếc non xanh
            Cũng là giai ngẫu thiên thành
            Người ơi!”
                                 (Chòng chành chiếu rượu)
        
        Đâu chỉ có đặc sản vùng miền mới giữ chân nhà thơ, đâu chỉ có cái đẹp nghệ thuật ngôn từ  mới làm cho người đọc thưởng thức sắc màu không gian.Chính cái tình quê đậm đà bao năm mưa nắng vượt qua khỏi lửa chiến tranh, ăm ắp lời nhắn nhủ: “Em có bồi hồi khi ghé lại / Thăm căn nhà cũ, ngã tư hoa / Sợi thương sợi nhớ ai giăng níu / Quá nửa đời anh vẫn thiết tha”(Chiều giáp Tết em có về Tuy Phước). và những hoài niệm một vùng đất “Dáng xưa / Một thuở Đồ Bàn / Ngàn năm soi bóng Côn giang chẳng mờ”, … “Ân tình / Đất mẹ An Nhơn / Ngọt hơn sữa lúa / Ấm hơn lửa nồng”(Về lại Đất Thành) cứ ấp ủ, nuôi dưỡng trong tiềm thức anh khác nào hạt mầm vươn lên mặt đất bung lá biếc . Nếu ai bảo  chỉ có tự nhiên độc quyền sản xuất ra cái đẹp thì chưa hẳn. Khi nhà thơ dấn thân vào cuộc sống của nhân dân, chính hiện thực được phản ánh đã minh chứng anh là một thi sĩ có tầm, một nhà giáo có tâm vói những câu thơ nóng bỏng lòng yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, giàu tính chiến đấu. “Bồng bềnh quán gió lộng trời khói sương” của một Phú Yên thuở nào được khơi gợi lại với hình ảnh: “…Bến tàu không số/ Cung đường Vũng Rô/ Sóng to gió dữ không lùi/ Biết bao liệt sĩ… ngậm ngùi vô danh!”(Uống rượu với bạn trên đầm Ô Loan).
Hay:
       “Cuộc chiến đấu ở khu Đông năm xưa vô cùng ác liệt
         Nào ai biết trước phút hy sinh
     … Biết mấy đồng bào ta máu đổ
         Biết bao đồng đội ngã xuống trên mảnh đất này?
         Khi nhổ bốt, phá đồn, khi diệt ác, nối đường dây
          Khi địch nống, địch càn, khi ta tiến
          Trước mặt là kẻ thù
                                     sau lưng là biển
         Che chở an toàn là những tấm lòng dân”
                                          (Trở lại Khu Đông)
       Trong lời cuối sách « Nhật kí nữ nhà báo chiến trường», nhà thơ Lệ Thu cho rằng :“Chiến tranh chẳng có gì vui, nhưng Tổ quốc thoát khỏi nạn xâm lăng,… đất nước được hòa bình thống nhất,… là niềm vui bất tận của cả dân tộc và của mỗi cuộc đời,…” Với Đặng Quốc Khánh, cầm bút làm thơ còn là để tri ân bao lớp người đi trước, những anh hùng liệt sĩ cách mạng, trân trọng giữ gìn điểm tô những thành quả ông cha để lại, tìm ra nguồn gốc chân lí, lẽ công bằng, tạo niềm tin cho cuộc sống hôm nay(Viết ở Nghĩa trang Trường Sơn, Dáng đứng An Nhơn, Kỳ diệu Nhơn Châu.)     
        Tiếng nói nhà thơ còn tiếp nối sự đồng cảm với các bậc thi nhân :  
- “Phảng phất hương, thiết tha, lãng mạn
    Tiếng thơ sinh từ đất Gò Bồi”
                         (Nhớ Xuân Diệu)
-“Đời thơ còn xối cơn đau /
    Còn khe nước ngọc dòng châu tuôn trào”
                    (Viếng mộ Hàn Mặc Tử)
 -“Bóng giai nhân có đợi chờ
     Cầm chân hoa để mộng mơ không tàn”
                    (Còn mãi bến My Lăng)
         Đặng Quốc Khánh còn thành công ,sáng tạo trong ý tưởng vịnh Kiều mà vẫn giữ được thi pháp truyền thống(Giọt lệ nàng Vân, Bi kịch nàng Vân).
       Dù “Gió ngày tháng xác xao bờ kỷ niệm / Cuốn hai ta xa cuối đất cùng trời / Miền hạnh ngộ lững lờ trong hư ảo / Em trượt tình đắm đuối nửa tờ thơ” , Đặng Quốc Khánh  vẫn  luôn là chàng trai đất An Nhơn Bình Định bâng khuâng nhớ lại cái vụng về đắm say thuở nào“Em thưởng cho nụ hôn / Líu quíu không hôn được / Môi hồng em phía trước / Anh hôn trượt gáy sau”(Hôn).Và cái tình riêng của anh với người bạn đời chung thủy cứ vẹn nguyên một tâm hồn trước sau như một sự tự trách mình :“Anh là lãng tử đa tình / Ham vui lắm lúc quên tình sắt son” (Thương em mắc nợ người dưng). Có lẽ, anh sẽ không nguôi “đắm đuối” hồn thơ đến hết cuộc đời mình: “Ơi mắt biếc em Thăng Long kiều nữ! / Lòng anh luôn thắm đỏ sắc hoa đào / Em có muốn cùng anh về Bình Định / Lên những Tháp Chàm hát khúc tiêu dao?”(Đắm đuối nửa tờ thơ).
     Trong 60 bài thơ của ‘Đắm đuối nửa tờ thơ”, hai phần ba là thơ lục bát. Thơ lục bát là thế mạnh và sự thành công của anh. Thi hứng luôn khơi gợi sự sáng tạo theo từng nhịp điệu trái tim, từng cung bậc tâm hồn.Thơ Đặng Quốc Khánh bình dị, đậm chất trữ tình, hiện thực, nhân sinh, có khi triết luận… nên sẽ sống mãi với thời gian.
                                                 
                                                  Tuy Phước 7. 5.2015

                                               NGUYỄN THỊ PHỤNG

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

RIÊNG TÔI TÌM MÓT RUỘNG ĐỒNG- Nguyễn Thị Phụng

                                 RIÊNG TÔI TÌM MÓT RUỘNG ĐỒNG
                (Đọc Chiếc lá hồi hương, tập thơ Viễn Trình, NXB. HNV. 2015)

        Ở tuổi hai lăm cho ra đời tập thơ Cánh chim bay về (NXB Đà Nẵng- 2007) và tám năm sau là Chiếc lá hồi hương (NXB Hội Nhà văn- 2015). Ngay từ việc chọn hai tựa đề đã có sự thâm thúy của Viễn Trình, một tín hiệu vui cũng không lạ gì ở cây bút trẻ Bình Định. Đã vậy còn mượt mà hơn bằng những dòng lục bát chân quê, thấm vào lòng người đọc dẫu khó tính nhất luôn là sự đồng thuận. Lung linh tỏa sáng bên cạnh nhiều thể loại tự do, phải chăng Chiếc lá hồi hương mở ra những tứ thơ có “Tiếng vằng vặc rọi quê nhà thần tiên”(Tiếng trăng) đầy yêu thương quá!

       Có thể nói trước đây và bây giờ cũng vậy, thơ và đời luôn đồng hành nhau. Bởi đời đi vào trang thơ bằng cảm xúc thẩm mĩ nuôi dưỡng tâm hồn người. Vì lẽ đó thơ sinh ra sự sống dẫu là thường nhật không văn hoa của một chàng Viễn Trình rụt rè yêu: “Dòng em ý tứ thêu thùa/ Dòng tôi hình vị gió lùa riêng tư/ Bao năm lồng ghép sặc sừ/ Một câu nói chỉ ba từ… không xong”(Ngôn ngữ hai dòng sông) và dỗi hờn cũng rất Bình Định: “Buồn lên nửa cánh bằng rồi/ Sao em chưa chịu nhìn đời hư hao/ Bỏ anh ra, cộng nẫu vào/ Bổ sung lại giấc chiêm bao lạ lùng”(Bổ sung lại giấc chiêm bao). Để rồi cho ta tận hưởng cảm xúc thăng hoa “Những đêm ngồi khóc nai vàng/ Suối ngơ ngác cạn không tàn trăng rơi”(Người từ sơn cước). Mở ra không gian thơ mộng liên kết  thực tại đến ý tưởng đã sẻ chia gần đây: “Gọi sen, sen đã biệt hồ/ Gọi nai, nai bỏ suối bơ vơ rồi”(Gậy xuân, Nguyễn Thanh Mừng), Nhà thơ cũng rất thành công ở tuổi ngoài ba mươi với tập “Ngàn xưa” tích cổ từ những năm 90 thế kỉ trước. Còn ở Viễn Trình hôm nay, đã kế thừa sự sáng tác tiếp nối không đứt quãng với truyền thống cũ, mà gần hơn hết là cuộc “Du hành lục bát”(Tập thơ Khổng Vĩnh Nguyên) sinh ra anh, người con Cát Hải, Phù Cát- miền nắng gió tự nhiên thử thách lâu đời. Thể như con sóng cứ mãi xô bờ, gặp lớp cát mịn lặng im trong cát mịn thanh lọc đời mình, gặp ghềnh đá góc cạnh lại tung bọt trắng xóa miệt mài bào nhẵn cho tròn trịa mới thôi. Biển ngàn năm cũ đấy. Nhưng chưa bao giờ già nua. Lại bền vững trẻ trung theo mùa. Vị mặn nồng hương biển bẩm sinh từ trong máu thịt Viễn Trình đã trở thành năng khiếu một nhà thơ trẻ quê hương của hơn mười thập niên đầu thế kỉ XXI này. Không ngoa.

       Chiếc lá hồi hương cứ lặng lẽ thời gian mở ra thi vị cuộc đời cho một tình yêu chân chính. Nhân vật trữ tình trong thơ Viễn Trình được gọi “em” thể như đại từ xưng hô cùng với “anh/ tôi/ ta” cho thuận lời bộc bạch:
      Lúc thì ngọt ngào chan chứa em- anh: “Bốn mùa chụm lại thành non nước/     Anh hớp thật nhiều chẳng thấy vơi/ Xin em một ngụm tình ao ước/ Đỡ lòng anh khát lúc đơn côi!”(Bốn mùa chụm lại). Còn có sự bền bĩ nào hơn nữa (Gọi tình, Tưởng tượng,…) mãi duy trì:
                  “ Một mình ngọt nắng đắng mưa
                    Buồn như bong bóng em vừa thổi bay
                    Anh chùi chưa hết dấu tay
                    Mười năm gõ cửa xin vay ái tình
”
                                            (Mười năm gõ cửa).
      Lúc thì “em- tôi” thận trọng nhắn nhủ (Quê nhà sẽ thưa, Mùa xuân nghĩ cạnh dòng thơ, Nỗi buồn bỏ quên, Hỏi thăm, Mặc khải, Giữ gìn, Lá đầu sông,…), đã không tự trách mình mà độ lượng: “Ơn em từ đấy vội vàng/ Tôi như mây lạc về ngang lưng trời/ Ơn em từ đấy xa vời/ Nhớ mong sà xuống, tơi bời vụt lên/ Rừng thông thay lá gọi tên/ Người đi một thuở đừng quên quê nghèo!”(Ơn em lá gọi).
       Lúc thì sức chịu đựng bấy lâu nhưng vẫn một mực là “em”, dẫu chút hằn học cố nén phải bật ra: “Em xẻ đời cổ thụ/ Ta nằm chết phôi thai/ Mưa xuân dầm nắng hạ/ Ta đứng không hình hài”(Khổ đau không hình hài). Quả “em” có hạnh phúc không khi được thi sĩ chết cho tình yêu ấy: “ta” dành cho em là thế. Mặc cho ta nằm chết từ trong phôi thai mầm nhú, ta điên khùng tan vỡ, đến nỗi: “Vầng trăng cất bóng tạ từ/ Phong ba khiếp sợ tôi nhừ tử yêu/ Hạ rồi, thu nữa… bao nhiêu?/ Biết ai khổ hạnh sớm chiều đó không!”(Biết ai khổ hạnh). Hạ rồi, thu nữa… bao nhiêu đâu chỉ là vòng thời gian đong đếm, thấp thoáng sự mãnh liệt “Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu” của một Xuân Diệu thời Thơ Thơ(1938), thấp thoáng một Vũ Quần Phương cuối thế kỉ trước “… Em đi lửa cháy trong bao mắt/ Anh đứng thành tro em biết không”. Thi sĩ có si tình đến mấy rồi ngộ ra “Đã qua thời niên thiếu/ Đã lại tháng năm mòn/ Tóc trên đầu chợt hiểu/ Đã quen rồi cô đơn”(Tự mài mình phong ba).
       Viễn Trình biến cô đơn nhập hồn tĩnh lặng, đằm thắm, tung tẩy với một chút ngông nghênh:
         “Ai giúp tôi rơi ra ngoài quả đất
           Buồn tàn theo tầm vút nắng an nhiên
           Nhổ phận mình neo trong tĩnh lặng
           Bất tận mùa xanh trái vô biên
”
                          (Bất tận mùa xanh trái vô biên).
        Chiếc lá hồi hương trở về quê nhà khó neo trong tĩnh lặng, một khi nắng gió dãi dầu cuộc mưu sinh, tâm hồn “thi sĩ” trở về thực tại cho mùa bất tận lên xanh, là cầu nối nhịp đập trái tim chở che tháng ngày lận đận nhớ  nhung: “Giếng quê mạch sạch gạo làng/ Em ngồi vo những vô vàn tình anh/ Dựng lều hai đứa ngồi canh/ Cơm trào sóng bể rát gành mây bay”(Gạo vo thành tiếng cơ cầu), nhọc nhằn thân phận, sẻ chia (Nhắn về, Hương cốm mùa thu, Bát cơm ấm giữ tình người,…). Chờ mong mùa kết trái, nên càng ý tứ phải nhẹ tay, lỡ “Bẻ một nhành mai sặc sỡ/ Anh cắm vào nỗi nhớ/ Cuốn lá thì thầm… xuân rỉ nhựa mênh mông”(Về Tân Thanh):    
        “Về Tân Thanh đi em
          Nghe mẹ hát bài ru em thân thuộc
         ….
          Về Tân Thanh như lúc mẹ từng trông
          Ba tỏ tình bằng khúc ca trên vồng đất ải
          Nụ cười tươi hương hoa cải
          Về Tân Thanh đi em!...
”
                       (Về Tân Thanh)
        Thể như điệp khúc mong kết nối cuộc vuông tròn bằng đôi tay chính mình. Hạnh phúc sẽ chẳng dựa dẫm vào ai, chỉ là anh, chỉ là em trở về với luống cày quê hương sau ngày lũ rút. Nơi ấy quen thuộc với rạ rơm bao mùa gặt hái, nuôi dưỡng chăm chút đời ta bằng hương lúa, ngô, khoai,... Hay Viễn Trình đã nằm lòng Chân quê (Nguyễn Bính) khẩn cầu rời xa bến mê, cái bến nặng nợ vật chất lại đầy sức hấp dẫn thu hút “phận” em thế kia!...  Nhà thơ đã kịp đánh thức, đưa em sớm trở về bằng những dòng lục bát ngọt ngào lay động:
        “Ngày lũ rút ta sẽ về gieo sạ
          Cầm tay anh, em đợi lúa xanh đồng
          Cầm tay mẹ quên nỗi buồn xứ lạ
          Nắng thu vàng tỏa giữa mùa đông
”
                       (Ngày lũ rút ta sẽ về gieo sạ)
        Những thiên tai lũ lụt dẫu cướp đi biết bao thiệt hại con người và tài sản, bù lại ruộng vườn màu mỡ phù sa. Vậy thì “Rễ siêng đâu ngại đất nghèo”(Nguyễn Duy). Phải chăng đây là lúc em về thăm lại quê nhà hợp lí nhất “Em gạt nỗi buồn, anh bừa cạn trôi qua”, nâng niu nơi tuổi thơ em lớn lên đầy kỉ niệm. Viễn Trình đã chọn đúng “thời vụ” xây dựng tứ thơ cho mình. Bởi “Làm thơ, khó nhất là tìm tứ. Tứ thơ bắt đầu đẻ ra sự sống để tác động vào sự sống tinh vi hơn, mà trong nghệ thuật, đẻ ra sự sống là đỉnh cao nhất”(Xuân Diệu). Đâu riêng Ngày lũ rút ta sẽ về gieo sạ, kể cả các bài còn lại trong tập cùng đẻ ra sự sống xúm xít bên nhau.
            Không chút triết lí cao siêu, mà bằng những vần thơ chân chính rất dân tộc, ý tưởng sâu sắc nhẹ nhàng gieo vào lòng người gặt hái cái tình cái nghĩa sống ở đời, là biết xuôi dòng tìm về chiếc nôi văn học thuần túy. Lại tự nguyện lựa chọn phong cách “riêng tôi tìm mót ruộng đồng” khiêm tốn xới cày cho thỏa khát khao, đầy trách nhiệm của người sáng tác. Có một Viễn Trình thêm Chiếc lá hồi hương là sự nhập cuộc tiên phong vào làng thơ trẻ quê mình./.
28.04.2017/  Nguyễn Thị Phụng



Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

VĂN HAY ĐỌC LẠI/ 10 truyện ngắn miền Nam trước 1975. Nguyễn Thị Phụng

VĂN HAY ĐỌC LẠI
                                (10 truyện ngắn miền Nam trước 1975 )

           Không là tình cờ, đây là chủ đích Nhà văn và Tác phẩm(NVvà TP)số 25/ tháng 9+10/2017, tôi thực sự ấm lòng khi được đọc lại 10 tr.ngắn miền Nam trước 1975 như gợi những ngày học phổ thông, chúng tôi giấu trong cặp ngấu nghiến từng trang cho kì hết. Vì sao?- Hay. Vậy văn hay cần phải đọc lại. Lúc này tôi cũng làm một mạch hết buổi sáng cuối thu thể như “ôn cố tri tân”. Bởi đây là… “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta” 45 tác giả, do NXB Sóng- tuyển và in lần đầu năm 1974 ở Saigon. Tại sao lại “của quê hương chúng ta”, một địa danh hàm nghĩa của tình ruột thịt và mênh mang bất biến chứ không phải là một cương vực địa chính trị nhất thời? Đó chính là chỗ đáng trân trọng  của Sóng và những người làm sách. Văn chương đi từ thời cuộc để vươn tới vĩnh cửu, giá trị của nó nằm ở chỗ đã đóng góp gì cho Tự do, Nhân bản khiến “từ đây người biết yêu người” như lời bài hát của Văn Cao, bài Mùa xuân đầu tiên(NV và TP).
        Mùa xuân đầu tiên hay chính là vẻ đẹp con người khi biết dấn thân vào cuộc sống. Sự tồn tại hôm nay khởi sắc đã bắt đầu từ những ngày cha ông gian khổ, hi sinh. Cái khoảnh khắc ấy ngỡ như đang diễn ra trên màn ảnh không một sớm một chiều, mà lâu dài bền bỉ từng bậc thang bước lên tầng cao tận hưởng khí trời và trăng sao vậy. Mở đầu truyện Rừng mắm vẫn là không gian khoáng đãng “Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ,… đứng yên một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà…” Cho đến “ Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng,… đang yên lặng và bền chí rình cá…” Rồi nhà văn khẳng định “Thằng Cộc là một đứa bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay…” Sự liên tưởng “đầu cò chơm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng”. Tình yêu làng luôn trong tiềm thức, nó nhớ làng, thèm người bởi chưa hiểu vì sao tía nó, ông nội nó, má nó và nó một đứa bé mười tuổi cùng kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui và rồi dừng bước nơi cái xó không người này mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô- Heo. Rồi những mâu thuẫn không thể thiếu trong tâm trạng cảm xúc một thanh niên mới lớn lên như thế nào, cũng cùng lúc lời giải đáp được ông nội đưa cha con nó đi xuồng ra gần tận biển giải thích về rừng mắm mọc trên lớp phù sa cho chắc đất. “Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được”. Đọc những trang văn Bình Nguyên Lộc đẹp như phù sa non nuôi cây mỹ cảm. Nhắc nhở con cháu muôn đời tri ân tiền nhân, những thế hệ cha ông “bỏ đi” mấy đời, như cây mắm không làm nổi việc gì khác, ngoài việc giữ phù sa làm nên đất, để giữ đất trước sóng biển và để ngọt hóa đất phèn cho con cháu gieo trồng mà sum suê hoa trái.

        Với mạch truyện Con sáo của em tôi “Tôi hay bắt dế, bắt chuồn chuồn, bắt công cống cho em tôi chơi… Tôi hẹn sẽ bắt tặng em tôi một con sáo khi mùa xuân sang”. Ước mơ đã thành hiện thực, nhưng không đơn giản. Nên “Con sáo là niềm an ủi duy nhất, là niềm kiêu hãnh duy nhất của anh em tôi… với cái lồng do chú Nghị đan, nó đã thành con sáo quý khác cả những con sáo quý nhất trên đời”. Thế mà… “Trời cuối tháng chạp mưa phùn rả rích… Rét thấu xương. Anh em tôi co ro trong ổ rơm, lồng sáo đặt bên cạnh. Mẹ tôi lại sốt từ hôm ông Táo lên chầu trời… Nhà chỉ còn gạo… tối ba mươi mẹ lên cơn sốt nặng…” Lúc này với “tôi” phải làm gì. Khi bố đã mất sớm. Cảnh côi cút của ba mẹ con trong kì thị ruồng bỏ của tộc họ, đói nghèo khổ cực. Để rồi tôi nhận ra rằng “Mùa xuân tàn rất nhanh, tôi có đàn sáo mới,…” Ý nghĩ ấy đã làm cho người anh mạnh dạn với mong muốn “Em tôi phải được ăn thịt sáo nấu su hào ngày mùng một tháng giêng năm mới. Chỉ vì em mà tôi quên tất cả”. Nhưng “Tôi run run chặt dao trúng ngón tay. Máu tôi hòa cùng máu con sáo”. Thật là xúc động: Cảm ơn nhà văn Duyên Anh(1935-1997) đã nhắc nhở chúng ta về một tuổi thơ khốn khó do xứ sở nghèo nàn, do thực dân và chiến tranh đẩy con người đến tỵ hiềm, sợ hãi- việc giết chết con sáo để cứu em như thế là tự giết chết tuổi thơ của con người.
        Còn Nguyễn Thị Vinh, sinh năm 1924, đã chỉ ra cái nghiệt ngã miếng sống trong kiếp nghèo về thân phận người mẹ buột lòng phải nhờ con gái đã có chồng. Bà Mùi thực sự đau lòng khi phải chứng kiến thái độ và cách hành xử của con rể. Mặc dù người mẹ khuyên can, nhưng Bích, chậm nước mắt: “Gì thì chứ, con có một mẹ mà anh ấy xử như vậy, đâu con có chịu. Mẹ còn nhớ hôm tuần trước cái vụ con chó con đấy không? Mỗi ngày mỗi gây, mình có muốn nhịn cũng không được mà…” Cho đến lúc trực tiếp thẳng thắn:“Giờ có phải anh “ghen” ăn với mẹ tôi không, thì anh nói trắng ra đi!” Một nỗi đau chốt lại như nhắc nhở khi kết truyện: “Người thương người phải xa nhau cũng khổ. Mà người ghét người, phải ở với nhau lại càng khổ hơn” (Bữa cơm trưa). Nếu trước đây Nam Cao đặt miếng ăn đối trọng với làm người, thì Bữa cơm trưa của Nguyễn Thị Vinh đặt miếng ăn đối trọng với hạnh phúc và hiếu để. 

     
      Chùm truyện ngắn Ngoại ô, Dĩ An và linh hồn tôi(Cung Tích Biền, sinh năm 1937) và Tình thương trong ngoặc kép (Mặc Đỗ, 1917- 2015), đã cảnh báo về đồng tiền ngoại lai xâm thực linh hồn và nhân tính một cách sớm sủa. Vì một thực tế ngậm ngùi “Em này, chị muốn trong đời đến sự đau khổ cũng phải có tên gọi. Người ta đã tìm ra chị nơi cái xóm Dĩ An hèn mọn. Người ta thay nhau ngủ với chị, xem chị như mảnh đất có hoa màu và cần phải đặt tên cho nó”. Còn chính người em trăn trở: “Nhiều khi tôi nghĩ sau lưng chị còn mồ mả cha ông và bầy em không cơm áo. Chị như mảnh đất nghèo nàn nằm trên quê hương này để nuôi dưỡng những người mới lớn. Em tôi sẽ nghĩ như thế nào nếu mai sau nó biết được nó sống nhờ vào những tờ giấy trăm sột soạt trao nhau trong phòng tối. Chúng nó có thương những người chị tàn phai nhan sắc vì cơn gió thổi đến quá phủ phàng hôm nay” thấp thoáng: “Ngọn đèn pha trên núi Sơn Trà vàng vọt cô đơn. Đêm tối đã bắt đầu trong vùng biển…. ngoại ô một khung trời buồn” mà Cung Tích Biền đâu muốn đặt cái kết truyện như một điều khẳng định! Còn nhà văn Mặc Đỗ, người sinh sau hai mươi năm tiếp nối sức mạnh “đồng tiền” thắng thế từ một cốt truyện chỉ lấy lời khai của các nhân vật để đi đến kết quả: “Xét hồ sơ này nhiều phần chắc là ông biện lí sẽ truyền xếp, điều tra bổ túc sẽ đụng phải những vách núi thế lực. Nếu ông biện lí là một người làm văn học nghệ thuật, với hồ sơ này ông ấy có thể soạn được một vở kịch, dựng lên một tuồng hát, hay quay thành một cuốn phim, cùng lắm cũng viết được một truyện ngắn, truyện của xã hội bấy giờ”. Hai truyện của hai ông đủ để nhắc nhớ một chuyện không mới trong sứ mệnh cầm bút: Nhà văn phải biết bênh vực Con Người trước cường quyền và cái ác.




       Cùng một nhân cách cứng cỏi với hai ông, nhà văn Thế Uyên(1935- 2013) với Căn nhà của mẹ “… Tôi chưa chịu thua, xin đủ giấy tờ chứng tỏ là nhà có ba lính, thì lính anh, lính em và lính tôi đều không có nhà, dù là nhà mình mua hay cấp phát… mỏi gối quỳ mòn các sân tướng phủ…” Một sự thật trăn trở “…Tôi liền hỏi khoảng đất ngày trước mẹ được cấp phát hiện giờ ra sao… và được mẹ cho biết một vị tỉnh trưởng sau đã nhân danh một công bằng xã hội nào đó đã thu lại” chỉ ra tính xôi thịt bất chấp đạo lí của những “cấp trên” đã đẩy người mẹ già tóc đã bạc phơ có ba con là lính ra khỏi ngôi nhà của mẹ, chiếm đất để những cấp trên chia chát nhau.

      Và nếu như Thế Uyên miêu tả cái kết trong Căn nhà của mẹ “… buổi sáng mùng một Tết nhìn mẹ tôi đứng dưới tam quan chùa Linh Phong lộng gió từ các thung lũng lên, tôi chợt nhận ra mái tóc mẹ tôi đã gần như bạc trắng hết dưới ánh nắng dầu xuân, bạc đã gần như sương” đầy nỗi niềm, giữa một không gian nhà chùa bình yên mà lắm xáo trộn thể chất và tâm hồn con người khi đọc hết truyện ngắn Lòng trần của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Phải chăng chân tu không là thỉnh cầu van xin. Giá trị đích thực cuộc sống tồn tại ở tâm người. “…Cô lần tính lại đã quá hai mươi năm, nỗi đau khổ và bất hạnh đã bắt đầu mờ nhạt. Những việc nhà chùa làm cô bận rộn suốt năm bôi xóa dần những nỗi buồn thảm, tưởng chừng vẫn rỉ rả hành tội cô trong khoảng đời còn lại…” Đến lúc cùng kiệt bà ngộ ra rằng “nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử thì có lẽ những chấn động phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa này” Với bút pháp tinh tế, nhà văn đã chỉ ra sức mạnh của tình yêu và sự sống, dù hoàn cảnh mà nhân vật lâm vào thật éo le, tưởng như nàng chỉ còn là ngọn lửa giận thân lánh đời cháy leo lét trước lực tàn sức kiệt. Vậy mà khi lâm chung, ngọn đèn ấy bùng cháy, soi sáng cả cõi lòng thăm thẳm sâu. Hoàn toàn đối lập tính cách hai nhân vật nữ: “Đứa cháu dâu...chuyên sống với nghề cờ gian bạc lận… cô em họ cùng đi theo… có biệt tài hễ cập sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tan gia bại sản một cách nhanh chóng… thường lui tới của chùa sám hối và… đem lễ lộc hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan khiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa… nhưng khi bước ra chánh điện thì họ lại quên tuốt”.  


      Cùng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, chất lãng mạn và siêu thực đã làm nên tên tuổi Nguyễn Thị Hoàng, sinh năm 1939, từng có nhiều ý kiến về Vòng tay học trò, Đen hơn bóng tối,… giờ đọc Tan theo sương mù với bút pháp tài tình ấy làm nên những trang văn bí ẩn  rất Á Đông. Bởi nhà văn cách tân thể loại- ít nhất là Việt hóa những trào lưu hiện đại, đưa văn Việt hội nhập với thế giới. Bên cạnh còn có Trần Thị Ngh. , sinh năm 1924, với “Nhà có cửa khóa trái” đã tạo nên một thứ hiện sinh đô thị mà nếu không ghi rõ năm viết, bạn đọc sẽ ngờ ngợ là viết về đời sống đô thị bấy giờ.


       Riêng Cũng đành của Dương Nghiễm Mậu(1936-2016) lí giải về sự sống và cái chết. Sự vật vã chống lại cơn sốt, cơn đói cuối cùng con người cũng chiến thắng. Phải đào đất lấy  từng con giun “cầm từng vốc bỏ vào miệng… nhưng những cơn sốt cách nhật vẫn hành hạ”, rồi “vớ những nắm lá chuối ướt nhép bỏ vào mồm nhai cho đỡ buồn miệng”. Nhờ tình đồng bào đùm bọc trên từng chặng đường cứu sống anh, nhưng oái ăm hơn cho hoàn cảnh người thân sợ liên lụy xa lánh cũng là cái cớ đẩy anh vào chỗ chết “Tôi biết là sắp được tự chôn mình. Tôi nghe tiếng lên đạn lách cách, xong chúng bắt quay mặt vào hố. Tôi nhớ đến câu hỏi và tự nhắc.- Cha mẹ mầy tên gì?”. Cho một cái kết thương tâm, mà vẫn giữ được nhân cách tôi. Rõ ràng, nhà văn đã cho thấy mảnh phế liệu của chiến tranh(chống xâm lược Pháp) đã đẩy con người vào khúc tăm tối, tủi nhục nhất; một truyện không có tiếng bom hay máu chảy, mà sức tố cáo chiến tranh vang vọng suốt dưới gầm trời vào đến tận cùng mĩ cảm.
       Văn là người, hồn cốt tinh túy dân tộc. Mười truyện ngắn Miền Nam chính là một phần đời sống tinh thần của đất nước trước năm 1975, được xem “Đây là một trong những đóng góp một đời còn lại dành tặng quê hương”(Lời giới thiệu, NXB. Sóng). Và tôi nghĩ rằng những tác phẩm ấy cần được tái bản kịp thời để bạn đọc tiếp nhận, hưởng thụ hòa chung ánh sáng văn chương “Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam”./.
29.11.2017/ Nguyễn Thị Phụng.

       

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

GÓC NHÌN VỀ THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM - Nguyễn Thị Phụng

GÓC NHÌN VỀ THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM 

           Tôi yêu lời ru của bà, của mẹ: “Con khôn cha mẹ nào răn / Ngẫm trông trái bưởi ai lăn nó tròn”. Lớn lên một chút, đến trường tôi thuộc những bài ca dao mà thầy cô giáo đã dạy. Tất cả với tôi đều gần gũi thân thương lắm. Bởi đó là văn chương bình dân. Văn chương bình dân là di sản quý cho ta gìn giữ và trân trọng, còn là cơ sở ban đầu khơi nguồn cảm hứng cho cá nhân bộc bạch những vui buồn trong cuộc sống của mình. Cách viết theo ca dao thường gọi là thể thơ lục bát truyền thống.
         Trên đà phát triển của xã hội, thì văn học Việt Nam nói chung và thể thơ lục bát nói riêng vẫn giữ được hồn cốt của mình. Chính vì thế mà Hội thơ Lục bát Việt Nam đã tổ chức giới thiệu tác phẩm đầu tiên: Thơ Lục bát Việt Nam tập 1, của nhà xuất bản Văn học, quý IV- 2011 tại thành phố Đà Nẵng. Có lẽ đây là lần đầu tiên những người Bình Định chúng tôi náo nức có mặt tại địa điểm Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh 155 Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Trong bộ áo dài truyền thống, nhà thơ Lê Anh Dũng, MC chương trình  bào chữa khi chiếc áo dài gấm vàng chưa được là phẳng phiu, anh giải thích với lí do “ Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau” ( Trịnh Công Sơn). Sách vừa in xong là khu vực miền Trung và Tây nguyên làm nhiệm vụ đầu tiên ra mắt bạn đọc. Điều đó cũng đúng thôi. Bởi dọc theo bờ biển Việt Nam, khu vực miền Trung là nơi nắng đổ mưa tuôn theo mùa, vị trí địa hình dốc  hẹp, người dân quê tôi tháng năm cần mẫn chịu đựng gió sương, chân lấm tay bùn và từ trong lao động thơ ca cất lên không một lời than thở: “ Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”. Rồi niềm tự hào: “Ai về Bình Định mà nghe/ Nói thơ chàng Lía, hát vè Quảng Nam”. Đó là ca dao từ trong di sản, đến những câu ca dao truyền miệng rất mực hài hước mà người dẫn chương trình đã khắc sâu: “ Tiếng đồn ở đất Quảng Đà/ Mất mùa thuốc lá chết ba vạn người/ Quảng Ngãi nghe vậy mắc cười/ Trượt khói thuốc là chết mười Quảng Nam” Cách vận dụng thơ lục bát vào trong đời sống thường ngày cũng là nét đẹp trong văn hóa sinh hoạt giải trí thư giãn mua vui. Và theo trình tự thời gian ta có Truyện Kiều của Nguyễn Du, bậc thầy thơ lục bát Việt Nam. Tiếp nối thứ tự A, B, C,… là Nguyễn Bính, Huy Cận, Đoàn Văn Cừ, Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh, Tản Đà, Bích Khê, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Bàng Bá Lân, Tố Hữu, Nguyễn Thượng Hiền, Hằng Phương, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Trãi, Trần Huyền Trân, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương,… Đến lục bát trăm miền, rất nhiều có thể kể ở miền Bắc một Đồng Đức Bốn với tứ thơ ấn tượng:
                        “ Đang trưa ăn mày vào chùa
                        Sư ra cho một lá bùa rồi đi
                        Lá bùa chẳng biết làm gì
                        Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày
”
                                              ( Vào Chùa, tr.63)
         Ở miền Nam, một Thu Nguyệt tự tình:
                      “ Em ngồi hóa đá thành thơ
                      Trả anh ngày tháng anh chờ lúc yêu
                      Em ngồi hóa đá thành chiều
                      Trả anh cái nụ hôn liều ngày xưa
                      Em ngồi hóa đá thành mưa
                      Trả anh cái phút anh đưa qua cầu
                      Xa nào anh có hay đâu
                      Đá từ lúc ấy bắt đầu hóa em
!”
                                            (Gửi Anh, tr.103)
        Ở miền Trung, một Trương Nam Hương đắm say:
                     “ Lên cầu Thê Húc đi em
                     Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa
                     Rễ si rét đến run mùa
                     Môi em đào nụ giao thừa- Mùa xuân
                     Đất trời đang phút trao thân
                     Đến như hoa cỏ cũng cần lứa đôi
                     Giữa muôn rúc rích tiếng chồi
                     Lặng em len dạ nói lời đắm say
                     Chung em chút rét đêm nay
                     Xin hôn dài rộng những ngày cách xa
                     Mau nào Thê Húc mình qua
                     Đêm nay có gốc si già chứng nhân
!”
                                           (Đêm Giao Thừa, tr.87)
          Nhưng phải kể đến lục bát của Thanh Nguyên khi “ Lỗi hẹn cùng ca dao” cũng mai cũng đào mà tứ thơ nghẹn ngào se sắt: “ Em ngồi giặt áo giữa trưa/ Đâu rồi môi hát vu vơ một mình/ Em ngồi giặt áo lặng thinh/ Vò cho sạch những vết tình còn vương/ Giũ cho vơi bớt giọt buồn/ Phơi cho khô hết nhớ thương xa vời” Mà sao những trăn trở không vơi: “Em ngồi giặt áo giữa trưa/ Rát bàn tay vẫn vò chưa sạch lòng”( tr.101) Bởi “ Có một ngày như thế” chất chồng buốt giá đơn côi: “ Em qua gió tạt nguồn chiều/ Câu thơ trầy trật lời yêu chưa tròn/ Bóng thời gian điệu hư mòn/ Giấu trong lòng giấy lời son sắt này/ Nỗi niềm gỡ mãi trên tay…”(tr.221). Nhưng cái tình này muốn cùng sẻ chia món quà “ Tặng Thơ” (tr.215) của chị Vạn Lộc:
                     “ Bài thơ “ để tặng riêng em”
                       Mà sao anh lại tặng thêm một người
                      Bạn bè bữa ấy đông vui
                      Kháo nhau “mình cũng có người tặng thơ”
                      Chao ôi – em thật chẳng ngờ
                      “ Cũng tặng nhỏ bạn bài thơ tặng mình”
                      Tủi buồn em cứ lặng thinh
                      Rứa mà “để tặng riêng mình em thôi
”
        Thế mới biết trên mọi miền đất nước, các nhà thơ chúng ta luôn có những xúc cảm riêng tư nào ai giống ai. Họ mượn dòng thơ lục bát gởi gắm tâm sự nỗi niềm theo những mùa trăng tròn trăng khuyết, theo những mùa nắng gió mưa chan. Còn tình làng nghĩa xóm ăm ắp: “ Chợ làng giòn rụm rau tươi/ Thừa câu nhân ngãi/ thiếu lời đẩy đưa” nên nhung nhớ nào vơi: “ Người đi từ buổi gió sương/ Hồn quê rười rượi nhớ thương chợ làng”(Chợ làng, Phan Thanh Minh, tr.227)…
         Và còn rất nhiều tác giả thể hiện với nhiều đề tài khác nhau đều mang tính nhân văn cao đẹp về tình yêu quê hương đất nước, tình người sâu nặng. Những niềm vui nỗi buồn luôn hiện hữu trong cuộc sống đời thường, những khía cạnh tâm lí hay trạng thái xúc cảm về không gian, thời gian khơi gợi tứ thơ bay bỗng trào dâng làm giàu trái tim nhân hậu của những tâm hồn nhạy cảm khát khao.
         Bao nhiêu bài thơ Lục bát Việt Nam trong tập 1 là bấy nhiêu tình được chắc lọc từng câu chữ, sự liên kết vần nhuần nhuyễn chính là đặc trưng thể loại này. Còn thanh bằng cao (không dấu), thanh bằng thấp(dấu huyền) ở cuối mỗi câu lục, câu bát luôn nhịp nhàng cân xứng. Chẳng hạn:
          Dù cho/ bãi mật/ phù sa (sa thuộc nhóm thanh cao không dấu)
    Mà không/ bên lở/ chẳng là/ dòng sông (là thuộc nhóm thanh thấp dấu huyền)
                                             
( Nhà không có bố, của Nguyễn Thị Mai, tr.97).
         Hay là cái tứ trong hai câu kết bài thơ “Tự Xông Đất” (tr. 104 của Lâm Huy Nhuận):
        …Giật mình hai mắt trũng sâu
           Người trong gương ấy còn đau hơn mình
        
Như vậy thanh bằng cao thấp luôn hiện diện trong câu bát, còn vần âu ở câu lục vần au câu bát như chùng xuống lắng đọng khép lại nỗi lòng cô độc giữa không gian vắng sẻ chỉ có ta và ta những xót xa vô tận đau đáu nỗi niềm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
         Các cặp câu lục bát trên đâu chỉ là lời khẳng định cuộc sống mỗi người luôn có những hoàn cảnh riêng, mà còn là nỗi niềm tác giả muốn gởi gắm được cùng sẻ chia những mất mát đau thương là lẽ thường, hãy biết trân trọng hạnh phúc ta đang có, tự mình tìm nguồn vui giữa đời này.
         Hồn cốt thơ lục bát truyền thống Việt Nam là không gian và thời gian nghệ thuật được chắc lọc đưa vào làm nền cho câu thơ bay bỗng mà ở ca dao chưa thể đạt đến.

                                                                     05.01.2012 / Nguyễn Thị Phụng

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

CHÚT LỬA ẤM TÌNH NGƯỜI (Đọc Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu

CHÚT LỬA ẤM TÌNH NGƯỜI
(Đọc Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu, NXB QĐND- 2015)
(Sau một trận bom vùi ở Phù Cát 1974 - 
"trang điểm" bằng bùn đất thay cho son phấn!)Fb Lệ Thu

         Thật khó nén lòng đã kịp nhận ra vẻ đẹp “Suốt thời thơ ấu không được gần mẹ đến khi làm mẹ không được gần con” (15.1.1974) và nỗi niềm ấy đâu thể cất giữ riêng mình sau bốn mươi năm đó là tập Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu (NXB QĐND- 2015) được đến với bạn đọc.
        Thể như hồn đất nước gọi về hãy trả lại vẹn nguyên những cảm xúc chân tình nhất của những người từng trộn lẫn mồ hôi và máu lửa trên trận tuyến đầy cam go ác liệt, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ từ sự trở về sau ba mươi lăm năm lưu lạc của một Nhật ký Đặng Thùy Trâm, cô gái Hà Nội, đã có mặt tại chiến trường Quảng Ngãi những năm sáu mươi của thế kỉ XX, và giờ đây tập Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu ra đời phải chăng họ là những người có cái tâm trong sáng, thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đến lúc phải trả lại sự thật cho con cháu người Việt Nam hiểu rõ thực chất cũng như củng cố lại niềm tin vào sức mạnh ý chí, nghị lực phi thường trong cuộc đấu tranh giành chính nghĩa, giữ vững độc lập tự do cho hôm nay và mai sau bằng ngòi bút của mình. Một mảnh đất tốt hơn khi những hạt chân lí gieo vào đúng thời điểm cả dân tộc chào mừng bốn mươi năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ắt sẽ mọc mầm xanh tươi nhanh chóng, tỏa bóng mát diệu kì của từng trang Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường của Lệ Thu, thoắt như bộ phim tài liệu mà diễn viên chính là người mẹ tuổi ngoài ba mươi, nhận nhiệm vụ “nhà báo chiến trường” ở Khu 5 trong niềm vui vì sắp được về gặp má, nhưng xót xa tội nghiệp đứa con lên sáu của mình “Hai cha con dắt nhau ra tiễn. Chắc là con vẫn tưởng má đi công tác mấy hôm rồi về như mọi khi, hớn hở vẫy chào, toét miệng cười rất hồn nhiên. Mình lên xe, nước mắt cứ tuôn ra không dừng được”(11.8.1973)

        Tạm biệt một cuộc sống gia đình ở Hà Nội, rồi chị vượt qua bao chặng đường điệp trùng hố bom và đổ nát, qua bao địa danh Đèo Ngang, Đường 9 lên Khe Sanh, Ngã ba biên giới Việt Lào, đến bờ sông Bung, lại được “mắc võng” trên cây rừng Trường Sơn, đến miền Tây Quảng Nam,… chị gặp được bạn bè, chị học  thêm cách sống, điển hình của một Chính ủy Trung đoàn Huỳnh Phương Bá tiết kiệm từ việc vớt những hạt cơm thừa của một anh lính đổ xuống suối, chở che bảo bệ và cùng mọi người trong đơn vị nuôi dưỡng hai đứa bé bơ vơ sau trận chiến mù trời… Lệ Thu đã bắt đầu có những bài viết về họ để gởi Đài Phát thanh Giải phóng và cả Đài Tiếng nói Việt Nam. Có thể trong đời của một phóng viên nhà báo “… sau chín tháng trời lăn lộn nơi các chiến trường trọng điểm, những khu chiến ác liệt của Bình Định quê hương” lúc Về lại cơ quan chị mới nhận ra một điều tồi tệ:“…Bởi họ đã phản ảnh sai tất cả sự thật. TL có mấy khi xuống đồng bằng gặp dân đâu, chỉ nằm trên căn cứ đợi mình gởi bài về thì cắt xén lấy những chi tiết có giá trị xào xáo lại thành bài mới, rồi đứng tên gởi về ngoài kia, giờ ra ngoài ấy vỗ ngực ta tài giỏi, ta anh hùng!... Chán thật chưa chi đã giở cái trò Lý Thông!”. Sự thật là:“Đi chiến trường suốt chín tháng trời với những căng thẳng gian truân và vô vàn lần cận kề cái chết, đã gởi về bao nhiêu là bài vở để chuyển về Đài, giờ trở về nhận được những bức thư thật là chua xót. Ôi cuộc đời, biết nói sao đây nhỉ? Tôi không phải là người hay thanh minh- nhưng không biết họ nói gì với anh T. để anh ấy trách hận ta đến thế? Ta hoàn toàn trong trắng, trong trắng hơn cả một thiên thần, cả trong ý nghĩ và hành động. Chỉ tận tụy hy sinh cho sự nghiệp, cho mọi người và nghĩ về những điều cao cả tốt đẹp… Thiên hạ đùa giỡn vào hạnh phúc của mình và muốn đạp lên lưng mình để đi lên danh vọng… Nhưng mà sao ta lại khóc? Khóc để làm gì? Nước mắt có làm nguôi nỗi buồn oan ức của ta chăng? Viết thư để thanh minh ư? Không khi nào! Cả cuộc đời ta, thà chịu oan, chịu thiệt, chứ chẳng bao giờ làm việc đó”(11.9.1974). Cho chị nhận ra cái trò Lý Thông đã làm bế tắc nhận thức tâm hồn con người, khi họ chưa có ánh sáng của tri thức của tư tưởng lí luận đúng đắn nên kéo theo những hệ lụy đáng tiếc cho cả chuyên môn và nhân cách của một nhà báo như chị.  
        
         Còn thực tại trước mắt lịch sử đã chọn chị làm điểm tựa, chị xác định những gian khổ thiếu thốn từ những ngày ở Trường Sơn mưa dai dẳng và dữ dội, tất cả thống nhất ăn ngô, dành chén cơm chung ít ỏi cho Dũng đang bị sốt, cho đến khi trở về Khu 5, về đồng bằng chị đón nhận từ một “Chú bé liên lạc là người dân tộc Hrê, gầy và đen. Nó thấp đến nỗi mang khẩu AK mà mũi súng gần chấm đất… Nó rất ngoan và đầy trách nhiệm luôn bám sát mình không rời nửa bước,… căn dặn: chị nhớ lội đúng theo đường em vừa lội nè, chỗ khác sâu lắm đấy!”(29.12.1973), hay những cô du kích hớn hở đón tiếp: “- A, chị Thu, chị Thu. Chúng em chờ chị mãi từ tối đến giờ. Bao nhiêu đoàn đi qua, đoàn nào chúng em cũng gọi tên chị mà không có… Đứa cầm nón, đứa mang ba lô, đứa xách nước, chị em tíu tít mừng rỡ.”
        Điều làm cho chị quý hơn là câu chuyện “Một lần Năm cùng Thọ đi đưa thư, giữa đường bị địch phục kích, bắn chết Thọ, gói thư Thọ mang trong mình. Năm nghĩ: bây giò mình chạy thì chắc chắn thoát được, nhưng còn gói thư không thể lọt vào tay giặc. Phải lấy mang về cho bằng được. Nhanh như cắt, cô lao lên ôm gói thư chạy vụt trong tiếng súng bắn theo như mưa của địch. Nam thoát và mang được chuyến thư về trạm”(23.3.1974).
         Đến những người như “Lần đầu tiên gặp má Đốc, tôi có cảm giác như má đang bị đãng trí… thảng thốt, ngơ ngác,… nhìn tôi, hai hàng nước mắt rơi trên gò má,…thì thầm: Nó là thằng con cuối cùng trong năm đứa con của má. Hy sinh hôm kia, trong trận chiến đấu đánh quân lấn chiếm đồi Gò Tháp kia kìa. Hôm nó hy sinh má chỉ lặng im, không khóc, mấy đứa trước cũng đều thế, má không khóc đâu. Má chỉ hỏi lại anh em: “ Con má hy sinh có dũng cảm không?. Mấy đứa bạn nó kể: “ Chúng con chiến đấu suốt mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng hết đạn, chúng nó ào lên. Không muốn sa vào tay giặc, anh ấy đạp bể súng và đập quả lựu đạn cuối cùng, bốn thằng lính và anh cùng chết! Má dừng lại, lấy tay quệt ngang dòng nước mắt, hỏi: - Nó hy sinh như vậy được đấy chớ, phải không con? Bây giờ đến lượt tôi thẩn thờ! Chao ôi, người mẹ Việt Nam! Má lại chỉ vào góc nhà, cười ra nước mắt nói với tôi: - Má đã chuẩn bị sẵn sàng một gánh củ và dừa kia, định gánh lên trạm thương binh cho chúng nó, mà mệt chưa đi được. Với lại đi thì sợ ở nhà không ai nấu cơm cho mấy đứa du kích nó ăn. Tội! Thôi, mai má phải đi một ngày, chúng nó trông má ghê lắm đấy!(16.3.1974).
        Và cảm động hơn chị trực tiếp trò chuyện về “cô gái Hoài Châu bị địch tra tấn trong tù bằng cách cưa chân thành ba khúc trong ba lần… em đã chết lịm vì đau, nhưng khi tỉnh lại, nghe chúng dỗ dành, em vẫn nhất quyết không khai. Cuối cùng chúng thả em ra chỉ còn một cái chân như thế này. Nhưng giờ đây Lịch vẫn là một cô y tá tận tụy phục vụ cho cách mạng. Mỗi lần đi giặt cho thương binh, em phải vừa ôm bọc quần áo đầy máu me, vừa lếch qua các tảng đá để đến suối…”(11.2.1974).
       Trên mỗi trang nhật ký đọng lại rất nhiều dấu ấn về cuộc đời của một  Ủy viên thường vụ Huyện ủy Nguyễn Tấn Tài(12.12.1974), có cả quãng đời cậu Lưu những năm tù Phú Quốc(29.12.1974), hay nỗi lòng từ “Chuyện riêng” của chị Bành Thị Ngọc Anh- Ủy viên Thường vụ Thị ủy Quy Nhơn sao “…chuyện của người ta mà mình cứ nước mắt đầm đìa” (21.4.1974),…
      Nhưng cũng có những lúc trong công tác dân vận lại cứng cỏi “Tôi bỗng nhiên trở thành một “chỉ huy”, nói với mấy em: - Trả lại cho chú ấy đi! – Rồi quay sang nói với người đàn ông kia: - Đêm nay chú suy nghĩ, mai đem nộp cũng được. Cách mạng sẽ không để sót một phiếu nào đâu!”(6.2.1974).
      Còn lúc Gặp những nhà báo Mỹ thì nhẹ nhàng mà sắc sảo khi phải trả lời câu hỏi:
     “- Chị nghĩ thế nào về những người đàn ông Mỹ?
     Tôi cười , đáp:
      - Khỏe mạnh, đẹp trai, tế nhị, phóng khoáng… Phụ nữ ở đâu cũng thích những người đàn ông như thế. Tất nhiên trừ quân xâm lược Mỹ - Những kẻ cẩm súng bắn vào nhân dân tôi!
     - Anh ta vỗ tay cười tán thưởng:
     - Tuyệt vời!... Chị là bà Nguyễn Thị Bình ở đây!”(12.2.74).

       Cây bút nhà báo chiến trường không bỏ sót một sự thật chiến tranh tàn phá: “Chín giờ sáng, tôi đang làm việc với Ban chỉ huy Tiểu đoàn 50 và đồng chí Trân, huyện đội trưởng thì phản lực đến ném bom tới tấp vào khu vực này. Mọi người lập tức xuống hầm tránh pháo. Tôi ngơ ngác chưa kịp xuống hầm thì quả bom thứ tám đã nổ đâu đây, gần lắm! Bụi đất và cây lá đổ rào rào úp lên đầu, lên mặt làm tôi thấy ngạc thở, tức ngực. Nửa cây mít che chỗ tôi ngồi bị tiện ngang, bay đi, cái nón lá của tôi cũng bay theo, tập giấy và cây bút đang cầm trong tay rơi mất lúc nào không biết! Tai nhức buốt, mũi đầy bụi đất, quần áo lấm bê bết. Mấy đứa nhỏ ngồi dưới hầm khóc la inh ỏi, các bà già rên rỉ than thở…”(15.7.1974).
        Những địa danh quen thuộc như Bãi Sác bên Đầm Thị Nại, Đầm Châu Trúc (Đầm Trà Ổ) ở Mỹ Lợi còn có đồi Gò Cớ,  Núi Sẻ ở Mỹ Tài,… đều là chứng nhân lịch sử gắn liền với những trận đánh của quân và dân ta trên từng trang nhật ký của Lệ Thu. Chiến dịch Hè- Thu 1974 (31.5.1974) cho đến Chiến dịch mùa xuân 75, tính từ lúc nhà báo Lệ Thu tham dự Đại hội Chiến sĩ thi đua của Tỉnh đội(2.1.1975) cho đến Đón Tết trên công trường(10.2.1975), kể cả Đêm bị phục kích ở Tân Mỹ(7.3.1975), Trong mắt người còn sống (27.3.1975) và kết thúc hoàn thành nhiệm vụ của một Nhà báo chiến trường ở Khu 5, Bình Định là Bài diễn văn ngày chiến thắng, được “đồng chí Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch UBND Cách mạng Nguyễn Trung Tín đọc một cách hùng hồn và xúc động, giữa tiếng hoan hô vang trời dậy đất của hàng vạn chiến sĩ và đồng bào Quy Nhơn cùng đại biểu các huyện trong cả tỉnh Bình Định tụ họp về đây- sân vận động Quy Nhơn- mừng quê hương được hoàn toàn giải phóng!” (8.4.1975).
         Có niềm vui trọn vẹn hơn là gia đình sum họp Má về từ nhà lao(8.4.1975), và có lẽ hạnh phúc đến với chị mỗi khi ở chiến trường nhớ về ba trong ba bức thư đã viết ở từng thời điểm khác nhau đầy xúc động: “Hôm qua con gặp má và hôm nay con phải viết thư ngay vì con nghĩ ở ngoài đó Ba đang ngóng lòng muốn biết tin tức của con và gia đình. Vả lại, biết đâu trong cuộc sống ở chiến trường này con có còn kịp viết cho Ba một bức thư trước khi ngã xuống hay không… không phải con bi quan đâu, nhưng đó là một thực tế không thể không nhìn thẳng… Đời sống ở chiến trường gian khổ và ác liệt chỉ càng làm cho con rắn rỏi và sống đẹp hơn thôi”(12.5.1974). Duy tấm lòng người mẹ yêu thương con sẻ chia vơi đầy trên từng trang nhật ký, chắc lọc nhất bằng những câu thơ: “Mai khôn lớn con nghĩ gì về mẹ/ Con nghĩ gì về một chặng đường qua/ Con nghĩ gì về đất nước chúng ta/ Nỗi đau lớn xuyên rất nhiều thế hệ?/ Không muốn lớn lên con phải làm nô lệ/ Nên bây giờ mẹ phải ra đi” là động lực cho chị càng vững tin dấn thân vào chiến trường và chị, nữ nhà báo Lệ Thu đã chiến thắng!...

         Ngày trở về “… chỉ có một chiếc ba lô nhỏ” đủ làm chút lửa sưởi ấm trái tim mình,  nhưng chứa đựng tài sản lớn: “Là vàng ròng của nhân cách, là đức hi sinh, là lòng vị tha, là thẳm sâu một nền văn hóa sống “vì nước quên mình” của ông cha muôn thuở” (1.5.1975). Chính vì vậy Nhật ký Nữ nhà báo chiến trường đã hoàn thành thật sống động xác thực, bởi tính độc đáo chọn lọc và hàm xúc, có tính chiến đấu và thời sự cao. Vẻ đẹp chân chính của một Nhà báo Lệ Thu chính là vẻ đẹp thời đại của người Việt Nam. Khẳng định sự lựa chọn hạnh phúc của mỗi người nằm trong hạnh phúc chung của dân tộc, tuy lâu dài gian khổ. Chị còn là một nghệ sĩ, một chiến sĩ thực sự có thể tự hào mình giàu có về chiều cao của nhận thức, chiều sâu sẻ chia đồng cảm, chiều rộng tâm hồn phong phú là nhờ thực tiễn cuộc sống tháng ngày ở chiến trường khu V, nhất là trên quê hương Bình Định lúc bấy giờ./.                               

                           24.4.2015/ Nguyễn Thị Phụng.

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC


Tiếng Việt Nam đa nghĩa đa thanh
Có khác đâu tiếng Anh, tiếng Pháp,…
Thuần túy xưa nay ráp vần chọn lọc
Giờ lợn cợn tạp âm chữ nghĩa lùng nhùng
Cách xen từ ngộ nghĩnh được không
“Khi quả đất hot* lên (hót phải là ríu rít?)
Ngỡ nhai sạn trong cơm có còn theo mô típ
Kiểu hành văn “đặc biệt” lạ lùng
Hay cố tình thích tắm ao chung
Ngôn ngữ Tây- ta cười ra nước mắt
Người Việt Nam há bao giờ từ khước
Biết dùng từ vay mượn để giàu thêm
Thuở nguyên sơ châu ngọc tự sáng trong
Tục ngữ, ca dao, Truyện Kiều,… vốn quý
Nói và viết tất cả đều thuần túy
Mắc mớ chi… không giữ ngọc gìn vàng!
                                     31.1.2010/ NTP
___________
*hot (tiếng Anh: nóng)

Nguyễn Thị Phụng