Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

VĂN HÓA CHỮ NGHĨA TRONG BÓNG TÙNG CỦA TRIỀU LA VỸ, bài viết của Nguyễn Thị Phụng.

 

         VĂN HÓA CHỮ NGHĨA TRONG BÓNG TÙNG CỦA TRIỀU LA VỸ 


          Có thể tôi thích đọc truyện ngắn. Cũng không tranh luận với một ai. Bởi sau một truyện ngắn là cái tình của người sáng tác đối với văn hóa chữ nghĩa của mình. Mà tôi không lụy tình, nhưng đều quý cái tình tác giả chăm chút yêu quý nhân vật chính đã đành, còn với những nhân vật phụ thì không hề chủ quan. Đó là cách đọc bất kì truyện ngắn nào, trong đó với Bóng tùng của Nhà văn Triều La Vỹ cũng vậy. Nếu tính theo số lượng tác phẩm đã xuất bản, thì thơ nghiêng về sở trường của anh. Nếu tính từ 2020 đến nay thì chỉ có hai tập truyện ngắn, thể cán cân bị lệch. Nhưng với tôi, cái lệch không là số lượng, lại nhẹ nhàng mà bay bổng trong cách dựng truyện. Nhất là thể tài nhân vật lịch sử, cách đối chiếu tâm trạng nhân vật, cảnh sắc và con người. Mười ba truyện ngắn trong Bóng tùng mà thấp thoáng “Bóng rồng” của quyền lực, nhưng tấm lòng bề tôi, của kiên định, của dân làng là một mực của “Đất có lề, quê có thói”.

      1. Có thể vì sao tác giả sắp xếp truyện Cổng làng mở đầu tập sách trong 13 truyện ngắn của anh. Hình ảnh Cổng làng là nhân chứng cho cuộc ra đi trong đón tiếp của vương triều mà đôi mắt thầy đỏ hoe và trả áo mũ cân đai của người “thầy” trở về trong lặng lẽ, sau ba mươi năm đối diện sự thật. Sự thật về lòng hiếu học của con dân, sự miệt mài rèn nhân cách, sự thật là chữ nghĩa không thể chôn vùi. Mà giữ cách im lặng ngày trở về “thầy” đã bọc bút nghiên trong ba lớp giấy, chôn sâu trong ba mét đất cũng được quật lên lau chùi kĩ càng. Đó là giá trị của sự thật hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Người “thầy” đã thành huyền thoại từ chi tiết thầy chạm tay vào khúc gỗ kết từ hài cốt người học trò - từng gánh củi chất đầy sân nhà thầy, thầy không còn biện lí do nào nữa để từ chối, đành phải trở lại dạy học - bỗng nhẹ như không... Và đã mở ra trong cái kết nhiều thêu dệt huyền thoại một người thầy trong đời sống dân làng trân quý vô cùng.

      2. Nếu nhân vật chính không gọi tên trong Cổng làng viết về người thầy kiên trung bức xúc hiện trên gương mặt khó nén từ mở đầu truyện, cũng như đã gửi lại Hoàng thượng áo mũ, cân đai cùng Thất trảm sớ về làng. Thì các nhân vật lịch sử trong Ma chữ lại ám ảnh một đời Bùi Đắc Tuyên từ nhỏ đã ham chơi lười học thời Tây Sơn trong ác mộng lo lắng hỏi thầy “Con muốn sai khiến chữ nhưng không cần học, có được không. Thầy trừng mắt, đáp. Được, nhưng phải là kẻ gian hùng. Đáp xong, mắng thêm một trận”. Nhưng để được cơ hội kẻ khao khát như Tuyên cứ muốn được ngồi chiếu trên, bên mâm cao cổ đầy,... Và khi cơ hội lên làm Thái sư, đã tìm mọi mưu ma chước quỷ thu tóm quyền lực vào tay mình kéo Ngô Văn Sở bị lừa mưu, nghe theo. Còn Bùi Hả dựa quyền mà sát phạt, mà vơ vét. Riêng sư thầy Đồng Đức biết tham vọng của Tuyên từ việc bày kế giải hạn ma chữ cho đến vừa hành lạc vừa tập thiền,... của sự tận hưởng và thoái hóa, đã cuốn hút Thái sư đến việc đúc tượng Thái sư bằng vàng đặt dưới tòa sen để tụng niệm, kể cả giả chiếu chỉ... để trị tội khỏi vạ về sau. Và cuối cùng sự thật trong tầng nghĩa ẩn dụ “Ma chữ” đồng hành với công bằng nghiêm minh phép nước, trừng trị kẻ phản loạn âm mưu cướp ngôi khi mà vua Cảnh Thịnh còn quá trẻ. Truyện ngắn Ma chữ vẫn theo motip cách nghĩ ác giả ác báo, chính nghĩa thắng gian tà.

 

      3. Vật tổ - là truyện ngắn xoay quanh ba nhân vật trong lều trại của Hùng Vĩnh Hằng, chủ đầu tư của hàng loạt dự án công viên sinh thái vĩnh hằng thu lợi hàng ngàn tỉ mỗi năm, cùng với Nhân Pháp Sư và Khải Bát Tràng. Cách gọi tên nhân vật gắn liền với đặc điểm công việc. Truyện đan xen giữ thực và ám ảnh từ thầy địa lý với vật lạ mà Vũ Cần, nhân vật chính - nghề đào huyệt mộ, làm mả và đào giếng, đã thấy “vật lạ” ấy khi đào hồ bán nguyệt cho nhà vua từ thời Thái Đức sơ nguyên. Cuộc sống gia đình từ ổn định đến phát triển. Vũ Cần muốn cho con trai duy nhất của bà vợ ba đi học không là dụng ý khi nói với thầy đồ Hảo giàu có mà dốt chữ người ta khinh, nhưng với Vũ Cần là muốn con trai học để kiếm đường ra làm quan. Những cản trở tình yêu của Kiệm với cô Đào khiếm khuyết mà thông thạo, rồi đến cô Hồng con vị hào phú Vũ Cần chọn cho Kiệm cũng không thành. Vũ Kiệm sau khi học xong nhà cụ Tú Đậu ở Gò Chàm về, được bố nhiệm làm Chánh tổng, rồi được mời vào cùng chức hiệu thư, hàm chánh bát phẩm. Năm nào cũng nhiều quà cáp gửi về. Thời thế loạn lạc, tự đường tộc Vũ bị giặc đốt, Vũ Kiệm trốn thoát trở về sau khi vua Thái Đức băng hà, Nguyễn Bảo bị truất phế về làm dân. Còn Vũ Kiệm không muốn ở nhà viết sớ cúng vong xem thường nghề của cha mình chỉ vì muốn học để làm quan, và bị cụ Cần đuổi đi. Có phải ám ảnh thời vận từ chữ Trần của thầy địa lý mà cụ Cần xoay ra sửa sang nhà cửa và giao việc cụ thể đào huyệt làm mả, đào giếng cho các con. Phần riêng cụ Cần ở tuổi bảy lăm ngỡ chống gậy đi chơi đó đây lại cần xin mai mối cưới cô Đào con ông đồ Háo, nghe tin ai cũng tủm tỉm cười “tình thằng con trẻ, duyên đứa cha già”. Khi Kiệm trở về, cha con mâu thuẫn, Kiệm bỏ đi cùng lời thề độc về danh phận như thế nào không ai biết chỉ sau hơn trăm ngày cụ Cần mất cả nhà họ bị chém trước từ đường họ Vũ vì tội mưu phản. Một cái kết bi thảm...

       Trong truyện ngắn Vật tổ có hai chi tiết là lời của thầy đồ Háo: “Thời tao loạn chữ nghĩa rẻ như cám heo, ông cho cậu ấm học nghề kiếm cái ăn, chẳng tốt hơn ư?” . Và chi tiết nữa khi Hùng Vĩnh Hằng chép miệng: “Thời buổi cơm cao gạo kém chỉ có bọn hâm mới lập thân bằng văn chương. Nhưng đại gia mà không có cái danh ấy thì được coi là đứa quê mùa có của”. Ngẫm ra khi luận về chữ nghĩa, thì đúng là chữ nghĩa thời nào cũng bị dân gian xếp sau cái ăn, cái mặc. Nhưng nếu xem chữ nghĩa là vật trang trí trong cái đầu thiếu tư duy sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, nếu không có chữ nghĩa thì làm sao cô Đào con thầy đồ Háo thông minh đang mang giọt máu của cụ Cần trốn vào Nam lúc bấy giờ thì làm gì có hậu duệ Hùng Vĩnh Hằng ngợi ca tộc họ: “Họ Vũ bây giờ con đàn cháu đống, vinh hoa phú quý không thiếu thứ gì cả. Nhưng đi đâu cũng bị chê là đồ võ biền, thật là hổ ngươi”. Vậy thì có phải cuộc sống vốn không bao giờ công bằng, nhưng nếu tư duy con người đủ nhận thức và biết trân quý giá trị việc làm mỗi người trong xã hội bổ sung cho nhau. Cho lời khẳng định của Nhân Pháp Sư: “Hùng được bổ làm quan to của bộ Công ta đấy. Thời này làm quan mà không biết lẫy Kiều, mần thơ thì đồng bọn nó khinh cho, ông ạ”. Để thấy giá trị chữ nghĩa là nhu cầu thường ngày cần phải học. Học chữ nghĩa là học nhân cách, học văn hóa ứng xử tử tế với nhau.

        Đó mới chính là giá trị chữ Trần - Vật tổ tỏa sáng trong trần đời mà vị thầy địa lí đã khẳng định: “Đừng mắng thằng bé, tội cho nó. Cái nghiên cổ này thạch quang rất mạnh, phải là người chính trực, đức trọng thì mới dùng được...”. Vậy thì chính trực, đức trọng luôn là thử thách lòng người. Cụ Cần đã quên tích đức và phùng thiện còn ham muốn cá nhân, bị thử thách từ lương tâm mình đẩy con vào trong danh, tiền dẫn đến hệ lụy cả tộc họ Vũ.

         Nếu như cái kết hình ảnh người thầy trong Cổng làng đã thành huyền thoại, tôn vinh trong nhiều cách giải khác nhau. Còn đến hài cốt Cụ Cần đã hai trăm năm trong giấc mộng của Khải nặng nề đầy ám ảnh kia. Chi tiết cách dùng từ làng “Lạc" họ Vũ, làng “An” của cô Đào, hay Vĩnh Hằng - tìm ra chút tĩnh tâm của các nhân vật cũng khó, mà Hùng Vĩnh Hằng cũng làm giàu từ chỗ nằm cho người mất. Chung quy trong cốt truyện Vật tổ để nói đến số phận bút nghiên chữ nghĩa dẫu có ẩn sâu trong lòng đất (như truyện Cổng làng) cũng được khai quật mở trí con người và có yên bình hay không cũng từ nhận thức mà ra.

        4. Bóng tùng - giữa trần không là sáng tối bằng mắt thường, hiện hữu giữa thực và mộng của nhân vật Mai Tăng trong truyện ngắn của Triều La Vỹ. Được chiếu rọi giữa cách hội thoại của các nhân vật trong tác phẩm cùng Mai Tăng.

       Đó là đằng sau số phận của một Lan Anh gánh nghĩa gánh tình đủ hiên ngang trọng trách trong câu hát: “Lao xao sóng vỗ ngọn tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vay”; Đó là đằng sau số phận một nàng Đát Kỷ ngây thơ hiền thục bị cướp xác đoạt hồn bởi lọc lừa nhơ nhớp. Là những khao khát sum vầy bình yên giữa chia lìa loạn lạc, giữa chìm nổi bể dâu.

        Hiểu và cảm thông với người cầm bút có tấm lòng nhân từ đã đủ chưa. Mà sau những ngày về hưu tìm đến cửa thiền ngỡ tịnh tâm mà sao đầy trắc ẩn buốt nhói trong mơ. Ngọn tùng đã là hình tượng tác giả của ý chí và nghị lực hiên ngang cũng chỉ đủ tác động mạnh trong cái kết vở tuồng. Còn hướng nương vào cửa Phật của một Đát Kỷ truân chuyên vướng nợ đời. Trong lời thoại diễn đầy ngậm ngùi không chốn yên thân, được hóa vào nhánh tùng nhánh bách, cũng là thử thách lòng người dẫu quăng quật cũng phải sừng sững giữa đời. Lại những kính quý đối với duyên gặp gỡ đầy cảm xúc trong hàm ơn về ân nhân là bậc đại trượng phu...

       Nếu như phần đầu truyện ngắn Bóng tùng, trong cơn đau trằn trọc của nhà vua năm Minh Mệnh thứ bảy, từ hương tùng mở ra cho vị thiền sư bước vào, nhà vua bừng tỉnh... Tìm hiểu và phát tâm bồ đề cho xây lại ngôi chùa hoang tàn của vị thiền sư đã phá thạch khai sơn, tu tập làm bạn với đôi cọp mun, hái lá làm thuốc chữa bệnh cho dân.

         Bóng tùng của Chùa Ông Núi (Linh Phong Thiền Tự) ngày ấy. Cho Mai Tăng tìm về lưu lại đầy thao thức thể qua giấc mộng dài cũng phải giã biệt trong cảm hứng bốn câu thơ, vừa dứt lời ngâm, lại bất ngờ được nghe khen hay và lặp lại hai câu cuối: “Khả ái Sơn Ông vô sở hữu/ Chỉ tương phong vũ tống quy châu”. Phải chăng tiếng lòng thành kính của Mai Tăng thấu cảm với Đại Lão Thiền Sư những trăm năm trước bước vào. Thảo hài, mộc y, trúc trượng. Tay trái cầm một nhành tùng, lá canh mơn mởn cho cuộc thoại bắt đầu từ cử chỉ thân tình, về Vạn pháp đủ duyên thì đầy, thiếu duyên thì rỗng, và làm sao kẻ sĩ mở được dạ Từ Bi, và hiểu thấu Cư trần lạc đạo (Trần Nhân Tông) thì hiện tại luôn là phút giây chuyển y màu nhiệm. Mai Tăng đã nhận ra điều “Nhớ mà không đắm. Tưởng mà không mê. Phải chăng đã là Bồ Tát”. Bóng tùng - đã đưa người đọc cảm thấu từ quan niệm “Sắc tứ thị không, không tứ thị sắc” (Bát Nhã Tâm kinh) của hiện hữu và hư vô, tùy đủ duyên giúp và cứu người từ nội tâm - trí tuệ là căn nguyên, từ bi là nhân bản. Cửa thiền hay tại gia cần hòa nhập cuộc sống. Với Mai Tăng, tâm sáng an lạc hướng những điều giản dị, chân tình đã là Phật tính của người phàm trần, đó là nét đẹp văn hóa cần lan tỏa.

     

      5. Bạch Cẩu kêu oan của Triều La Vỹ đưa người đọc về không gian thuở nào, từ những thiên tai mất mùa, Hoàng Thượng phải mở kho thóc cứu đói cho dân, bọn tham nhũng đông nhung nhúc, sâu dân mọt nước cũng đã được truy tìm trị tội theo luật hình phép nước. Nhân vật Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang đang xem dở một vụ tham tang mà không sao yên lòng cho cán cân minh bạch như đã từng phán quyết. Nếu không có yếu tố đan xen giữa thực và mộng. Từ nhìn thấy hình ảnh người đàn bà quê mùa mặc áo trắng, lốm đốm một hàng sọc đen hai bên hông, đang đứng bái chiếc trống như tế sao, rồi khuất dần cùng thanh âm tiếng chó tru từng hồi thê thiết. Hình ảnh Lê Ngọc Phiên cùng bên cạnh Lê Đại Cang bơi thuyền trên Hồ Tây, ngâm thơ thư giãn càng yêu thêm tấm lòng một tri âm tri kỉ sẻ chia tâm tình cho Lê Đại Cang nhận ra “Ẩn trong mỗi dòng chữ là một phận người. Người xưa bảo thế. Em là phu nhân của Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cang, chàng quên rồi sao?” vừa nhắc nhở yêu thương thật giản dị mà minh triết chứa cả thế thái nhân tình. Đầy ám ảnh như hướng lần theo thanh âm ấy, để rồi “Bấc khêu lên, ánh sáng ùa ra sáng rực cả căn phòng. Ánh mắt của Cang cũng vụt sáng lên bàng hoàng khi chạm vào nét bút quen thuộc của chính mình hôm qua: Án trảm kiêu!” trong giác quan nhạy cảm dằn vặt nội tâm để khỏi án oan thì phải cẩn trọng xét xử công minh.

        Nhưng cách thể hiện rõ chủ đề Bạch Cẩu kêu oan hẳn là từ hình ảnh lặp lại thanh âm tiếng trống kêu oan vang lên dồn dập hối hả cùng hình ảnh mặc quần áo trắng, lốm đốm một hàng sọc đen hai bên hông của cậu thiếu niên cũng như lần theo thanh âm ấy tìm về thế giới tâm linh thờ Cẩu Mẫu Cẩu Nhi thời Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long trong phần kết thúc truyện. Gửi vào Bạch cẩu – linh vật niềm tin tập tục, là biểu tượng vật nuôi trung thành giữ nhà, bài trừ âm khí mà bấy lâu nay bị lãng quên trong văn hóa tín ngưỡng người Việt. Những càng quý hơn nữa răn dạy con người: “Con chê cha mẹ khó, chứ chó không chê chủ nghèo”. Dẫu thời đại công nghệ vẫn có camara ấy mà.

           

   6. còn nữa...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét