Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

LÒNG QUÊ, thơ Nguyễn Thị Phụng.


LÒNG QUÊ
           Tưởng nhớ anh cả Nguyễn Trọng Cảm*





















Tháng sáu, khóm dã quỳ đẫm nước
Chẳng ngại ban mai, anh khép chặt cái nhìn
Gởi lại mùa mưa Bảo Lộc thản nhiên.
Thèm tắm chút nắng Lí môn, nghe bài chòi, hát bộ,
Chắp cánh cò đưa hương xoài, hương lúa,
bánh ít lá gai giỗ  cha mẹ, ông bà,…
Gấp lại rồi
Chuyện đồng áng ngày xưa bắp, sắn,… thay cơm!
Nhớ ngày nào anh đã chọn yêu thương
Đất Bảo Lộc cây chè, cà phê, ao cá,…
Cùng vợ, cùng con cắt cỏ, vun trồng
Giờ bỏ mặc hồn nhiên các cháu quý ông
Bởi giữa vườn sầu riêng đã đến hồi rụng quả.
Anh về nơi an nghỉ
Từng cánh cúc theo chân có bình yên, lặng lẽ
Kịp hóa vàng tầm tã những hạt rơi














Tháng sáu, khát quê nhà hạn hán
Tiễn anh đi vương gió rét ngút ngàn
Người vương người luống đẫm mưa chen
Trời Bảo Lộc sao nhiều mưa đến lạ!...
 _________
*Mất 13.07.2018 (01/06 ÂL)                15.07.2018/Nguyễn Thị Phụng

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2018

BAO GIỜ TRƯỜNG ÚC HẾT VÔI…Nguyễn Thị Phụng


                            BAO GIỜ TRƯỜNG ÚC HẾT VÔI…
   
Ngày hội Chợ Gò

        Bao giờ Trường Úc hết vôi là mở đầu câu ca dao:
                Bao giờ Trường Úc hết vôi
                 Thì em hết đứng hết ngồi với anh!”
        Sao mà dễ thương thắm thiết dịu dàng. Trường Úc ở nơi nào đã sản sinh ra “em” một mực gắn bó sắc son với “anh” đến vậy.
        Trường Úc là tên ngọn núi ở thôn Phong Thạnh, thị trấn Tuy Phước. Núi Trường Úc nằm bên cạnh một nhánh sông Hà Thanh từ thượng nguồn phía tây đổ về và ngay dưới chân núi là bến đò Trường Úc thông thương những ghe thuyền từ biển vào đất liền, cũng chính nơi đây cửa ngõ ra vào và đồn trú của đội quân Tây Sơn bảo vệ cảng Thị Nại và thành Hoàng đế của hơn hai thế kỉ trước. Vào dịp du xuân, chúng ta đứng trên ngọn núi cao nhìn về hướng đông sẽ thấy sông Tranh lặng lẽ ôm vòng thế núi Hoàng Mai bên cạnh cánh đồng lúa Phước Nghĩa xanh mượt, rồi cùng đổ ra Đầm Thị Nại biển Quy Nhơn. Và phải chăng Trường Úc đi vào đời sống tâm hồn người dân Tuy Phước tự xa xưa có thể kể từ thời Tây Sơn giờ đã trở thành nét đẹp văn hóa lễ Hội Chợ Gò truyền thống chỉ hai ngày đầu năm: mùng một và mùng hai Tết Nguyên Đán.

           Còn câu ca dao “Bao giờ Trường Úc hết vôi” lại gắn liền với đời sống của nhân dân lao động nơi đây chuyên chở đá vôi san hô lấy từ ngoài biển về đập vụn, xay nhỏ thành dạng bột vôi làm vật liệu xây dựng nhà cửa đền đài thành quách xưa nay. Hay là nung chín các loại vỏ sò vỏ ốc cùng với nước thành dạng nhuyễn để sử dụng như một hóa chất làm cứng thức ăn (chẳng hạn như  lấy vôi hòa loãng gạn đục phần dưới bỏ đi, phần trên nước trong ngâm bí, ngâm me,… làm mứt), hay dùng vôi để quệt vào lá trầu làm thức nhai cho đẹp môi thắm lưỡi “miếng trầu là đầu câu chuyện” đã có trong văn hóa giao tiếp thưa gởi cưới xin từ cổ tích Trầu Cau đến nay. Nói đến địa danh Trường Úc là người ta nhớ ngay đến câu ca dao “Bao giờ Trường Úc hết vôi”, nhớ đến“vôi”, nhớ đến đôi tay đập vôi, hay nhớ đến người miệt mài tháng năm nung vôi tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống vật chất và tâm hồn người, thì “em” mới hết đứng hết ngồi với “anh” như một điều khẳng định.


          Bài ca dao: “Bao giờ Trường Úc hết vôi/ Thì em hết đứng hết ngồi với anh!” chỉ mười bốn âm tiết đã có ba từ “hết” được lặp lại trong hai câu lục bát. Từ “hết” kết hợp với từ “vôi” là tên gọi chất liệu màu trắng thể tĩnh nhưng hương vị cay nồng, từ “hết” kết hợp với từ “đứng, ngồi” là thể động biểu hiện sự gần gũi thân thiết của con người, thì “hết” đặt ra trong bài ca dao ngỡ khẳng định một điều duy nhất: phủi tay, kết thúc. Nhưng nhờ được liên kết bằng cặp quan hệ từ: “Bao giờ... Thì…” Chỉ rõ sự việc được đặt ra: “Bao giờ Trường Úc hết vôi” đến kết quả nào ai mong muốn: “Thì em hết đứng hết ngồi với anh!” phải không?!... Nhưng giá như cái giả định ấy có thể một lúc nào đó “hết vôi” thật, nói chính xác hơn nghề truyền thống làm vôi ở Trường Úc Tuy Phước bị mai một thì liệu “đôi ta” còn gắn bó keo sơn nữa không, hay hết “ vôi” rồi dẫn đến thất nghiệp thì há “em hết đứng hết ngồi với anh” sao! Nói “hết vôi” trong bài ca dao chỉ là cái cớ để thử thách tình yêu em - anh, của những người lao động chân chính sẻ chia. Hay còn khẳng định đã đến lúc “hết vôi” là hết nghĩa tình thì không nên phải ràng buột nhau, hãy trả tự do cho nhau biết đâu định hướng ngã rẽ kia là màu hồng mời gọi…

           Khu vực Trường Úc nằm cách thành phố Quy Nhơn khoảng mười cây số trên tuyến Quốc lộ 19 lên Gia Lai, ai đã từng đi qua hoặc đến Trường Úc, một địa danh đâu chỉ hữu tình cảnh núi sông bề thế, đâu chỉ có những lễ hội văn hóa dân gian thường niên đầy náo nức “Cứ mỗi năm chợ càng thêm trẻ/ Chẳng ai già khi trời đất vào xuân”( Đặng Quốc Khánh), mà còn là đến với tiếng hát từ trái tim đằm thắm của người lao động cất lên  Bao giờ Trường Úc hết vôi / Thì em hết đứng hết đứng hết ngồi với anh!” thăng hoa đến vậy ./.
 NTP

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

TỪ HẠT MƯA RÀO(Trích Bến Xuân, NXB HNV 2016)Nguyễn Thị Phụng



TỪ HẠT MƯA RÀO.



Mưa rào rửa sạch bụi trần
Rửa bao tăm tối, trong ngần mây xanh
Rửa hoa lá, rửa gốc cành
Rửa từng thói cũ loanh quanh ngõ buồn
Mưa rào ngấm đất yêu thương
Hạt rơi tinh khiết càng vương đá mềm…

Mưa rào ơi, hãy rửa thêm!
Rửa sao cho hết thù hiềm bấy lâu
Mưa rào tắm mát bể dâu
Rửa đôi mắt đợi nhuốm màu hoàng hôn
Mưa rào rửa lại nguồn cơn
Nắng nôi đã dịu dỗi hờn cũng tan…
                                          17.7.2008./Nguyễn Thị Phụng

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2018

ĐỜI VẪN HỮU TÌNH ("Chao sóng", tập thơ Hồ Thế Phất)


ĐỜI  VẪN HỮU TÌNH 


(Đọc "Chao sóng", tập thơ Hồ Thế Phất)
Trích Lặng trong hương lúa (NXB Vh, 2014)
             “Trên trời dưới nước vầng trăng
                Dưới sông, trên bãi là mình...”
/Chao Sóng)
         Thật sự là mình, thật sự là Hồ Thế Phất (HTP). Anh là Hội viên hội VHNT Bình Định, cũng là hội viên CLB Văn học Xuân Diệu Bình Định. Tôi còn nhớ đêm sinh hoạt CLB hôm mùng Bảy tháng Giêng năm Canh Dần (2010), anh mang thơ đến tặng ngập ngừng với chút ưu tư: "Thằng em nó tài trợ!" ngẫm người thơ sao mà thương đến thế! Cầm tập Chao Sóng (NXB Thuận Hóa 2009) của HTP sau 5 tập đã xuất bản: Chứng tích, Hái mộng, Cõi miền u u, Bước giữa chiêm bao, Mưa Xuân thì. Quả anh có một gia tài thơ đồ sộ. Đúng vậy, ở độ tuổi thất thập như anh còn "Chao sóng" thì 30 năm nữa phải có cả thư viện thơ, ai mà đuổi kịp!
      Tình thơ là bài đầu tiên trong tập có 13/14 câu tác giả sử dụng thanh huyền và không dấu nhẹ nhàng lơi lơi, dụng công thật tài tình cứ ngỡ anh là Bùi Giáng:
          “Lời chim đêm đơn ơi
          về đâu buồn kêu thưa rơi dần xa xa xa
          Cành cây vờn lay hoa
          hồn ta lâng lâng trời thơ nàng đem dâng
          Vùng đê mê miên man
          tình thơ ơi
          Ta ôm nàng hôn hôn khan”
    Cái đích của anh là Gieo Hạt* ươm mầm cho sự sống thăng hoa:
         “Con chim gieo hạt non ngàn
         anh gieo lục bát cho tràn thơ ca
         Em gieo cây lúa đồng xa
         cây ngàn-hạt lúa-thơ là của nhau
    Câu kết của tứ thơ lục bát giống câu hợp trong bài thất ngôn tứ tuyệt ở sự liên kết: Cây ngàn-hạt lúa-thơ là của nhau không thể thiếu được, vừa bình thường giản dị vừa trong trẻo lung linh, vừa mặn nồng ấm áp.


    Cũng thật lạ trong Chao sóng luôn chất đầy nỗi nhớ: Nhớ sen* đến Lạc bước* mong Gọi em một tiếng* Ban đầu* cho thanh âm vọng về Lòng Nghe*:
          “Rượu say đâu có bằng tình
          uống chung dĩ vãng ta phừng cơn điên
          Chiêm bao về giục lên thuyền
          lòng nghe đau thấu cửu tuyền em ơi”
      Có gì đâu, bởi biết ai chia sẻ, chàng thi sĩ đa tình muốn giải tỏa lòng mình cho dù nỗi đau đến tột cùng đỉnh điểm, rồi cũng phải vơi đi đêm lẻ trở về lắng đọng đơn côi Khoảng trắng* cứ lan tỏa mênh mông:
           “Đóa hoa huệ trắng theo chồng
           ta nâng rượu trắng say vầng trắng mây
     Cho quên đi thực tại lẻ loi chồng chất trong tĩnh lặng gói ghém những đầy vơi:
           “Vút lên trời
            Trăng
           trong cốc ngọc
            Vời vợi mắt em
            long lanh giọt rượu
            Thẳm sâu tim anh
             ắp rượu và trăng
       Buồn đấy rồi đi, vui đấy rồi mắt, say mãi với trăng thơ, với rượu tình. Những bài thơ viết cho mình, viết cho em yêu dấu đã được vắt ra trong thăm thẳm mơ hồ những nhớ nhung mong đợi... thời gian ơi có xóa nhòa! Anh bộc bạch qua chén Rượu đời*:          
           “Thôi thì uống cạn đơn côi
            sao càng uống cạn càng bời nhớ thương”
      Hình như ở HTP có cái ngông của Tản Đà, cái điên của Bùi Giáng, cái tình của Xuân Diệu,... chất ngất trong anh:
           “Ngàn năm mây vẫn phiêu linh
            ngàn năm gió vẫn đăng trình chưa thôi
            Em ngàn năm bóng chơi vơi
            ta ngàn năm thả lá rơi theo dòng”(Tr.54)
        Có phải thi sĩ đi tìm vần thơ từ sáng sớm đến tối chiều, từ đầu Xuân đến cuối Đông phải nát lòng bởi cái lá rơi kia cứ theo dòng thời gian bất tận, làm sao níu giữ lại đây:
             “Suy tư bạc trắng mái đầu
             tình yêu phụ bạc trắng màu nợ duyên
             Anh nghèo bạc trắng tay tiền
            em xe hoa trắng lời nguyền trắng bay” (Tr.37)


      Nói đến Chao Sóng là nói đến suy tư nặng trĩu chất chồng khó thoát ra cái vòng tình ái trăm năm. Nhưng đâu phải thế, biển mặn kia cứ dạt dào sóng vỗ bá víu bãi bờ, lòng biết ơn trân trọng:
             “Người này bám người kia cùng cực
             anh bám em giàu thêm tứ thơ
             Như phong lan cuộc đời sống bám
             sẽ trả lại hương-cây thơm nhờ” (Tr.16)
       Cái tâm của mỗi người là hướng thiện, tri ân. Vay chỉ một trả đến mười thấy chưa đủ. Hạnh phúc đến với em, với bạn, với đời là hạnh phúc đến với mình. Giữa Biển Tình* mênh mông có Sợi neo* nào khẽ chạm đến đáy sâu bí ẩn ấy, anh phải núp mình dưới Cành đời* mong tìm chút bóng mát ấp iu, nỗi bức xúc cũng không nguôi:
            “Ta khóc một mình
            đời vẫn vô tình
            Kéo về từng trận
            lá úa điêu linh” (Tr.22)
     Đọc Chao Sóng của HTP thật sự là sóng đâu chao, bởi anh cảm nhận Em hoa mộc* trong trắng lắm, xinh xắn lắm, chẳng ngại ngần anh mạnh dạn chia phần:
           “Người ta giàu có mong chia của
            anh chỉ hồn thơ chút chẻ đôi
            Tặng đời một nửa-em một nửa
            còn lại tình anh túi rỗng chơi” (Tr.10)
       Thi sĩ yêu tình và quý người hơn ai hết, 66 bài thơ trong Chao Sóng cứ dập dờn rồi đọng lại dư âm khi ta đọc đến nó. Quả sầu lắng đọng nào ai dám khơi gợi vết sẹo hằn sâu che lấp chôn vùi, nhưng câu từ cứ tuôn chảy trên mỗi trang thơ anh khác nào vết dầu loang thấm dần để rồi nắng mưa phai nhạt, nhường chỗ cho sắc xuân ấm áp rực rỡ hơn:
             Em đã về đây trải sắc xuân
              sớm chiều vàng nắng tối vàng trăng
             Thơ anh vàng mộng ai vàng áo
             cây điểm chồi xanh em điểm vàng” (Tr.70)
      Bốn câu thơ trên là đoạn cuối bài Tình mai đã khép lại tập thơ Chao Sóng của Hồ Thế Phất.
                                                     12/3/2010 

________________
(*) Tên
 các bài thơ trong tập.

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

THÌ THẦM SÓNG VỖ NHƠN CHÂU, thơ Nguyễn Thị Phụng


THÌ THẦM SÓNG VỖ NHƠN CHÂU
(Trích Bến xuân, NXB HNV 2016)

Sừng sững một Nhơn Châu
Hòn ngọc Quy Nhơn sớm hôm thủ thỉ
Thế núi đảo ngàn năm bền bỉ
Ngày đêm dưới ánh trời hồng
Biển Nhơn Châu dào dạt xanh trong
Lúc mặn chát hơn… bởi vập vồ dông bão
Đổi giọt mồ hôi cá cơm thơm thảo
Chắt chiu trang vở đến trường

Nắng mới Nhơn Châu lồng lộng ngọn nồm
Ôi kiêu hãnh những đôi mắt tuần tra
nhấp nhô con sóng!
Màu áo lá pha trời xanh bể rộng
Đẫm gió mưa đâu ngăn nổi tầm nhìn…

Tổ quốc Việt Nam: Đảo và Đất liền
Đã có từ thời anh theo Cha Lạc Long Quân
bám biển
Em lên rừng hòa nhịp thở Mẹ Âu Cơ
Đầu tựa Trường Sơn ánh mắt hướng về
Cả quần thể Hoàng Sa đến Trường Sa,…
dù đảo chìm, đảo nổi
Tạc bước chân anh in bờ cát vàng ngời ngợi
Yêu sao hải đăng tiếp nối
Sóng vỗ Nhơn Châu chung điệp khúc quân hành!...
                                                               19.10.2011/ NTP

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

THEO CON SÓNG VƠI ĐẦY


THEO CON SÓNG VƠI ĐẦY


Biển với tôi tự bao giờ gần gũi và thân thương lắm, những chiều nồm nam lộng gió tha hồ ngụp lặn trong bể nước mênh mông mát mẻ vô cùng. Còn hôm nay buổi sáng cuối xuân, nắng ấm đang độ rây vàng, tôi bước lên tàu bộ đội biên phòng ở bến cảng Quy Nhơn cứ dạt dào theo con sóng. Gần hai tiếng đồng hồ lênh đênh trên mặt biển cùng với anh em văn nghệ sĩ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Binh đoàn 15,… trong chuyến đi thực tế ra đảo Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn 18 hải lí([1]).
Biển trong mắt tôi đâu hề xa lạ.
Cái nắng gió cùng với sóng nước là sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất bức tôi rời khỏi buồng máy kín đáo an toàn dần ra trước mũi con tàu, độ bập bênh nhịp nhàng theo hơi thở biển khơi khiến tôi phải từng bước ngồi trên thùng cao trước buồng máy để giữ lại độ thăng bằng khi nhịp tim rộn ràng, rồi nhớ trước đây ba ngày đo điện tim với kết quả nhịp xoang chậm chỉ có 50 lần/ phút, huyết áp xuống thấp 90- 60, cộng với đêm hôm thao thức cho ngày mai chuyến ra đảo, tôi uống liền ba tách trà nóng, hương trà thơm dìu dịu lan tỏa vào khí quản, tôi tựa lưng an toàn và thiêm thiếp còn bên tai bao nhiêu là câu chuyện rôm rả của các anh chị trong đoàn. Rồi tôi không thể nhắm im đôi mắt còn há miệng cười theo khi có ai đó phát hiện cánh chim hải âu bay ngang. Ba chị em chúng tôi cùng lúc nhìn vào mênh mông hỏi: chim đâu? Được thể các anh cười rộ hả hê như chưa lúc nào sung sướng bằng, thích thú bảo chỉ có một con chim mà các cô phấn khởi!...
Có lẽ hơn tiếng đồng hồ rồi chăng. Tôi chắp cánh bay theo đề tài chim hải âu trên biển khi con tàu đã xa bờ lắm. Hải âu là giống chim lớn, cánh dài và hẹp, mỏ quặm, chỉ sống ở biển, là bạn người đi biển, màu áo xanh lính biên phòng càng thân thuộc gần gũi hơn. Lúc này chúng thèm nghe tiếng máy con tàu, tiếng nói cười của người, càng lúc chúng rủ rê nhau biểu diễn điệu múa nhịp nhàng đôi cánh lên xuống cho chúng tôi xem. Từng cặp ba, cặp đôi lần lượt vào tầm ngắm trong ống kính, tôi ấn nhanh nút chụp và chúng không thể lọt ra ngoài nữa rồi! Ơ kìa những con cá chuồn chẳng chịu nằm yên số phận, nghe tiếng máy chạy qua, ngước nhìn hải âu tung lượn giữa trời xanh, chuồn cũng phóng mình thi sức theo con tàu chừng hơn mười mét, thấy không đủ điều kiện tiếp sức nữa, lặn mình trong lòng biển. Trên những cái phao trắng vuông vắn bồng bềnh con sóng còn là trạm dừng chân quen thuộc của hải âu, nơi chim trời và cá nước bên nhau suốt đời gặp gỡ…
Nhơn Châu hiện ra sau gần một trăm phút trên mặt biển. Núi đảo sừng sững trước mặt, ngọn hải đăng hình khối tròn điềm tĩnh bên phải cao vút lên tầng mây, khoảng giữa phía dưới là nhà cửa san sát chen lẫn những vòm cây xanh mướt vươn lên giữa trời xanh thẳm. Có phải vì thế trước đây nhân dân ta thường gọi là Cù lao xanh hay không! Này, lá dừa xanh hiền hòa chịu đựng gió bão theo mùa in trên mặt đường bê tông che bóng người đi đường, cây sứ  khẳng khiu mà những chiếc lá thuyền cứ xanh còn màu hoa trắng ngà tỏa hương trộn lẫn mùi nồng mặn của biển chia đều cho người qua lại, những luống cải rổ lá to bằng bàn tay tươi mát cứ xòe ra đón nắng chẳng ngại chi, và kia là những vuông nhỏ lá răm thơm ngỡ như đôi mắt đa tình ngước nhìn lên theo từng bước chân người về đây. Tất cả màu xanh yêu thương ấy nằm trong khuôn viên các nhà dân ở hai bên đường. Điểm dừng lại là màu xanh lá bàng phủ bóng mặt đất từ ngoài cổng doanh trại vào tận trong cơ quan, nhà nghỉ, phòng ăn,… Cây bàng khiêm tốn nhường chỗ những luống rau xanh non của các đơn vị đại đội… ngay ngắn thẳng hàng hai bên lối gần khu nhà bếp phía sau. Và nhất là màu áo xanh tươi trẻ chân tình cộng với nụ cười cởi mở của các chiến sĩ bộ đội biên phòng đang từng ngày giờ canh giữ biển đảo quê hương, đón tiếp và bố trí chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt cho anh em văn nghệ sĩ rất chu đáo.
Hai giờ chiều, một số chúng tôi ngồi dưới tán cây bàng với những vần lục bát cho nhau. Sau khi tôi đọc xong bài thơ “Được mùa mua bán”, Phùng Văn Khai lại bảo theo em thì chị Phụng chỉ cần sửa lại từ “đã” là từ “ kia” trong câu bát: “Sầu riêng (đã) / kia chín thế nào cũng rơi ”… vì “kia” là một định từ được xác định, còn “đã” là phụ từ chỉ thời gian!... Ngẫm lại  có lí thật, nên cảm ơn nhà văn.
Sau một giờ đồng hồ, cái nắng bên ngoài cứ chực sẵn chờ người ra là lân la sờ sẫm quấn lấy ngay lên da thịt bất kể đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già,… cho đã thèm cơn khao khát. Tôi và Hà My không thể chịu nổi cảm giác tự nhiên ưu ái dành cho mình. Mắt kính, khẩu trang kín mặt, kín tay và kín luôn cả đôi bàn chân dù cho mồ hôi tha hồ tuôn chảy. Bởi luôn thực hiện phương châm nhất dáng nhì da. Đã là phụ nữ mà không xếp vào khung nào thì chỉ lo “ê sắc” thôi. Chứ chưa nghĩ sợ ung thư da!... Vậy mà, cuộc sống trên đảo với hơn 480 hộ dân và có khoảng hơn ngàn người, hầu hết sống bằng nghề đi biển. Trường học khang trang kiên cố nhất, dành cho tuổi thơ học tập và sinh hoạt ca hát vui chơi. Những con đường bê tông không rộng lắm chỉ đủ cho người đi bộ và một vài chiếc xe đạp, xe máy chạy qua lại. Một quán cà phê nằm sâu trong khuôn vườn nho nhỏ dành cho những phút tâm tình  sau những ngày ra khơi lộng gió. Một gian lều chợ rộng nằm cạnh bãi biển đón cá, tôm,… từ những thuyền thúng đưa vào bờ. Một số chị em ngồi quanh nhau bắt chuyện thăm hỏi những buồn vui cuộc sống mà bụng dạ luôn hướng ngoài khơi xa mong con tàu đầy ắp cá tôm trở về. Từng nhóm học sinh tan trường tung tăng trở về nhà khoe điểm mười còn nóng hổi trên trang vở. Và từng nhóm vui đùa trong biển nước gần bờ mát mẻ khỏe khoắn hơn. Nhưng tất cả đều tâm niệm kính cẩn gởi vào vị thành hoàng xã đảo Nhơn Châu cầu mưa thuận gió hòa cho cuộc sống mãi bình yên theo năm tháng.
Đêm giao lưu không chỉ có thơ lục bát với một Tình xa của Hà My: “ Tì tì một cốc phôi pha/ Hờ hờ say khóc tình ta cõi người”. Còn Du An ở Điện Biên lần đầu đến biển sáng tác ngay trên con tàu: “Biển khơi sóng lợp mái nhà/ Vừa bay nón trắng chắc là hải âu? Đường đi của những con tàu/ Bao nhiêu đàn cá ngẩng đầu trông theo” (28.4.2011). Còn tôi giật mình khi MC nhà văn Phùng Văn Khai bất ngờ giới thiệu chị Phụng sẽ đọc mười bài lục bát! Trời đất ơi, tôi cố gắng lắm mới được một bài tám câu thì trong bụng không còn chút thơ nào nữa… bởi quên đậy nắp nó bò hết trơn. Anh Thai Sắc ở tận Đồng Tháp với chất giọng Quảng Bình đã thành công bài hát “Thuyền và biển” giữa lúc này sao nặng nghĩa nặng tình lắng sâu nỗi nhớ người yêu đến thiệt nhiều như vậy! Ngọc Tuyết yêu đời sảng khoái: “Cười cho sóng sánh tháng ngày/ Cười cho tình đến đủ đầy nhớ mong/ Cười cho đời bớt gai chông/ Cười cho xuân lạc vào trong tiếng cười”. Bên cạnh vẫn là các đơn ca nữ của Binh đoàn 15 Đại đội Đ30, của Đoàn thanh niên xã đảo Nhơn Châu, nhưng khoái nhĩ nhất vẫn là chất giọng đặc trưng tự biên tự diễn bài chòi Bình Định của Trần Dự là hấp dẫn hơn,...
Kết thúc đêm giao lưu là tặng nhau những tập thơ văn ấm áp thân tình. Còn Ninh Đức Hậu ở Ninh Bình đã không quên lưu giữ những tấm hình kỉ niệm khá ngộ nghĩnh, độc đáo. Sau đó, các anh nuôi trong đơn vị cho chúng tôi thưởng thức món cháo cá thu lót dạ lúc chín giờ đêm thơm ngọt mặn mà đến giờ còn nhớ lắm. Tất cả đều thực hiện tác phong quân sự để còn ngày mai leo núi sờ lên ngọn hải đăng trước khi mặt trời mọc…
… Chia tay cầu cảng Nhơn Châu, con tàu lướt nhẹ trên sóng, bọt nước hình cánh quạt xòe ra xếp lại vỡ tan hai bên mạn tàu. Mặt biển sớm mai bình yên, độ chênh lệch tâm trạng và cảm xúc tôi có một cái gì đó chưa thật sự ngang bằng. Suốt cả đêm nơi đảo Nhơn Châu thao thức với màu nước xanh mát từ lúc chiều thả mình trong biển mặn, cát ven bờ hạt to trắng lắm cứ níu chân du khách đến lúc không nhìn thấy bóng người nhưng không phải là cát mịn như biển Quy Nhơn. Cả quần thể núi đảo nơi đây đẹp tựa vòm ngực căng đầy của một cô gái đương xuân. Tiếp giáp cầu cảng hai bên là tàu thuyền đánh cá tấp nập về đỗ bến bình yên, nhà cửa ngư dân san sát khi tối lửa tắt đèn có nhau, tiếng nói cười giòn tan đọng lại hòa với tiếng sóng yêu thương muôn đời làm nên bức tranh lung linh giữa biển. Nhưng còn đằng sau bờ cát trong cái eo biển nhỏ nằm phía sau Nhơn Châu, một chiếc dép đứt quai, một miếng xốp lót đồ điện tử, những bì nhựa rách,… lặng lẽ trăn trở dưới nắng mưa rồi chốc chốc phất phơ theo con gió trên mặt triền dốc cố mình cuốn đi nhưng chẳng biết về đâu!... Xin hãy giữ Nhơn Châu một màu xanh yêu thương tươi đẹp.
Biển trong mắt tôi đâu hề xa lạ. Tôi muốn hỏi thật biển có bị dị ứng vết dầu loang trên một diện tích nhỏ và vài bì nhựa còn nhãn hiệu nằm trơ ra trên con sóng gần đảo Nhơn Châu không?!...
Biển yêu ngàn đời của tôi!
 02.5.2011
Nguyễn Thị Phụng




[1]Hải lí: đơn vị đo độ dài trên mặt biển bằng 1,852 kilomet.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

NỐI LẠI THƯƠNG YÊU Đọc Cú vẫn còn kêu, tập truyện ngắn Trần Quang Khanh


                                     NỐI LẠI THƯƠNG YÊU

(Đọc Cú vẫn còn kêu, tập truyện ngắn Trần Quang Khanh, NXB. HNV-2015).
       Nhớ hôm Chi hội Văn học tổng kết năm 2015, Trần Quang Khanh tranh thủ kí tặng sách “Thân quý tặng chị Nguyễn Thị Phụng”. Bao nhiêu ấy đủ làm ấm lòng người nhận như tôi. Cú vẫn còn kêu là những mẫu chuyện trong đời đi vào tác phẩm đã là người đồng hành sáng tạo nhà văn trong nhà báo như anh, phản ảnh hiện thực đời sống xã hội bao trùm từ nhận thức đến thái độ thông qua lời nói và hành động nhân vật trong tác phẩm.
      Quả thật Cú vẫn còn kêu hay chính là nối lại yêu thương của mọi người trong gia đình với xóm làng ý thức cảnh giác về sự bảo vệ và đoàn kết che chở, giữa cái thiện đã thắng được cái ác.
      Từ mạch truyện đầu tiên Cú vẫn còn kêu đã nhằm thức tỉnh sự ấu trĩ từ bao đời truyền tụng không văn bản về thanh âm một loài chim ăn thịt thường cất tiếng trong đêm khuya “Tiếng kêu đùng đục, loang ngân trong đêm tĩnh mịch. Tiếng kêu như phát ra từ cái cổ họng nén hơi làm người nghe nổi gai ốc… Cú kêu một giọng, ngắt quãng ba, đơn độc và hoang hoải,…” Chính tiếng kêu quá đặc trưng ấy lại là sự bất an ám ảnh “… hễ cú đến đậu nhà ai, kêu lên ba tiếng là điềm báo ở đó nếu không có người chết thì cũng có người đau ốm nặng sắp ra đi”. Phần nào ma hoặc đã làm dao động nhận thức giữa sự sống và cái chết. Thế nhưng muốn hủy diệt không phải dễ, nếu không chủ mưu hợp tác “… chính chú hàng xóm phía bên phải đã lân la đến gặp cô hiến kế và nhận lãnh sứ mệnh thực hiện một cách hoàn hảo kế hoạch tiêu diệt tổ cú”. Vậy là từ một loài chim đã bị con người cố tình sát hại “ném cả chai thuốc sâu vào tổ cú mà không cần nghĩ bên trong có gì”. Nếu không có phần kết “…vợ tôi đã nhận ra mình đã đồng lõa để làm một điều ác… chịu để cho các con tôi nuôi nấng con cú non mù” là duy trì sự sống của muôn loài.
       Và nếu như nhân vật “Cú cha, cú mẹ cứ lòng vòng réo gọi…” để cứu lấy con mình nhưng không được trong Cú vẫn còn kêu, thì ở truyện Con Bin và người hàng xóm lại hoàn toàn khác hẳn. Con Bin lại là con chó được nuôi dưỡng để giữ nhà, riêng một thân phận, khi lỡ bị ra ngoài biết sẻ chia cùng người hàng xóm, nhưng cuối cùng phải “… kiệt sức sau 5 vòng chạy dốc hết tốc lực và sức lực cho những cú lao người vào cánh cổng sắt”, nhưng không thoát được “Chiếc thòng lọng đã thít được vào cổ con Bin và kéo lê nó một đoạn dài trên đường trước khi nó được gỡ ra quẳng vào trong bao…” lại trong sự chứng kiến của những người hàng xóm!... Nguyên nhân có phải từ sức mạnh của bọn trộm chó, hay sự cách biệt, chưa thật sự quan tâm trong mối quan hệ xóm làng. Người ta tiếc thương con chó “kiên cường, dũng mãnh, đáng thương, đáng tiếc…”. Nhưng với bản thân họ thì sao? Chưa có câu trả lời. Phải chăng từ “đèn nhà ai nấy sáng” của chủ nhà mất chó, đã dẫn đến thái độ thờ ơ vô cảm của người láng giềng, luôn ở thế thủ sợ bị vạ lây. Tất cả điều đó dẫn đến cá nhân thiếu trách nhiệm với xóm làng, với cộng đồng và xã hội. Sẽ là cơ hội cho bọn “cướp” duy trì, nhưng đến lúc kẻ “đi đêm có ngày gặp ma”, phải dẫn đến cái chết: “Hai nạn nhân là kẻ trộm chó… bị một nhóm người đuổi đánh và đã đổ xăng đốt cháy họNhóm đốt người đã bị bắt, bị khởi tố chờ ngày ra tòa”.
        Từ câu kết truyện “Có điều không thấy ai tỏ một lời tiếc thương”(Con Bin và người hàng xóm) đến truyện Đàn chim của bố, là cái thú tao nhã của người về hưu nhân hậu, từ việc chăm sóc cây cảnh, yêu thích tiếng chim kể cả loài chuột cống phá hoại cũng “Không giết hết được đâu con ạ! Mình phải chấp nhận chung sống với lũ chuột. Có điều phải biết sự nguy hại của chúng để khắc chế”.
         Không là cái vòng luẩn quẩn trong sự móc xích giữa các truyện ngắn trên. Mạch văn giản dị mở ra cho người tiếp nhận vấn đề ý thức về mối quan hệ giữa con người với loài vật, nhất là con người với con người trong xã hội là một sự nan giải: Rõ ràng khi con người lỡ tay làm viêc ác nhỏ chỉ vì tiếng kêu của nó, mà phải trăn trở nuôi dưỡng nó (Cú vẫn còn kêu). Nhưng khi “sa chân” bằng vũ lực khống chế việc kiếm tiền dưới hình thức trộm cướp loài vật lại là việc ác lớn hơn, đến việc ác tày trời “lỡ tay” sát hại “con người” phải bị pháp luật truy tố (Con Bin và người hàng xóm). Còn có người lại quá ư lương thiện “…bỏ bã, chuột chết không biết đâu mà tìm, thối inh cả nhà thì nguy. Với lại hàng ngày bố quen mắt nhìn lũ chuột cống đi lại trong vườn rồi, thiếu nó bố cũng buồn lắm” (Đàn chim của bố).   
      Trong Cú vẫn còn kêu, cho ta thấy được giá trị sự chân tình thẳng thắn bảo vệ danh dự người yêu của nhân vật “em” và lòng tự trọng của con người, nhưng không có sự hàm ơn đáp lại (Kẻ lỡ tàu)*. Sự thủy chung trong tình yêu luôn được nâng niu gìn giữ (Khoảng trời màu xanh)* nhưng do hoàn cảnh xã hội và chiến tranh chính là ngã rẽ đau thương (Khúc hát biệt ly)*.
      Nếu như cốt lõi trong cuộc mưu sinh, con người đâu chỉ tự bươn chải kiếm cái ăn cái mặc thường ngày, mà giá trị cuộc sống chính là mối quan hệ giữa con người với  nhau, nếu biết xóa đi những ích kỉ nhỏ nhen, những ganh tị hơn thua, biết thông cảm sẻ chia thì sẽ không có những cái kết đau buồn (Láng giềng)*. Còn trong gia đình ruột rà máu mủ chưa hết những hơn thua, tị nạnh, đùn đẩy bổn phận làm con, mà người mẹ kể lúc đã mất còn hiện về nhắc nhở làm ăn chân chính(Bà ngoại)*.

      Chùm truyện ngắn viết về năm tháng chiến tranh đầy khách quan như Đêm trắng*và sự tồn tại từ nguyên nhân ấy: Bước qua bờ cách, Đường tơ chưa dứt* lại khẳng định thêm sự sáng tạo của một nhà văn trong cái nhìn từ nhà báo, không là tuyên truyền, thể như nhắc nhở có hạnh phúc ngày khải hoàn dẫu đã qua bốn mươi năm, đã phải đổi bằng sự hi sinh của lớp người đi trước. Tác giả đưa người đọc cảm nhận vẻ đẹp tình người chính là quy luật tất yếu xã hội, cần gắn kết nhau. Phải biết trân trọng và gìn giữ. Nhất là trách nhiệm của thế hệ tiếp nối hôm nay.
      Cú vẫn còn kêu là hình tượng đẹp trong văn học. Không cần giải thích. Bạn đọc đến với mỗi truyện ngắn của Trần Quang Khanh có thể sự lí giải khác nhau, nhưng chung quy người cầm bút hết lòng với nhân vật trong tác phẩm. Dẫu chỉ ít nhân vật là loài vật, anh vẫn dành hẳn tình yêu thương mình với nó. Huống chi là người. Cú vẫn còn kêu đánh thức cái nhìn lệch lạc trong sự định hướng về vấn đề xã hội và cuộc sống hôm nay./.
_______________                                                          10.02. 2016/ NTP.
*Tên các truyện ngắn trong tập