Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017

CỐT CÁCH TRÚC- Nguyễn Thị Phụng


CỐT CÁCH TRÚC-  Trích Hương thảo thất, Nguyễn Thị Phụng



Thuở bé biết trúc trong lời ru mẹ hát “Trúc xinh trúc mọc bờ ao/ Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh. Trúc xinh trúc mọc bên đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh”(Ca dao) rồi chập chững ra đến đầu làng để được tận mắt ngắm tự thân nảy mầm măng vươn lên mọc san sát thành bụi có gióng thẳng thuộc họ hàng tre, trảy, vầu, mai, nứa,… Người ta đưa trúc về nhà chăm chút cắt tỉa ngắm nghía cho thỏa mãn đôi mắt khát khao, người ta trồng trước ngõ ra vào trở thành nét đẹp thanh cao trong văn hóa phong thủy cho “Ngõ trúc quanh co…”(Nguyễn Khuyến) mềm mại che bóng nắng hè oi bức, thanh lọc không khí trong lành, tránh ngọn gió bấc đang đông sau buổi đồng áng trở về với tình làng nghĩa xóm, cái nhàn tản của bậc thanh liêm nhắc nhở: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…”(Nguyễn Bỉnh Khiêm) đâu chỉ đơn thuần lặp lại ở nghĩa thực “ăn, tắm” mà còn là sự tôi luyện thể chất, thanh lọc tâm hồn mình. Cái cơ nhỡ ẩn trong câu hát đờn ca tài tử giao lưu trước những năm bảy lăm ở miền Nam “Thân đui tối tháng ngày lần gậy trúc/ Phần cơ bần cô bác rộng lòng thương”(Đào Tụng Phi nhắc lại) giúp con người vượt qua tăm tối. Thì ra trúc luôn gắn bó với con người từ xưa nay. Nhắc đến trúc, tôi nhớ  đoạn cây trúc nằm thẳng đứng đặt trong hộp kính có tên “Bảo trúc” treo sát tường nơi từ đường Danh nhân Văn hóa Đào Tấn ­ở thôn Vinh Thạnh 2, xã Phước Lộc. Cây trúc dài gần 1.6m, trong đó tính luôn cả phần bịt hai đầu đều bằng đồng có kích thước ngang nhau là 12cm. Đường kính chân gốc 2.5cm, mắt nhặt càng lên cao gióng dài thẳng, đường kính trên cùng 1.5cm, phần bịt đồng phía trên có khắc đầu đề và bốn câu chữ Hán, được chú Đào Tụng Phi, cháu cố cụ Đào Tấn đọc cho tôi nghe:
VẠN THỌ
Nhất vật kì lai hữu nhất thân
Nhất thân hoàn hữu nhất càn khôn
Sinh tri vạn vật cấu ư ngã
Khẳng bả tam tài biệt lập căn
Chưa xác định hoàn cảnh bài thơ, có thể là lúc Đào Tấn đang công tác hay nghỉ hưu, qua đó gởi gắm sẻ chia về sự tồn tại trong mối quan hệ giữa Đất- Trời- Vạn vật. Có thể hiểu được ý trong từng câu: “Sống lâu. Mọi vật vốn tự thân có sẵn/ Mỗi thân đều trở về vũ trụ/ Sự sống vạn vật gắn kết ta/ Ắt bả tam tài(Đất- Trời- Vạn vật) khi đứng riêng”.
Vậy thì Đào Tấn mượn cây trúc làm cảnh, đây là giống trúc tước bởi nó sẵn có trong vườn nhà, cây trúc đã thành biểu tượng cốt cách vẻ đẹp bậc hiền tài. Trở lại bốn câu thơ trên không ghi thời gian và tên tác giả, đâu thể khẳng định là của Đào Tấn được. Đó là bốn câu thơ đầu trong bài Quan Dịch ngâm([1]), thể thất ngôn bát cú của Thiệu Khang Tiết (Thiệu Ung) đời Tống. Chỉ khác một từ so với nguyên bản ở đầu câu thứ tư: “Năng tri vạn vật bị ư ngã” còn trên cây trúc lại ghi: “Sinh tri vạn vật bị ư ngã”. Có thể ngày ấy, Cụ xem đó như là một phương châm sống, một thú say thơ các nhà hiền triết, tâm đắc quan niệm nhân sinh thiết yếu của con người trong bất kì hoàn cảnh nào phải ý thức duy trì việc bảo vệ tự nhiên môi trường, nếu không con người tự đào thải mình ra khỏi vũ trụ.
Nhớ kỉ niệm 100 năm ngày mất Đào Tấn, đó là hôm rằm tháng bảy năm 2007, Giáo sư Anh hùng Lao động Vũ Khiêu về tự đường họ Đào ở làng Vinh Thạnh thắp hương tưởng nhớ Cụ, phải chăng đã xúc động về cuộc đời và sự nghiệp bậc Danh nhân Văn hóa, hay là Vũ Khiêu đã đón nhận bốn câu thơ trên cây trúc, và ngay buổi ấy, ông đã lưu lại bút pháp hai câu văn đối đầy trân trọng:
Núi sông dồn cả tinh hoa lại
 Kim cổ bừng lên trí tuệ này
(26.8.2007/ Vũ Khiêu)
Ngược hơn trăm năm về trước, ngày Nguyễn Tất Thành trên đường vào Nam đã đến thăm Huyện đường của Cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Tây Sơn, và có ai biết người thanh niên ấy cũng đã từng đi trên con đường làng Vinh Thạnh vào thắp hương Đào Tấn, mang hoa viếng mộ Cụ trên núi Hoàng Mai. Không còn là tương truyền, bởi “... Tôi may mắn được sống nhiều năm với cụ Nguyễn Sinh Khiêm, trong nhiều câu chuyện hễ nói đến Đào Tấn, cụ Khiêm đều sùng kính khẳng định: Đào Tấn là một trong những ân nhân của gia đình Bác…Lúc đó cụ Đào Tấn ở Nam An, ông Sắc ở Thanh Hóa. Hai người con của Đào Tấn là Đào Thụy Thạch và Đào Nhữ Tuyên - đều là học trò ông Sắc đã đứng ra lo việc tang cho bà Loan thay ông Sắc và thân nhân ở xa. Hai người con của Đào Tấn đã đứng ra đi vay cỗ quan tài của một người quen đem đến cho vợ thầy mình. Ân tình ấy không phai mờ trong tâm cảm Sinh Cung. Lúc đó cậu mới 10 tuổi…”([2]).
Trở lại bài thơ “Vạn thọ” gắn liền với thân trúc của Đào Tấn ngày ấy và bây giờ vẫn mang giá trị niên viễn.
24.3.2015



[1] 观易吟
一物其来有一身
一身还有一乾坤
能知万物备於我
肯把三才别立根
天向一中分体用
人於心上起经纶
天人焉有两般
道不虚行只在人
邵雍

QUAN DỊCH NGÂM

Nhất vật kì lai hữu nhất thân,
Nhất thân hoàn hữu nhất kiền khôn.
Năng tri vạn vật bị ư ngã,
Khẳng bả tam tài biệt lập căn.
Thiên hướng nhất trung phân thể dụng,
Nhân ư tâm thượng khởi kinh luân.
Thiên nhân yên hữu lưỡng bàn nghĩa,
Đạo bất hư hành chỉ tại nhân.

Thiệu Ung




( Riêng ông Đào Đức Chương cháu cố họ Đào Tấn, đã dịch: Bài thơ khắc trên cây trúc Đào Tấn. Nguyên văn bản:

萬寿
一物其來有一身
一身還有一乾坤
生知萬物備於我
肯把三才別立根

Phiên âm:

VẠN THỌ
Nhất vật kỳ lai hữu nhứt thân
Nhứt thân hoàn hữu nhất kiền khôn.
Sanh tri vạn vật bị ư ngã
Khẳng bả tam tài biệt lập căn

Dịch xuôi: Vật này đến với ta tự nó đã có một thân/ Một thân mà có đủ cả trời đất/ Sống và biết rằng muôn vật cho ta đầy đủ/ Thì cứ cầm lấy nó là ta thâu gồm ba cõi mà nguyên chúng có từ những gốc gác gác riêng.
Dịch thơ:

SỐNG LÂU
Vật đến tự thân đã có rồi
Đất trời hội đủ một thân thôi.
Sống nhờ cung ứng từ muôn vật
Nắm gọn tam tài gốc khác nơi.

VIỆT THAO phụng dịch
(31- 10- 1994).
[2]Mối quan hệ giữa Đào Tấn và gia đình Bác của nhà văn Sơn Tùng.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

TÔI CÒN CHỈ CÓ MÙA THU - Thơ Nguyễn Thị Phụng

TÔI CÒN CHỈ CÓ MÙA THU*




Tôi còn chỉ có mùa thu
Lá vàng rơi rụng lời ru tháng ngày
Cuối trời mây trắng gió lay
Cánh bèo mặt nước vơi đầy tím trôi

Đường trần sao một mình tôi!
Bụi hồng chắn lối sương rơi canh dài
Nhạt nhòa chiếc áo hôm mai
Dấu chân bãi vắng biết ai mất còn

Tự tình sông biển đồi non
Có thương phận cỏ lối mòn từ đâu?!
Thẩn thờ ngõ trúc vườn cau
Bao nhiêu sắc cúc nhuốm màu thời gian

Bây giờ thấp thỏm thu sang
Cho tôi gởi chút ngổn ngang cuối chiều…
                              27.09.2009
_____________________

*Trích 

Nguyễn Thị Phụng EM VẼ TRÁI TIM MÌNH

NXB Văn học 2013.

Thứ Sáu, 1 tháng 9, 2017

NGOẠI CỦA NGÀY XƯA - Nguyễn Thị Phụng

      NGOẠI CỦA NGÀY XƯA- Trích Hương thảo thất

Cháu nội về thắp hương bà.

Anh xin mời em đi về quê ngoại một lần thôi. Nơi anh chào đời, ngoại ru ngọt bùi, bao năm vất vả mưa nắng ngược xuôi…”. Tiếng hát ngọt ngào ấm áp  trong tôi hình ảnh quê ngoại ruột rà thương nhớ quá! Mà tha thiết nhất vẫn là bà tôi.
Có lẽ bà cưng tôi nhất trong những đứa cháu ngoại, vì tôi là thằng út của má. Còn má là con gái út  ngoại nên tôi được thừa hưởng tình yêu thương người lớn trong gia đình dành cho mình. Tôi quý ngoại trước hết là bà cùng ông có công sinh dưỡng đến mười người con. Thuở ấy là chuyện bình thường. Các dì, các cậu là anh chị của má (theo cách gọi của người miền Nam) đều được ông bà chăm sóc dạy bảo nên ai cũng có công việc đàng hoàng. Vì vậy bà yên tâm lắm.
Ở độ tuổi như bây giờ, bà chỉ đi lại trông coi nhà cửa, vo gạo nấu nồi cơm điện để đấy, con cháu đi làm về chỉ việc kho cá hay nấu thêm nồi canh nữa là đủ bữa cơm gia đình chuyện trò vui vẻ cùng bà. Lưng có hơi còng một chút nhưng xem ra bà còn cứng cáp. Qua lần giải phẫu, mắt sáng hơn sau cặp kính trắng bà đã nhìn thấy được con cháu mình khôn ngoan khỏe mạnh. Niềm vui nở trên khuôn mặt bao nhiêu là nếp nhăn năm tháng đi qua, lại càng hỏm sâu hơn cái đồng tiền ngày xưa tươi tắn. Bà đâu còn chiếc răng nào nữa. Người ta nói sinh một con mòn một răng. Mà bà có đến năm cậu trai, năm dì gái thế kia. Bảo răng nào còn ở mãi với bà được!
Cuối năm khi cái rét không còn nữa, công việc vẫn bề bộn, tôi phải sắp xếp thời gian về thăm quê. Lúc thì hộp bánh kẹo, cái khăn choàng cổ, chiếc áo ấm,… món quà nào bà cũng xuýt xoa, trầm trồ. Có lúc bà bảo, bà có nhiều lắm rồi, mua nhiều phí lắm. Biết ý, tôi thường lì xì “tăng sức khỏe người già” nên bà vui thêm! Tôi thích cầm bàn tay bà gầy gò trỗ đồi mồi nhăn nheo ấy đã từng hết bồng bế con, rồi đến bế bồng cháu. Bà thích được con cháu quan tâm thăm hỏi sức khỏe như ăn uống, thuốc thang, áo quần, dày dép,… kể cả đầu tóc bạc vừa cắt gọn bà cũng khoe. Đôi lúc đứng trước gương ngắm bộ đồ mới may về, khen màu này hợp với tuổi bà, vải tốt, mặc bền. Còn nhắc chuyện ngày xưa thời kháng chiến thắt lưng buột bụng, thiếu vải may áo quần, phải tận dụng luôn cả khăn sô đội tang trên đầu, hay câu liễn câu đối phúng điếu người chết, đúng ba năm mãn tang chỉ xé đốt một chút rẻo nhỏ, còn giữ lại, ngâm cho ra hết màu mực, giặt sạch may áo mặc. Khổ như thế đấy! Đâu như bây giờ, vải nhiều lại đẹp, mà may cứ hở trên hở dưới lỡ bụi bặm gió máy bám vào thì khổ thân thôi.
Cách đây ba năm, sáng sớm thức dậy, bà đến ngay trước cửa nhìn ra ngoài sân nói sao mấy ông, mấy bà đến nhà tôi làm gì, đi đi. Rồi quay vào phòng ngủ gọi dì tôi bảo đem cái lò lửa ra ngoài chứ để đây nóng lắm, con hư quá làm cháy cả mùng mền của bà. Dì tôi ngạc nhiên trước những sự việc không có mà bà nói vậy. Má tôi cùng dì và cậu bàn nhau đưa bà đi bệnh viện tâm thần. Bác sĩ bảo gia đình đã kịp thời đưa bà đến điều trị, chứ để lâu tắt mạch thần kinh, thường nói bị lẫn ở tuổi già. Dì tôi vẫn là người con trực tiếp chăm sóc bà. Đúng tháng sau, bà khỏe, sáng suốt hơn nữa, nhớ hết chuyện từ những năm nào. Tôi nghĩ thuốc hay thầy giỏi, theo khoa học là tốt nhất! Yên tâm sức khỏe bà.
Và thế là tôi được nghe bà kể về ông cố ngoại tên là Lê Hàm làm nghề thuốc bắc, mà sao chỉ cho bà học nữ công gia chánh: nấu ăn, thêu thùa,… Hay sợ bà được học chữ rồi đi làm xa như ông cậu anh Lê Đình Thọ vào Nam làm địa chính, ông cậu em Lê Đình Ban ra Bắc, phó hiệu trưởng Đại học y Thái Bình, bà dì em Lê Thị Trúc cũng ra Bắc, rồi về là viện trưởng VKS Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cho đến ngày nghỉ hưu. Nói đến đây, im lặng hồi lâu, bà nghẹn ngào trong nước mắt: có bốn anh chị em, một người mất trong Nam, một người mất ngoài Bắc, một người mất ở Tây nguyên, còn bà… chắc nằm lại ở đồng bằng miền Trung quê mẹ đây rồi, bà nói ngày xưa bà hai (chị ruột bà sau khi sinh năm người con gái, còn ra đi sớm) cũng nằm lại quê nhà!...
Thấy tôi bùi ngùi… và bà kể tiếp. Còn bà năm mười tám tuổi, nhờ mai mối, bà lấy ông ngoại gia đình nhà nho ở bên cạnh cách hàng rào duối, là con cháu ông cử nhưng nghèo lắm. Tôi cắt ngang câu chuyện, hay ông với bà đã từng đưa mắt, hò hẹn lâu rồi. Ai cấm được tuổi trẻ yêu nhau hả bà. Bà bảo hồi đó không dám. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Ngẫm nghĩ một lúc, rồi cười nói tự nhiên: không biết là khổ hay sướng, có chồng phải có con. Cứ hai năm sinh một đứa. Bà như cái… máy đẻ không bằng, đàn bà ngày xưa khổ lắm cháu ơi! Đâu phải có kế hoạch như bây giờ chỉ sinh từ một đến hai con thôi. Được một chuyện ông thương bà lắm. Đẻ xong, ông kê toa hốt đúng một trăm thang thuốc bắc cho uống đúng một trăm ngày, sau đó bà mới ra chợ mua bán làm ăn. Tôi trầm trồ ông chu đáo quá! Chúng cháu bây giờ chắc phải học tập chăm sóc nhau như ông bà ngày trước. Được thể, bà tiếp tục. Lúc đầu mới về nhà ông, ngày đi làm, tối về thắp đèn dầu trong phòng riêng ông dạy bà học từng chữ cái, tập ráp vần xuôi vần ngược, tập viết, tập đọc. Có lúc mệt, bà lười, ông khuyên ráng học, còn kể gương học tập của ông nội(con gọi là ông cao tên là Nguyễn Táp) đỗ thứ 3/8 cử nhân khoa Ất Dậu(1885) Hàm Nghi thứ I trường thi Bình Định. Ông nhậm chức Giáo thụ, huấn đạo. Sau đó lại được hậu bổ tiếp làm tri huyện, cầm chiếu chỉ vua ban trên tay, chưa kịp đi, ông bị dịch tả rồi mất sớm lúc mới có ba chín tuổi. Bà bảo học giỏi như ông nội chết có tiếc không. Ông đưa tay che miệng bà: đừng nói dại, con người có số. Với lại ngày đó, không có thuốc thang là bao. Sau 1945, quê mình là làng kháng chiến, phong trào bình dân học vụ được mở rộng. Đêm đêm mọi người xách đèn dầu đi học. Bà vượt qua vòng kiểm tra trên đường đi trước khi vào chợ mua bán. Bạn bè lúc đó ai cũng ngạc nhiên. Cũng nhờ ông, bà ghi chép tính toán thu chi thông thạo, không mất mác đồng nào. Có vốn tích lũy, lấy đồng lời nuôi con ăn học.
Bà vuốt đầu tôi, vỗ vỗ vào vai bảo cháu có bạn gái chưa. Tôi dạ chưa ạ! Khó tìm quá bà ơi! Bà bảo khó thì đúng “Trước hồ sen sau lại hồ môn/ tìm giàu thì dễ tìm khôn khó tìm”. Cưới chồng lấy vợ là duyên là nợ, là chuyện trăm năm. Một phần do mình nữa cháu. Tôi dạ, bà nói ca dao hay quá, tôi lẩm nhẩm lại… tìm khôn khó tìm.
Nhớ lời nguyện, những sớm chiều vất vả lên dốc xuống đèo kiếm miếng cơm manh áo cho con. Năm tám mươi tuổi, bà ăn chay ngày rằm mùng một. Trong mâm cơm vui vẻ chuyện trò bà cũng nói bằng tục ngữ: ăn trông nồi ngồi trông hướng. Bàn chuyện giáo dục con cái bà đọc ngay: con khôn cha mẹ nào răn/ ngẫm trông trái bưởi ai lăn nó tròn. Hay bàn chuyện tu hành, bà nói câu ca dao rất nhân sinh: Tu chi cho uổng tóc mai/ không bằng em nhặt nhành gai giữa đường. Việc thiện, việc tốt phải làm. Cứu người, giúp người lúc cơ nhỡ, hoạn nạn là tự nguyện góp công góp của cháu ạ! Cháu có nhớ ông Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga không? Còn biết bao nhiêu “nhành gai” khác mà chúng ta cần nhặt hết. Nam nhi phải thế. Tôi cười, nếu cháu là nhi nữ thì có “nhặt gai” không bà? Câu ca dao đó cũng chính là dành riêng cho con gái đó cháu ơi! Đưa bạn gái về đây giới thiệu, bà ngoại sẽ đọc tiếp những câu tục ngữ, ca dao hay hơn nữa. Tôi ôm bà cười hè hè… Cháu sẽ “tìm khôn” về cho bà trong thời gian sớm nhất!...
Tôi kính yêu bà. Cả họ hàng con cháu, xóm làng đều kính nể, quý mến bà. Đã ngoài chín mươi tuổi, bà yêu thích ca dao, tục ngữ ngày xưa xưa lắm… Má tôi cũng đã học được lời bà dạy! Cảm ơn bà đã sinh ra má cháu! Cảm ơn má đã sinh ra con! Và những đứa con sau này tiếp tục cảm ơn người mẹ sinh ra mình.

28.04.2010



Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

CHỢ HUYỆN PHƯỚC LỘC- XƯA VÀ NAY.

              CHỢ HUYỆN PHƯỚC LỘC- XƯA VÀ NAY.

                     Chợ Huyện Phước Lộc phiên 21.5.2017(ÂL) Nhâm Thìn.
          
             Xưa: Chợ Huyện Phước Lộc đi vào đời sống nhân dân bằng những câu ca dao: “Chợ Huyện mình có sáu phiên/ Thương cô hàng xén kết duyên Châu Trần”.
            Cứ cách năm ngày là một phiên chợ. Chợ Huyện được ưu ái xếp vào các ngày mùng 1- mùng 6, 11- 16, 21- 26. Tính theo âm lịch. Để dễ nhớ các phiên chợ lân cận huyện Tuy Phước trước đây, bà con nhắc nhở nhau: Từ “Chợ Huyện liệng (lượn) Chợ Mới, tới Chợ Dinh, lính xính Cây Da, qua Bồ Đề rồi về phiên Huyện”.
         Chợ Huyện có tên tự lúc nào? – Từ 1909, nơi đây đã có phủ huyện, cũng từ đó có chợ mang tên Chợ Huyện. Như vậy, xét về yếu tố lịch sử văn hóa sinh hoạt giao thương thì Chợ Huyện là một di tích.
                Còn Chợ Huyện Phước Lộc của huyện Tuy Phước bây giờ thì sao?...
          Trước năm 1975 cho đến những năm tám mươi thế kỉ trước, Chợ Huyện Phước Lộc có diện tích hơn 1ha nằm trung tâm thôn Hanh Quang cửa chính đông quay ra hướng quốc lộ 19A. Nhưng không hiểu vì lí do gì, Chợ Huyện lại khép kín dần nhà ở của dân nên bị thu hẹp. Sau do nhu cầu mua bán, chợ Huyện đã chuyển vào phần đất gò bên trong rộng hơn. Nay cũng bị thu hẹp nữa, nằm trên trục đường bê-tông Hanh Quang- Trung Thành, cứ mỗi phiên chợ, là tắt lối đi lại.
         Để phân biệt các chợ Cầu Gành(thôn Phú Mỹ1), Quán Mối(thôn Đại Tín),Chợ Xổm(thôn Vinh Thạnh1),… tự phát, thì cách đây gần ba tháng biển “CHỢ HUYỆN- XÃ PHƯỚC LỘC” lại được mọc lên trên cùng một con đường có biển: Làng văn hóa thôn Hanh Quang, Phước Lộc.


             (Cổng chợ nằm trên trục đường bê-tông Hanh Quang- Trung Thành )      
        
           Xã Phước Lộc là đơn vị trọng điểm, là nơi có Đền thờ Danh nhân Văn hóa Đào Tấn, có Đình làng Vinh Thạnh, có Cổng Lý môn(1918),... Giáp Phước Lộc có quần thể “Tháp Bánh Ít đứng sít cầu Bà Gi/ Vào Nam ra Bắc ai cũng đi đường này”(Ca dao) thuận tiện cho du khách đến tham quan di tích lịch sử, thưởng thức đặc sản đã đi vào thơ ca “Bánh tráng Trung Thành,* nem Chợ Huyện, rượu Trường Thế* mê li”(Xuân Diệu).
         Thiết nghĩ: Có những thứ cổ phải duy trì trùng tu như tháp cổ, phố cổ. Có những thứ phải kịp thời làm mới mở rộng như đường sá, quy hoạch lại chợ búa. Vì cuộc sống văn minh. Mong rằng tương lai có một Chợ Huyện Phước Lộc đúng tầm tên gọi của nó trên trục quốc lộ chính phù hợp với nhu cầu giao thương hiện đại phồn thịnh, sầm uất, giới thiệu hàng hóa quê nhà sánh cùng chợ Diêu Trì, chợ Phước Sơn,… để Chợ Huyện Phước Lộc còn là điểm đến cho du khách phương xa.
                                       Phước Lộc,30/6/2017- Nguyễn Thị Phụng.
__________

*Trung Thành (xã Phước Lộc),*Trường Thế (xã Phước Hòa)

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

MƯA NẮNG TRƯỜNG SƠN- trích Hương thảo thất, Nguyễn Thị Phụng

MƯA NẮNG TRƯỜNG SƠN


Trường Sơn là dãy hành lang nằm phía tây giáp giới hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia, chạy dài từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ Việt Nam, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới nên có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Và nếu thời tiết có vô cùng khắc nghiệt “bên nắng đốt bên mưa quay” cả những năm tháng chiến tranh khốc liệt, thì tuyến đường Trường Sơn kể từ 19.5.1959 được thành lập mà Binh đoàn Trường Sơn có trách nhiệm thông suốt con đường ra trận cho việc vận chuyển cơ sở vật chất kĩ thuật cũng như đảm bảo cơ động lực lượng và đưa đón cán bộ vào ra cả ba chiến trường, các chiến sĩ ta đã quyết tâm vượt qua góp phần làm nên Mùa Xuân 75 thắng lợi.
Qua những khúc quân hành, thơ ca viết về Trường Sơn trong những năm tháng chiến tranh giàu ý chí và nghị lực của những thanh niên xung phong làm nhiệm vụ thông đường rộn ràng “chưa thấy mặt người đã nghe tiếng hát” cho đến xe các anh đã bị “bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” vẫn ung dung buồng lái kịp giờ ra trận chỉ cần trong xe có một trái tim. Chính trái tim biết sẻ chia những mất mát vô cùng lớn lao của miền Nam yêu thương, dẫu trong mưa nguồn xối xả, trong ngùn ngụt nắng hanh, nhưng mà điều khủng khiếp nhất vẫn là bom đạn kẻ thù chém ngang phát dọc đào khoét núi rừng, còn thêm vào đó chất bột da cam trắng nhợn hủy diệt mầm sống cỏ cây hoa lá, thì huống hồ chi nói đến con người ngày đêm bám trụ trên tuyến đường Trường Sơn đã thắp lên ngọn lửa của lòng yêu thương quả cảm, của ý chí kiên định trước sức ép đầy thủ đoạn của giặc ngoại xâm, Trường Sơn chính là nhân chứng cho biết bao con người đã đến, đã qua, đã nằm lại nơi đây…

Và mộ chí các anh chị đặt trên những ngọn đồi Bến Tắt thuộc xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị được mang tên Nghĩa trang Trường Sơn. Đứng nơi đầu nguồn bên dòng sông Bến Hải hôm nay mới cảm nhận hết bạt ngàn màu xanh núi rừng lộng gió, phía trước sân đài tưởng niệm xa kia là một hồ nước lớn bốn mùa không vơi, còn cả khu nghĩa trang được khoanh theo nhiều khu vực tên các vùng miền trên đất nước ta. Chúng tôi dừng lại lâu hơn thắp từng nén nhang để đọc kĩ họ tên các anh ở Bình Định như:
- Liệt sĩ Đinh Cứu, sinh năm 1924, chức vụ Thiếu tá, quê Cát Tài, Phù Cát, hi sinh ngày 31.1.1968.
- Liệt sĩ Trần Ngọc Xuân, sinh năm 1930, nhập ngũ 1946, chức vụ Thượng úy, quê Phước Quang, hi sinh 20.3.1973.
- Liệt sĩ Phạm Tiến Thắng, sinh năm 1921, nhập ngũ tháng 7. 1945, chức vụ Thiếu tá, quê Cát Hanh Phù Cát, hi sinh 20.3.1970.
- Liệt sĩ Nguyễn Tấn Thu, sinh năm 1927, Dân chính, quê Tam Quan, hi sinh 16.3.1969…
Cho đến những liệt sĩ không rõ họ, không rõ năm sinh, năm nhập ngũ như:
- Nguyễn Chí Hội, Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn, hi sinh 23.5.1971.
- Liệt sĩ: Cháu Nhân, Dân chính, Bình Định, hi sinh 2.2.1970…
Được nằm bên đồng đội quê Phú Yên, Nha Trang, Mỏ Cày, Bến Tre, Gò Công, hay quê Quảng Ngãi, Quảng Nam, hay quê ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nam Định, Hải Dương, Hà Nội,…

Hòa trong hương khói bên cạnh vẫn còn những bia mộ chỉ một màu trắng toát cũng nằm ngay ngắn nơi đây, thể như minh chứng rằng kẻ gây ra chiến tranh là mang tội ác tày trời. Dẫu biết “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi” cho một thời tuổi trẻ xông xáo bước quân hành theo tiếng gọi non sông, bảo vệ đất nước, để một mai trở về cát bụi lại không còn vẹn nguyên hình hài đến vậy!... Nhưng dẫu sao cũng là những chữ số biết nói để ghi danh và trân trọng là quý lắm rồi! Còn hàng ngàn liệt sĩ đã thầm lặng trong lòng đất mà hằng ngày được phát sóng trong Chương trình Đồng hành cùng Liệt sĩ, là nhịp cầu nối tri ân với những người đã hi sinh vì Tổ quốc nữa kia!

Chúng tôi thắp lại những nén nhang không chịu tàn trên mộ chí các anh có thể do gió bất mưa chan theo mùa Trường Sơn hùng vĩ. Thắp lại nén nhang là sự tiếp nối tri ân với người đi trước, chân dung một thời tuổi trẻ từ chị thanh niên xung phong, anh em dân chính, các chiến sĩ bộ đội chủ lực, … đã được tạc trên đá sừng sững đặt hai bên trên lối vào tượng đài tưởng niệm, như thể khắc sâu thêm hình ảnh thế hệ đi trước, là tấm gương anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống đấu tranh của dân tộc, đâu tiếc máu xương xông xáo lên đường chỉ vì một khát vọng Độc lập Tự do Thống nhất Tổ quốc Việt Nam. Với truyền thống đạo lí uống nước nhớ nguồn, thắp lại nén nhang để củng cố niềm tin là sự đánh thức nhịp đập trái tim Việt Nam độ lượng bao dung, dẫu nơi rừng sâu núi cao hay biên giới hải đảo thì con cháu hôm nay hãy trân trọng gìn giữ hình hài ông cha ta đã nằm lại trên quê hương yêu dấu này.
Tháng 7.2014


Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2017

Nguyễn Huy- Tập thơ “Vườn trưa” của Nguyễn Thượng Trí

Nguyễn Huy Tập thơ “Vườn trưa” của Nguyễn Thượng Trí
1/ Tôi quen với hai chị em Nguyễn Thị Trướng, Nguyễn Thị Phụng từ lâu. Cả hai là giáo viên hưu trí, nhà ở “ngõ Lý êm đềm” – gần nhà Đào Tấn, tôi thường đến chơi, nghe các cô đọc thơ, bàn chuyện thơ văn. Nguyễn Thị Phụng thì nói nhiều, sáng tác nhiều ( đã in 5 tập sách – thơ, tản văn), quen biết nhiều; Nguyễn Thượng Trí thì viết ít, nói ít, cứ cười cười vậy thôi, chứ đọc ra bài thơ nào là khiến người nghe giật mình bài nấy!
Vừa rồi cả hai cô đều in sách ( Nguyễn Thị Phung với tập Tạp văn và ghi chép “Hương thảo thất” và Nguyễn Thị Trướng có tập thơ “Vườn trưa” – Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và có gửi tặng tôi. Xin cảm ơn tấm lòng của hai nữ sỹ vùng đất Lý môn nổi tiếng với tên tuổi nhà thơ, nhà hát tuồng Đào Tấn.
Tôi bị bệnh và đang điều trị, sẽ rất mệt khi đọc nhiều, viết nhiều, suy nghĩ nhiều. Hai cô đến thăm, biết rồi đấy. Ở đây xin nói gọn vài ý về thơ Nguyễn Thượng Trí.
2/ Tập thơ “Vườn trưa” của Nguyễn Thượng Trí mỏng mảnh chưa đầy trăm trang với 52 bài đầy chất lượng. 
                         Gia đình Nhà văn Nguyễn Huy, phía sau là hai học trò.
Tôi thích giọng thơ bình dị, hồn thơ chân chất nhưng chứa đầy bản lĩnh của Nguyễn Thượng Trí. Lời thơ dịu dàng, hơi thơ nhẹ nhàng, ý tứ đơn giản mà sâu sắc thích hợp với tạng người dân dã như tôi. Chưa có điều kiện nói nhiều, tôi chỉ nói riêng một bài thơ mới đọc qua đã thấy thích.
Chỉ ngần ấy thôi
“Chỉ ngần ấy thôi”
Anh không thể và em cũng không thể
Đến với nhau như khi bất chợt lần đầu gặp gỡ
Cùng quyện ánh mắt trong cuộn tơ thời gian
nóng bỏng
Trái tim băng giá cựa quậy…
Trong đôi môi cảm nhận niềm hạnh phúc
vô biên lan tỏa
Giá mà trái đất ngừng quay
Thời gian vỗ cánh
Chúng mình tan trong vô tận
Nhưng sự thật mặt trời, mặt trăng cón đó
Anh còn đó
Em còn đó
Mọi người còn đó
.
“Chỉ ngần ấy thôi”
Với em là cả cuộc đời rồi!

Lấy ý từ câu Kiều “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”, nhưng khác với ý Kiều. Đối với Kiều, đó là tiếng kêu bi thiết của phận bạc, là sự tuyệt vọng khi đành phải trao duyên, nhưng với chủ thể trữ tình trong bài thơ này, là sự chấp nhận duyên phận dù không thỏa nguyện. . Nguyễn Thượng Trí rất tinh khi mượn lời Kiều (có) để nói về ý mình (chỉ).
Dù tình yêu giữa anh và em rất “nóng bỏng”:
Trong đôi môi cảm nhận niềm hạnh phúc
vô biên lan tỏa
Giá mà trái đất ngừng quay
Thời gian vỗ cánh
Chúng mình tan trong vô tận
Anh là “đàn ông năm bảy lá gan”, nhưng em là con nhà khuê các, còn gia đình đó, xã hội đó, mà dư luận thì nghiệt ngã lắm!
Nhưng sự thật mặt trời, mặt trăng cón đó
Anh còn đó
Em còn đó
Mọi người còn đó
.
“Chỉ ngần ấy thôi”
Với em là cả cuộc đời rồi!


Một suy nghĩ chín chắn, một quyết định sáng suốt. Đúng là “Thượng trí”.
Tôi quý Nguyễn Thượng Trí không chỉ vì cái tài, cái nết, mà còn ở tầm cao của tư duy đời thường, sống rất tình nghĩa, thủy chung, chừng mực mà vẫn đủ đầy. Đó là bản lĩnh của cô giáo, nhà thơ Nguyễn Thượng Trí!