Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

CÁI TÌNH CŨNG HỌC, tr.ngắn Nguyễn Thị Phụng


CÁI TÌNH CŨNG HỌC. (trích Nơi tình yêu giữ lại). 

       Người ta thường bảo “Một con sâu làm rầu nồi canh”. Nhưng tôi nào phải con sâu đâu. Đương nhiên được bạn bè gọi tôi là thầy, chính thức là nhà giáo kể từ khi tôi tốt nghiệp đại học sư phạm ra trường. Những đứa con tôi chẳng bao giờ thích đọc truyện ngắn hay thơ văn như tôi từ thuở bé. Tôi bảo thơ văn làm cho đời sống con người phong phú. Các con tôi cười bố già còn rảnh lắm. Dù có rảnh hay bận rộn công việc tôi vẫn là người vừa có tên vừa có tuổi. Cái tuổi Nhâm Thìn lúc mới sinh ra, cả gia đình dòng họ luôn ưu ái cho cái chức Trưởng nam, nhưng thực sự tôi là đứa con út trong gia đình.Chưa đến tuổi đi mẫu giáo, chưa biết đọc biết viết, tôi thực hành thành thạo những bài toán về phép so sánh khi mẹ chia quà. Nhưng có một điều tôi hay bắt phần nhiều hơn, lớn hơn. Còn ba chị gái tôi cứ lườm lườm tôi khi mẹ nói nhường em phần hơn vì các con lớn tuổi hơn đã ăn nhiều rồi. Tôi nhớ khi cha tôi đi ăn giỗ về  mở gói quà ra có năm cái bánh ít. Phần tôi được hai.Các chị tôi ý kiến cha mẹ chẳng công bằng.Nhỏ tuổi cái dạ dày cũng nhỏ thì ăn ít hơn. Tôi cãi lại nhỏ thì ăn nhiều để cho mau lớn bằng các chị chớ!...Phép chia đã hình thành trong tuổi thơ tôi kể từ khi tôi có cảm giác ngon miệng và no bụng mình.

        Biết tôi là nhà giáo, ăn nói lưu loát ai cũng nghĩ hồi nhỏ học giỏi văn lắm. Nhưng thực ra tôi lại giỏi toán.Thang điểm hồi đó ở miền Nam tính 20/ 20 chứ không phải 10/10 như bây giờ. Cứ 18/20 hay 19/ 20 chưa  bao giờ có được 20/ 20 vì cái tội không nháp trước rồi mới chép lại vào tờ giấy kiểm tra. Còn thằng nhỏ bạn ngồi bên chỉ việc đưa mắt chép lại nên bài nó sạch sẽ.Có lúc cô Nhân dạy toán còn bảo tôi không được xem bài bạn, bởi tôi hay nhìn chừng Nó chép tới đâu rồi. Tháng sau cô tách tôi và Nó ra, điểm toán của Nó chỉ còn 4/20, còn cô giáo ngạc nhiên thằng Nhâm Thìn này giỏi toán nhất lớp. Ngược lại, điểm làm văn tối đa của tôi cũng chỉ được 6/20.Tôi lại tiếp tục hợp đồng với thằng Nọ giỏi văn ngồi bàn trên.Lần đầu tiên tôi với Nọ đã không những bị điểm 1/20 mà bị cảnh cáo trước lớp bài viết giống nhau từ cách mở bài, thân bài và kết bài.
         Đậu xong tú tài toàn (bây giờ là tốt nghiệp lớp mười hai) tôi thi vào đại học Sư phạm Sài Gòn vừa gần nhà đỡ tốn kém trong chuyện đi lại hay thuê phòng trọ. Lớp toán của tôi duy nhất có được mười lăm nữ và ba mươi lăm nam. Con gái đã học giỏi toán lại đẹp nữa, thằng nào cũng phục sát đất, mỗi thằng đều nghĩ làm cách nào để chiếm được trái tim các kiều chân dài, tha hồ thả tình theo gió bay hôn lên tóc, lên mắt, lên môi, đọng lại cái lúm đồng tiền, dán chặt vào cái răng khểnh. Mà gió cứ trượt dài lên đỉnh núi mây ngàn nào kia, sao gió không bám theo sau những gót chân son tròn trịa ấy. Tôi học tập thả tình theo những trang tiểu thuyết và bắt đầu làm thơ. Quả là làm thơ rất khó, gần nửa năm học mới có được một tứ thơ. Chiều về nhà, thấy mẹ đứng chờ ở cổng:
        - Nay con trai mẹ về sớm!
        - Dạ.
      Rồi mẹ len lén nhìn vào nhà như sợ ba tôi nghe thấy, ghé sát tai tôi “ Con bị chép phạt hả?!” Tôi lớn tiếng:
        - Mẹ bảo chép phạt cái gì, con không hiểu!
        - Lại giấu mẹ nữa, lúc trưa mẹ lau nhà thấy có mấy tờ giấy rơi xuống đất, mẹ nhặt lên cho con. Toàn là thơ bốn câu giống nhau, không phải chép phạt là gì! Con trai ơi, cả đời mẹ cho con ăn học là mong con bằng bạn bằng bè, ai lại vào đại học cũng còn chép phạt như hồi học ở  tiểu học, phổ thông vậy con!...
       - Không phải đâu, con thấy thơ hay chép cho thuộc đó mà.
       Tôi trấn an mẹ, nhưng thực ra mục đích là thả hồn thơ của tôi vào các nàng cũng ưng ý: “ Trăng vàng ngả bóng ngoài hiên/ Thương em khác họ tơ duyên mặn nồng/ Hè xanh phượng thắm má hồng/ Em ơi thấu hiểu anh trồng cây si…” và ghi bút hiệu bên dưới: Mặt Trời Xanh. Để tránh sự đụng độ nhầm lẫn một em có thể nhận hai bài thơ giống nhau, tôi đánh dấu ghi tên và trình tự hẹn gặp khác giờ gieo thơ cho nàng. Đến tờ giấy thứ mười lăm, Ngọc Sương nhõng nhẽo chỉ có thơ không thì em… còn khát nước, đói bụng lắm! Tôi được dịp là gã đàn ông biết ga-lăng, cuối tuần mời em sinh tố và phở nữa đấy. Nhưng hôm đó tôi phải trả đến cùng một lúc mười lăm tô phở, mười lăm li chè đậu xanh nước dừa cho mười lăm nàng đã lén thông báo phá hoại túi tiền của tôi tích lũy mấy tháng trời!... Tôi định xuất chiêu bài “Chuồn” nhưng như thế thì…còn đến ba năm học nữa mà chí làm trai dặm ngàn da ngựa như vậy chỉ có chờ đất nứt chui xuống là xong! Bài học dại gái làm sao bắt thang lên hỏi ông trời được, cũng đâu dám sẻ chia cùng ai!... Tôi đành mượn văn xuôi bày tỏ hết cảm xúc của mình. Nhưng chỉ là những dòng nhật kí, viết đọc rồi xé bỏ vào giỏ rác.

          Thế mà đã bốn năm, tôi ra trường về công tác ở một trường trung học ngoại ô Sài Gòn. Hằng tuần mới về nhà một lần, căn nhà trọ tôi ở gần trường, các nữ sinh được dịp ra vào nhờ tôi chỉ toán. Còn mấy cô đồng nghiệp xinh xắn dịu dàng cứ ngấp nghé xếp hàng trước nhà, tôi nào chọn một ai! Người mà tôi để ý là cô Nhung bán cơm bình dân luôn dành cho tôi những đĩa cơm thơm nóng sốt dẽo đầy ắp ấm no cả cái dạ dày. Cô chào tôi đâu chỉ ánh mắt mà còn với nụ cười lộ cả hàm răng hột lựu trắng đều đặn lắm. Năm năm ăn cơm bình dân đi dạy, tôi dành dụm được một số tiền đem về cho mẹ cất giữ, tôi trích riêng ra một khoảng mua nữ trang áo quần cho Nhung và đây chính là lễ cưới của tôi với cô quán cơm có mái tóc dài đen mượt. Ở với nhau chưa được năm năm, nàng đành chia tay tôi vì bệnh viêm gan, để cho tôi hai đứa con gái nhỏ lắm. Tôi phải gởi các cháu về nhà nội chăm sóc.
         Người vợ thứ hai là một trong những cô đồng nghiệp nhởn nhơ tung tăng xếp hàng ngày nào trước căn nhà trọ của tôi. Khác với Nhung, trước khi cưới nàng bắt tôi phải làm hợp đồng viết thành văn bản hẳn hoi. Không ngờ tôi lại là người mắc lừa. Có lẽ nàng quyết trả thù tôi khi trước đây không cưới nàng mà cưới cô Nhung bán cơm, để nàng phải muộn màng đến năm sáu năm trời. Khi nàng đi chợ nấu ăn, ở nhà tôi phải xách nước chẻ củi. Lúc nàng rửa chén bát xoong nồi thì tôi phải lau nhà giặt giũ áo quần. Khi nàng có thai thì trăm việc không danh sách tôi phải hoàn thành từ A đến Z. Nàng bảo phước đức ba đời tôi khỏi mất trăm triệu đồng để thụ tinh nhân tạo, khỏi phải hầu hạ nàng ăn nằm chín tháng mười ngày. Nàng chúc mừng tôi là quá hạnh phúc khỏi tốn công tốn của lại được cậu con trai kháu khỉnh giống bố như đúc. Được thằng con trai giống mình tôi cứ mừng thầm đâu dám nói ra vì sợ nàng còn xuất nhiều chiêu độc đáo khác, tôi chỉ có thẳng chân mà chạy!... Nhớ nhất lúc nàng còn mang bầu chia phần thức ăn làm tôi ngạc nhiên. Vừa lãnh lương xong, tôi ghé quán mua về mười chiếc nem chua, nàng phát cho hai đứa con gái tôi là bốn chiếc, phần tôi được hai chiếc, còn bốn chiếc là của nàng. Tôi ức lắm:
       - Làm giáo viên dạy toán như em chỉ chết học sinh, bài toán chia tiểu học cũng không rành!
       - Anh nói sao?! Tính ra tôi cũng có hai chiếc như con gái anh thôi, còn hai chiếc là cho thằng con anh trong bụng của tôi. Tổng cộng anh và con trai con gái của anh tất thảy là tám chiếc, chính xác trăm phần trăm, anh còn đòi hỏi gì nữa!
       - Thì ra…em công bằng hơn mẹ anh ngày nào!
       Được dịp nàng nhanh nhảu bảo hậu sinh khả úy, thời đại này sống mà không bình đẳng nhau dễ bị chiến tranh lạnh từ trong cảm xúc tâm hồn mỗi người, sau đó đến chiến tranh chân tay, căng thẳng lắm là cây gậy dao rựa, quá tầm sức hơn thua thắng bại là súng ống đạn bom, từ phạm vi gia đình, rồi đến làng xã, huyện tỉnh,… Ra xa nữa đến các nước láng giềng, châu lục. Tất cả vì nhu cầu cuộc sống. Tính ra cái ăn cái mặc có trước, cái học cái nghĩ có sau, có thực mới vực được đạo, nào là ăn vóc học hay. Ôi thôi trước lập luận của nàng tôi đành im lặng cho yên cửa yên nhà. Nàng biến tôi thành người chồng “đảm đang” từ lúc buộc tôi thực hiện bản hợp đồng chồng vợ “bình đẳng”, nếu không thì nàng chia tay không luyến tiếc!

         Tôi cứ trăn trở khi tuổi già khó ngủ, thương số phần ngắn ngủi của Nhung quá! Ở tuổi gần sáu mươi tôi nào được thảnh thơi. Hết giờ lên lớp về nhà chẳng rảnh tay. Tính ra gần bốn mươi năm ra trường đứng trên bục giảng, chưa một lần về thăm quê ngoại. Nơi đó mẹ tôi đã sinh ra tôi, ông bà ngoại đã mất từ lâu lắm rồi, mẹ theo cha về thành phố lập nghiệp và ở đây luôn. Cả thời gian dài tôi được mất những gì, đó là những người bạn dần dần xa tôi mãi. Chỉ ba đứa con lại ít khi trò chuyện được vì chúng bận công việc suốt ngày. Còn nàng chỉ dành thời gian làm gia sư lấy thêm tiền tích lũy. Tôi thấy cuộc sống ở thành phố hối hả ồn ào náo nhiệt quá. Một chuyến thăm quê, thăm lại những người bạn từ thời tiểu học. Tôi còn ngần ngại chần chừ chưa dám bước chân vào cổng làng. Cái cổng làng đã gần trăm năm kiên nhẫn ghi nhận người vào người ra. Mặc cho gió mưa buốt lạnh, nắng cháy rát bỏng, cổng làng quê tôi cứ bền bĩ chịu đựng tháng năm. Tôi đưa tay sờ lên trụ cổng thuở nào sao trái tim mình hồi hộp đến thế, tôi giật mình quay sang khi tiếng người phía sau vọng lại:
       - Bác về thăm làng hay tìm gặp người quen!
       - Ồ, chào cháu! Cháu có biết nhà ông bà Lâm ở chỗ nào không đấy!
       - Dạ, làng cháu có nhiều Lâm lắm.
       Thấy cậu bé thân thiện, mến khách, còn tôi chỉ biết có một Lâm. Mà Lâm con trai ông Cả trong họ nay cũng bằng tuổi tôi, nghe nói chỉ quanh quẩn trong làng, làm ruộng và chăn nuôi thôi. Với lại tính tò mò:
       - Cháu có thể cho bác biết những người tên Lâm có đặc điểm gì không nào!
       - Bác là công an?
       - Bác là nhà giáo nghỉ hưu.
      Như chừng sợ tôi đứng lâu dưới trưa mùa hè bị cảm nắng và mỏi chân, cậu bé mời tôi đến ghế đá dưới gốc cây bàng, nhìn tôi như thăm dò rồi cho biết: Làng mình có ba Lâm. Lâm ở xóm Nam có hai con trai đều ở Mỹ, thuộc diện giàu có nhất làng mà ki bo hết cỡ. Các bà bảo khó lừa được ông ấy lấy một xu. Ra quán ngồi ăn mà còn mặc cả. Mua trái cốc trái ổi của người bán hàng rong cho cháu cũng lựa trái nhỏ được nhiều mà lại rẻ tiền. Người làng gọi ông ấy là Lâm keo.  Còn ông Lâm ở xóm Tây gần bờ sông phía xa kia, cậu bé vừa nói vừa chỉ tay ra phía đó, đúng là Lâm tặc, ông ấy mới ở Kim Sơn* về vì tội phá rừng đầu nguồn. Nhưng chứng nào tật nấy, về quê được ba tháng thì hàng cây bạch đàn trồng ở đầu làng kia chưa đến tuổi lấy gỗ, cứ bị mất dần, bác Sáu trưởng thôn cho người canh chừng bắt quả tang ông đang “thu hoạch” trộm, cuộc họp thôn cuối tháng cảnh cáo và buộc phải nộp lại số tiềnđã bán và trồng lại số cây đã chặt. Chỉ có ông Lâm tử kinh cuối xóm thì sống thanh cao nhất. Tôi hồ hởi:
       - Sao gọi là Lâm tử kinh vậy cháu?
       - Vì nhà ông trồng nhiều hoa tử kinh nên ai cũng gọi là Lâm tử kinh, chứ không phải họ Lâm đâu bác ạ!
       - Ông Lâm tử kinh có làm ruộng không cháu?
       - Có ạ!
       - Thế cháu có biết vì sao ông Lâm làm ruộng không gọi là Lâm ruộng lúa, Lâm trồng trọt mà lại gọi là Lâm tử kinh?
       Cậu bé như được dịp kể một mạch về cuộc đời ông Lâm tử kinh. Lúc nhỏ cha mẹ mất sớm, ông Cả để lại một gia tài đồ sộ. Hai người anh là Sơn và Hải lười lao động, lại chẳng chịu học hành. Đồ đạc trong nhà không cánh trình tự bay xa, người em út là ông Lâm tử kinh bây giờ đâu ngăn cản được hai người anh của mình khi họ quyết định bán nốt cây tử kinh còn lại trong sân vườn. Hôm sau người mua đến đào gốc cây mang về nhà, nhưng thật kì lạ, cây tử kinh bị héo. Hai người anh tức giận định lấy rựa phát ngay làm củi, người em út hốt hoảng xin anh đừng làm như vậy. Cây cũng có hồn như người, cũng biết quyến luyến gắn bó với con người, với những kỉ niệm xưa nay. Có lẽ tử kinh buồn không muốn xa ba anh em mình. Bởi cây tử kinh này đã được ông cố mình trồng gần trăm năm rồi, anh có thấy cái gốc của nó to gần bằng cột nhà. Cây hoa còn mừng ngày “đăng khoa” nở rộ vào mùa hè lúc ông nội của anh em mình đỗ cử nhân năm ấy. Anh có nhớ hồi còn sống ba đã kể rồi sao! Bây giờ ta thử cầu nguyện và gìn giữ  cây tử kinh này, tiếp tục chặt nhánh dăm trồng xung quanh hàng rào trước sân nhà cho đẹp, hai anh thấy thế nào. Các anh không tin, nhưng nghe em út của mình bày tỏ thiện ý về cây hoa tử kinh. Họ cùng người em chăm sóc. Quả thật ngày hôm sau cây trở lại tươi tốt, những nụ hoa bắt đầu mở cánh mỏng manh như ren áo màu hồng tím nhạt dịu dàng trong gió hè. Ông Lâm tử kinh còn đọc cho cháu nghe “Kinh thọ hữu ba huynh đệ lạc/  Nghiên điền vô thuế tử tôn canh”. Cậu bé như tâm đắc với hai câu chữ Hán đã thuộc lòng, nheo nheo đôi mắt:
         - Bác có biết câu chữ Hán đó là của ai không!
        Tôi giật mình nhưng lấy lại bình tĩnh:
        - Bác là giáo viên dạy toán nên đâu biết của ai!
        - Thế mà ông Lâm tử kinh không dạy toán, chỉ làm ruộng mà bảo cháu đó là cụ Đào Tấn trước đây thường dùng. Cụ Đào Tấn là một danh nhân văn hóa của làng mình. Ông Lâm tử kinh là con cháu của Cụ Đào Tấn. Ông Lâm còn giải thích cho cháu biết ý hễ khi cây Tử kinh ra hoa là gia đình hòa thuận, anh em vui vẻ; Con cháu biết canh tác trên ruộng nghiên(mực) thì không phải đóng thuế. Cháu nghe sao nói vậy. Bác muốn biết thêm thì tra sách tham khảo, mở Google trên internet nữa. Tôi như người học trò ngồi nghe thầy dạy. Kiến thức văn học làng quê mẹ phong phú quá, cậu bé chưa được mười lăm tuổi cũng là một thư viện nhỏ rồi.

         Cửa chính và cổng ngõ nhà ông Lâm tử kinh theo hướng đông nam, trời về chiều gió nồm lên mát rượi. Được biết tôi là người cùng họ nên ông Lâm tử kinh quý lắm, sai người nhà mổ gà thếch đãi. Gà nuôi trong vườn  ngọt thịt quá, tôi được thể gặm cho hết đến cái chân thứ hai của con gà rồi đứng lên chia tay, sợ trễ chuyến tàu đêm không thể ở lại được. Tôi liếc qua rồi liếc lại đếm tất cả là mười một lon bia, nhẩm mỗi lon là chín ngàn, vị chi là chín mươi chín ngàn đồng. Tôi cảm ơn tấm lòng quý tình nghĩa họ hàng xưa nay luôn được ngợi ca trân trọng. Tôi mở ví đặt xuống chiếu là bốn mươi chín ngàn năm trăm đồng. Ông Lâm tử kinh mở to đôi mắt:
         - Tiền gì vậy anh?!...
         - Phụ thêm cho anhmón nước cay cay đắng đắng cụng li với nhauđó mà!
         - Trời đất, ai bảo anh làm vậy? Thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi mới thấy anh là người lạ nhất thế gian. Anh đã về với quê hương tìm đến thăm nhà, chẳng lẽ cả đời tôi không mời anh được lon bia hay sao, anh làm vậy là khinh thường tôi đấy, anh cất ngay vào túi đi! - Ông Lâm tử kinh giận tím cả mặt.
         - Không phải, cái thói quen của người thành phố, sài theo kiểu Tâyấy mà!Tôi dõng dạc khoe mẽ về hiểu biết của mình.
          Ông Lâm tử kinhgiận tím mặt định nói nếu như hôm sau có về, anh cố gắng xài kiểu Đông đẹp hơn một chút, chẳng hạn anh mua cả thùng bia về đây, còn tôi lại tiếp tục làm con gà luộc lên rồi xé ra trộn với hành tây, rau răm, bỏ ít muối tiêu cho vừa miệng như bữa nay thì anh khỏi ngại, chứ anh chỉ trả tiền bia còn tiền thịt gà ăn quỵt của tôi à!..., nhưng kịphạ giọng:
         - Thế thì cảm ơn anh, có lẽ tôi chưa học được cách sài theo kiểu ấy như anh. Anh có thể dùng cái kiểu ấy ở nơi khác đi, càng xa quê mình càng tốt. Và nhân tiện đây muốn thưa với anh một chuyện, là giữa tháng mười hai tới, gia đình chạp mả, tế hiệp ông bà, anh cũng là người trong họ không xa, tính ra mới có ba đời, nhớ sắp xếp đưa cả vợ con về còn nhận họ hàng với nhau. Cứ yên tâm về, lúa gạo một năm hai vụ thì có sẵn đầy kho, của biển có cá tươi muối trắng thì tôi dự trữ đủ cả tháng cho gia đình anh về mà dùng, cứ nhọc nhằn toan tính chuyện ăn uống là dễ mất đi cái tình nhà, tình quê lắm. Còn chuyện hôm nay thì xóa, anh đừng áy náy nữa mà anh em càng ngày càng xa đi mất! Anh nhớ cho lời gan ruột của tôi…
         Không như lúc ngồi trên tàu về quê, tôi bị đánh thức từ tiếng loa phóng thanh của nhân viên tàu S1: … Tàu sắp vào ga Diêu Trì, quý khách nào xuống sân ga nhớ chuẩn bị hành lí, tàu chỉ dừng lại mười phút… Giờ đây, chiếc tàu cứ xình xịchtrở lại chặng đường dài bằng sáu trăm cây số đã đi, mà không thể nào chợp mắt, bởi “Còn chuyện hôm nay thì xóa, anh đừng áy náy nữa mà anh em càng ngày càng xa đi mất! Anh nhớ cho lời gan ruột của tôi…” của ông Lâm tử kinh lúc chia tay căn dặn, cứ đọng lại trong tai tôi sao khó xóa quá. Giá như lúc ở nhà ông Lâm tử kinh, ngoài số bia đã dùng ra,cứ rành mạch tính thêm cho hết các khoản lớn như gà, gạo, cho đến mắm muối, rau hành, chanh ớt, tỏi tiêu,… kể cả lửa củi, công cán và hao mòn chén bát nữa,… rồi chia hai thì giờ này có lẽ ông nhẹ lòng hơn, khỏi phải nặng nợ đồng tiền. Ông từng nghe nói đồng tiền đi liền khúc ruột. Mà nếu vậy thì đến khi nào mình trở lại quê. Người họ hàng nhà mình ở quê với mảnh vườn rau, cây xanh rợp bóng, có lẽ tâm hồn khoáng đạt hơn chăng. Quê mẹ của tôi chỉ đổi thay là thay đổi những ngôi nhà ngói mới cao hơn, rào giậu ngăn nắp hơn, con đường bê tông vào làng sạch sẽ hơn, nếu mẹ còn… bà hạnh phúc biết bao nhiêu! Tôi nhớ mẹ. Nếu như trước đây tôi biết theo mẹ về quê sớm hơn, để bây giờ có muộn không!Bởi bụi phố phường cứ cuốn hút tôi như một vòng quay cho cái ăn, cái mặc,… những toan tính thấp hèn, những lo sợ thiệt thòi trong tôi còn nhiều quá. Tôi phải quyết tâm trở lại làng, phải có cả vợ con mình nữa cùng học cách “xóa” ấy, để còn giữ lạiruột rà gốc gác quê hương bấy lâu đã cất kĩ rồi. Đến lúc phải đem ra khai thác, bởi cái tình cũng phải học./.
                                              03.5.2012
________________
*Tên trại giam ở Bình Định.


Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

KHÚC CUA, truyện mini- Nguyễn Thị Phụng


KHÚC CUA

        Phía trong hàng rào lưới B40, người đàn bà mở vòi nước tưới mấy chậu hoa sống đời. Mùa hè mà.
        Phía ngoài hàng rào, hai chiếc xe đạp nối nhau. Thằng ngồi phía sau yên chiếc xe đạp thứ nhất nói con đó hả, để tao cho nó có bầu, cho nó biết. Chiếc xe đạp thứ hai tiếp lời: tinh trùng chưa đến tuổi dậy thì làm gì có con.
       Người đàn bà ngước lên, nhìn ra góc vườn thấy mấy đứa nhỏ vun vút đạp xe rẽ trái, tay lái tay thả. Thì ra… mới đó mà chúng nó đi học thêm!...
                                                    02.06.2018/ NTP

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

VẺ ĐẸP TÌNH NGƯỜI (Đọc “Một ngày cho trăm năm” tiểu thuyết Nguyễn Bá Trình)


31. VẺ ĐẸP TÌNH NGƯỜI - Nguyễn Thị Phụng*
(Đọc “Một ngày cho trăm năm” tiểu thuyết Nguyễn Bá Trình)

         Tôi nào hối hả theo kim đồng hồ treo tường kia mà vẫn cố song hành cùng thời gian để lần hồi gần bảy trăm trang tiểu thuyết “Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình(NXB Văn học, 2010) tìm ra kết thúc câu chuyện đầy hấp dẫn trong từng giai đoạn phát triển xã hội từ những năm 75 đến những năm 95 của thế kỉ trước.
        Theo diễn biến câu chuyện “Một ngày cho trăm năm”, Nguyễn Bá Trình đã dày công xây dựng làm nên tính cách nhân vật, đi sâu vào mọi ngõ ngách đời sống con người. Với cách kể linh hoạt có sức thu hút người đọc là nhờ khả năng miêu tả nhiều chiều, nhiều mối quan hệ ràng buột với nhau từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Đọc tiểu thuyết của anh ta không chỉ tìm ra lời giải đáp đầy ý nghĩa sâu sắc về tính nhân văn cao đẹp giữa con người biết xích lại gần nhau để yêu thương và chia sẻ, mà còn học ở mỗi tính cách nhân vật có những phẩm chất đáng ngợi ca và trân trọng. Xét cho cùng thì tình yêu là vĩnh cửu luôn ngự trị trong trái tim con người.


       Đó là vẻ đẹp Hồng Liên đoan trang chính chắn của một phụ nữ đã có chồng, có con. Dù trong hoàn cảnh nào chị cũng hết sức bình tĩnh, cần mẫn, xông xáo, thiết thực với đời sống hiện tại cho cuộc mưu sinh của một gia đình bé nhỏ thiếu đôi tay người đàn ông. Nhưng với sức chịu đựng mòn mỏi đợi chờ khát khao tình chồng vợ, không sao cưỡng lại nổi. Nếu không có sự giúp đỡ về mặt tinh thần của Tuấn, người bạn từ thời học sinh, hay là tình mẫu tử thiêng liêng liệu chị có vượt lên được chính mình. Hay là từ phương pháp điều trị của bệnh viện tâm thần đã phục hồi cảm xúc yêu thương của một con người. Hay có phải là những ngày tháng lang thang vô định đã làm nên mầm mống cho thai nhi ngày càng lớn lên trong bụng chị. Và chính điều đó xảy ra là nguyên nhân căn bệnh tội ác những kẻ thiếu văn hóa, thiếu tình người gieo họa, mà chị lại là nạn nhân trực tiếp gánh nhận. Và giả như, Nghi- chồng chị kịp thời trở về với vợ con, với gia đình thì lại có một hướng đi khác trong câu chuyện rồi! Khép lại cuộc đời Hồng Liên ở độ tuổi chưa được 45, nhưng chị đã sống trọn vẹn cho mình, cho con và cho gia đình như thế đã đủ chưa. Có lẽ hạnh phúc đong đầy: “ Hồng Liên nhận ra trong không gian bao la vẫn có những khoảng trống dành riêng cho nàng. Ở đó nàng vẫn ngắm được những áng mây trời đẹp đẽ trôi qua, những tia nắng ấm mơn man và những làn sóng dịu dàng vuốt ve lên cơ thể. Trước đó Hồng Liên nghĩ mình phải sống trong thế giới của người khác, nhưng giờ thì nàng thấy mình đang được sống trong thế giới của riêng mình. Những lúc công việc ở trại từ thiện rảnh rang, nàng đọc đi đọc lại bộ tiểu thuyết Tình yêu của một nữ tác giả nước ngoài nổi tiếng để học tập sự can đảm nỗ lực đương đầu với một căn bệnh vô phương cứu chữa. Hồng Liên cũng tìm đọc những mẫu chuyện về những tấm lòng dũng cảm và vị tha của những người bị nhiễm HIV, đã tận dụng khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của mình để góp phần xoa dịu nỗi đau khổ của những mảnh đời bất hạnh…”(Tr.611) Cuộc sống với Hồng Liên đã trở nên có ý nghĩa, chị đóng góp phần không nhỏ của mình cho xã hội.


        Còn Tuấn là vẻ đẹp một thanh niên trí thức trước và sau 1975. Kể từ khi là cậu học sinh thời trung học đệ nhất cấp đã biết vươn rộng đôi tay ra giữa dòng lũ lụt cứu bạn trên đường đi học phải qua sông bị đắm đò. Phải chăng đó là nguyên nhân giữa Tuấn và Hồng Liên có nhiều kỉ niệm không thể nào quên: “Thời trung học đệ nhất cấp(bậc THCS), dưới mái trường An Hòa, Tuấn và Hồng Liên học chung một khối, cùng che bóng hàng cây xà cừ trên đường đến lớp. Hồi đó Tuấn là một học sinh tinh nghịch đến táo tợn nhưng lại học rất giỏi. Không năm nào cậu học sinh gầy guộc đen đủi ấy không bị thầy hiệu trưởng mời lên khiển trách. Cảnh cáo dưới cờ thì xi-nhê gì với nó! Các bạn đã nói về Tuấn như vậy! Các giáo sư(giáo viên) đều coi Tuấn là một học sinh cá biệt. Nhưng cũng nhờ tính gan lì và táo tợn và gan lì ấy Tuấn đã cứu sống ba nữ sinh suýt chết đuối trong một mùa lũ khi xuồng qua sông An Hòa bị lật. Tuấn phóng ra giữa dòng nước chảy xiết cứu được hai người, đến người thứ ba Tuấn đưa vào nửa chừng thì đuối sức và cả hai bị nhận chìm, may nhờ có bà con trong thôn ra cứu kịp. Ở trạm xá vừa tỉnh dậy cậu ú ớ: - Con …Liên…có sống không?- Cậu đã làm xúc động đến rơi nước mắt những người xung quanh…”(tr.9). Rồi đến những ngày tháng năm 1975 Tuấn cũng có mặt giúp Hồng Liên trong ngày di tản, Tuấn đưa Hồng Liên đi gặp Nghi, chồng của chị,… Hễ khi nào mẹ con Hồng Liên gặp khó khăn thì Tuấn đều có mặt giúp đỡ “cô bạn cũ” ngày nào cả về mặt tinh thần và vật chất. Không hề toan tính vụ lợi hay cố tình chiếm đoạt trái tim của Hồng Liên. Anh luôn trân trọng giữ gìn, dè dặt chở che cho cả hai mẹ con Hồng Liên.
        Bên cạnh đó không tránh khỏi dư luận xã hội về mối quan hệ giữa Hồng Liên và Tuấn chỉ là cái cớ để buột tội Hồng Liên, là cái cớ để che đậy bản chất của Nghi với tính ích kỉ hẹp hòi. Với Nghi có thể bỏ cả vợ, nhưng sao lại bỏ cả đứa con trai của mình có phải vì sự ghen tuông dẫn đến thiếu trách nhiệm của người cha đối với con trong gia đình, mà tận hưởng “ bã” vinh hoa phú quý nơi xa kia. Và đồng tiền của Nghi không có thể nối lại tình cha con được!
        Và đại diện cho lớp trẻ năng động sáng tạo trong thời kì đổi mới có Lâm, Ngân và những người bạn như Thanh, Dương,… nhận thức quan niệm về tình yêu cuộc sống gắn liền với ý thức công việc hết sức chỉn chu đã làm nên “Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình là một cuốn tiểu thuyết bao quát cuộc sống đời thường tỉ mỉ từ mọi ngõ ngách bé nhỏ trong cảnh mua bán chạy chợ của thời bao cấp cho đến thời kì cơ chế thị trường mở rộng hợp đồng đối tác trao đổi kinh tế nhiều mặt làm nên sự phát triển phồn vinh cho đất nước. 


       Không còn ở một chừng mực nào nữa “ Một ngày cho trăm năm” của Nguyễn Bá Trình vẫn là tác phẩm tỏa sáng tính nhân văn cao đẹp. Tôi xin được phép trích lại lời cảm nhận của nhà văn Triệu Xuân: “ Đây là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn trẻ Nguyễn Bá Trình. Trẻ, hiểu theo nghĩa là mới viết, và là tác phẩm xuất bản lần đầu tiên. Tác giả là nhà giáo, dạy môn toán trường trung học phổ thông, đã nghỉ hưu. Là người chuyên viết tiểu thuyết, tôi trân trọng những chi tiết thực, bối cảnh thực, nội dung hiện thực của tác phẩm này. Những năm đất nước mới hòa bình thống nhất, dân tình chìm đắm trong khó khăn thiếu thốn của thời bao cấp, cộng với những hành vi, động thái phi nhân do đối lập về chính kiến, khiến tâm thế con người luôn hoang mang, nghi kỵ, hốt hoảng; vậy mà tình người vẫn luôn ấm áp, tỏa sáng…Tác phẩm toát lên tấm lòng của tác giả tha thiết với đồng loại, với cuộc đời, với đất nước, quê hương…
                                                                                            08.4.2012/ NTP

*Trích Tiểu luận LẶNG TRONG HƯƠNG LÚA
(NXB VH 2014)





Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

TÔI CÒN MẮC NỢ NGƯỜI THÂN BẠN BÈ

TÔI CÒN MẮC NỢ
NGƯỜI THÂN BẠN BÈ
(Trích Hương thảo thất, NXB HNV- 2018)



Nào phải mộng mơ nhưng lúc này thèm sự yên tĩnh cho mình, mà ngoài kia trời cứ rây hạt thấm ướt mặt lá và cả những chùm quả bằng lăng đang từng ngày nuôi dưỡng mầm hạt cho đến mùa sau sẽ bung ra. Rồi như thể không chịu được nữa, mưa lại nặng dần trượt nhanh rơi xuống thảm cỏ non xanh, len lách qua những kẻ lá nhỏ lắm rồi cũng an bài trong lòng đất ngàn năm chịu đựng. Ngoài khung cửa kính, đôi cánh chim trời nào vội vã nặng nhọc cố bay qua làn mưa. Có lạnh lắm không, phải về tổ cùng gia đình chứ gì, hay là miếng mồi còn đang ngậm trong cái mỏ xinh xắn kia, hạnh phúc biết bao lúc mớm mồi cho con. Xa hơn nữa, cây hoa sữa sừng sững vô tư tỏa hương xanh ngát cứ chùng chình trong vòm trời mờ đục nước mưa như vẫn thèm nhớ dáng ai ngồi dưới gốc giữa trưa hè hôm ấy!...
Khẽ nhắm mắt lại lần nữa để thưởng thức sự yên tĩnh đang lan tỏa trong mình, không lẽ nào tiếng giọt thuốc trong veo từ bình dịch treo trên cao bên trái cánh tay tôi dội lại, điều kì diệu nào từ đôi tay của những chiếc áo blu trắng không thể chần chừ, nới dãn bánh xe nhựa cho đường dẫn thuốc kịp thời vào mạch máu. Giọt tiếp giọt làm nên tổng dung lượng lớn bù lại sự thiếu hụt mất mác quá nhiều suy nhược trong cơ thể tôi. Rồi còn những mũi tiêm vào cơ bắp chân, hay là từ những đôi mắt nhân từ cùng với lời động viên: chút nữa sẽ khỏi ngay mà!...    Nhưng có lẽ tôi nghe rõ hơn chính nhịp đập những trái tim yêu thương kia hòa vào tất cả….

Cũng không có gì lạ mọi nhức mỏi trong cơ thể tôi ê ẩm quay cuồng từ lúc chiều là thế, giờ dần dần tan biến ra mọi ngõ ngách xa kia. Tôi có thể co dũi được chân trái, rồi đến chân phải vài lần. Tay phải thì không thể được vì đang kết nối với bình dịch nhân từ treo trên cao, còn tay trái đưa lên và xòe cả bàn rồi nắm lại. Mỗi động tác tôi gắng làm được đến mười lần thấy trong người bắt đầu khỏe ra… Và tôi có thể nghiêng người qua bên trái, bên phải… Rồi ngồi dậy, bỏ hai chân xuống giường, đứng lên và từng bước bước đi…
Ở phòng hồi sức cấp cứu được ba ngày, sau đó chuyển đến khoa nội để điều trị. Mọi sinh hoạt cá nhân đều ổn. Nhìn dáng chị tôi lầm lũi mang cơm đến đúng giờ ăn trưa, ăn chiều mà làm sao tôi chịu nổi khi chị lấy chiếc mũ bảo hiểm xuống, màu tóc đã ngả bạc ướt nhẹp mồ hôi, còn đôi tay gầy gò nổi rõ những đường gân xanh khi mở cà mèng ra. Nào phải chỉ có lần này đâu, hễ mỗi khi tôi nằm viện chị đều có mặt. Hình như chị được sinh ra để chăm sóc tôi, chăm sóc hết những người thân trong gia đình. Cả đời tôi mang nặng tình yêu thương chị dành cho mình. Không biết đến lượt chị ốm đau tôi có thể làm được những gì cho chị đây!... Mong cho chị suốt đời khỏe mạnh! Ở khoa điều trị, cũng như những bệnh nhân khác được kiểm tra huyết áp, đo nhiệt độ thường ngày và dùng thuốc theo chỉ dẫn của y bác sĩ.

Một tuần qua mau khi mỗi sáng thứ dậy, chị em trong phòng rủ nhau đi xin cháo từ thiện của các tình nguyện viên câu lạc bộ hội Chữ thập đỏ Tuy Phước nấu đảm bảo chất lượng, còn hai buổi trưa và chiều đi xin cơm chay của giáo hội Phật giáo Hòa Hảo miền Nam, chỉ trừ ngày chủ nhật là phải tự túc. Riêng tôi không thể dùng cơm chay được, vì cái bụng từ khi còn bé, mẹ tập ăn đã muốn ăn “mặn” cho đến giờ kể cả chuyện trò cũng “mặn” luôn! Với lại những thức ăn được nấu chay chỉ có hoa quả và rau xanh như thế thì làm sao đủ dinh dưỡng cho người bệnh như tôi được. Thấy chị tôi vất vả, nên tôi đã cố gắng ra căn tin “ ăn tự chọn, uống tự chọn” cho mau phục hồi sức khỏe hơn.
Tiêm mũi thuốc cuối cùng trong ngày thứ bảy ở khoa nội là tôi được về nhà. Những cảm xúc trào dâng miên man khi nhận tờ giấy ra viện. Tôi chỉ nhắn lại lời cảm ơn chân tình của mình đến Bác sĩ Thông, bác sĩ Khoa và các cô y sĩ, hộ lí ở Khoa nội. Nhưng nào quên được sự quan tâm nhiệt tình của bác sĩ Lê Văn Đính và các điều dưỡng ở Khoa hồi sức cấp cứu khi mới nhập viện. Chỉ có thuốc hay thầy giỏi đã cứu được tôi ra khỏi hiểm nghèo. Quý lắm các thầy thuốc ở bệnh viện Tuy Phước quê tôi, hơn cả những từ mẫu nữa, còn tặng cho những bệnh nhân thiếu máu trầm trọng sau ca mổ biết bao nhiêu là sự sống của mình, quý lắm như BS. Kỳ, BS. Nhung, cả những điều dưỡng và hộ lí nữa kia. Những ngày nằm viện tôi đã nhận biết bao tình yêu thương người thân, bạn bè thăm hỏi. Nằm viện tôi đã làm đến mấy bài thơ lục bát bốn câu cho luôn cả bản quyền đứa cháu học lớp bảy nộp cho cô giáo, mấy ngày sau nhận lại tin nhắn “Cháu được 9,5 điểm bài thơ về tình bạn. Cảm ơn bà dư nhiều!”. Có làm hư cháu không thì chưa biết, nhưng chữa cháy trước mắt là lỗi của bà, việc làm thơ viết văn đều phải qua rèn luyện. Gởi cho là xóa tin nên đến giờ chẳng nhớ tứ thơ như thế nào nữa. Mà chỉ còn lưu lại cảm xúc bất chợt khi vừa tỉnh ở phòng cấp cứu: “Ta còn mắc nợ trời xanh/ Trần gian là chốn vĩnh hằng tình yêu/ Lỡ mai nắng ngả ráng chiều/ Xôn xao miền nhớ phiêu diêu cõi bồng” (29.11.2011).

10.12.2011/ NTP

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI, truyện ngắn Nguyễn Thị Phụng.


15/. NƠI TÌNH YÊU GIỮ LẠI
  
 
            Sau khi chạy một vòng quanh những ruộng hành, có đám mới lên xanh, có đám đã héo lá đang thu hoạch củ, có đám lại đang làm đất, Kim hạ tay ga, nhấn thắng chân phải cho xe dừng lại bên lề đường bê tông, cô vừa mở khẩu trang che mặt rồi tự nhiên mau mắn:
            -Này anh gì kia ơi!... Kim mắc cười trong câu hỏi của mình, vội đưa tay che miệng. Rồi từ phía dưới xa cách cô đứng chừng khoảng mươi lăm mét là một giọng nam đáp trả:
            - Này chị gì kia ơi!... Rất khớp với lời thăm hỏi không quen biết, theo sau là một chuỗi cười lặp lại “- Này chị gì kia ơi!... -Này anh gì kia ơi!.. của đám thanh niên đang hì hục đào sâu lấy đất nâu cho vào từng thúng nhỏ bưng lên đổ thành đống lớn bên lề đường bê tông, nơi cô gái đang đứng đó. 
            Trời đang chuyển tiết lập thu, mây trắng rải đều trên cao che chắn màu nắng vàng ngỡ như muốn giữ lại dành cho hè năm sau hay những năm sau nữa, mà sao lúc này cả người cô cứ nóng bừng lên, hiện rõ trên đôi gò má nhô cao, nỗi ám ảnh từ câu nói của mẹ nhắc lại lời thầy bói “con gái có gò má cao là sát chồng” có thật vậy không, hay chỉ nói vừa để lấy tiền trong túi mẹ, mẹ gieo vào lòng con những lo sợ hoài nghi số phận mình. Những quyết tâm lao vào việc học nhất là từ lớp mười đến khi tốt nghiệp đại học ra trường đi làm đã hơn hai năm nay rồi, Kim chưa có một người bạn trai nào ngỏ lời yêu, thì mặc có sao đâu, cô đang chuẩn bị cho năm tới bảo vệ đề tài lấy bằng thạc sĩ nông nghiệp chuyên ngành trồng trọt, nên mới có chuyến ra đảo Lí Sơn, mà lại đi một mình. Đồng hành cùng cô là điểm dừng chuyện trò với người bán nước giải khát, là chị hàng cơm, là nhân viên bán vé tàu, là người ngồi bên cạnh trên tuyến xe buýt từ thành phố Quảng Ngãi tới cảng Sa Kì,… Kim biết xưa nay đám con trai có thói quen thấy con gái là trêu là đùa, nhưng cái trêu cái đùa của con trai miền biển đâu thể là ăn đàng sóng nói đàng gió, nó ngọt lịm như thứ đường phổi đường phèn nhai vào rùm rụm trong miệng, nuốt tới đâu khỏe tới đó. Nó như kẹo mạch nha trải lớp đậu phộng rang vàng hườm bên trên hộp, chỉ cần lấy chiếc đũa dích lên một ít bỏ vào miệng nhai đã dính tận chân răng thơm phức, chỉ cần ăn một lần là nhớ mãi, nhớ suốt đời nữa kia. Kim không nỡ bỏ đi khi người con trai có đôi mắt biển bình minh vừa đổ xong thúng đất nâu xuống lề đường, ôn tồn đến bên gợi chuyện:
             - Chị mới đến đảo lần đầu à! Ở đây bọn chúng tôi hay đùa với các cô gái lạ, chứ quen rồi thách thằng nào dám léng phéng, con gái đảo nhận chìm nước biển là chỉ có chết ngộp cả đời thôi, chị ơi thông cảm nghe!... Bọn chúng tôi ở đảo không đánh bắt cá thì tranh thủ làm đất găm tiếp củ hành củ tỏi cho nó lên xanh cũng nhọc công lắm chứ có sướng gì đâu chị!...
             Như thể gợi mở câu chuyện, Kim mạnh dạn hơn hỏi thăm từ cách lấy đất nâu dưới mấy chân núi trộn chung với phân bò rải đều lên mặt bằng rộng, sau đó mới phả lên trên lớp cát trắng lấy từ ngoài biển, và nếu lớp cát trắng qua vài năm trộn lẫn với đất nâu ngã màu vàng nhạt thì cứ tận dụng cho việc trồng lại hành cũng được. Sau khâu làm đất là chỉ việc lấy cuốc chỉa có răng cưa như cào cỏ, cào tới đâu là cấy hành xuống đó, thẳng băng như thể căng chỉ trông đẹp mắt lắm!...

           Chia tay người con trai đảo, Kim về lại phòng nghỉ Biển Đông trời đã về chiều, cô tranh thủ ra bờ kè gần bến cảng ngâm mình trong nước mặn. Nước trong xanh mát rượi, Kim cứ thỏa thích ngụp lặn cho đến lúc nhá nhem mới thong thả quay về dùng bữa chiều một mình tại quán cơm bình dân. Người phụ giúp bưng cơm không ai xa lạ chính là anh thanh niên làm đất ở ngoài bìa ruộng hành. Anh tò mò:
           - Chị dùng một đĩa cơm thôi à!...
           - Dạ, em cố gắng để thử có hết đĩa cơm của bác gái dành phần này! Nói xong Kim cắm cúi ngồi ăn, nhưng thực ra cô đang để mắt đến những người phục vụ trong quán cơm tuy nhỏ, rất đông khách. Một người đàn bà khoảng chừng năm lăm đang đứng xới cơm và gắp bỏ thức ăn theo yêu cầu của khách, một cô gái có dáng thanh mảnh cắt tóc ria trước trán và cột chỏm đuôi gà lên cao ở phía sau, gọn gàng trong bộ đồ thun xanh đen, một tay thu gom bát đĩa , còn tay kia cầm cái khăn lau sạch thức ăn rơi vãi lên bàn, Kim chào xã giao khi cô gái cầm họp tăm tre đến:
            - Nhà bán cơm vất vả mà chỉ có hai anh em giúp mẹ à!
            - Dạ không phải đâu cô, em là học trò của thầy Sơn dạy văn và chủ nhiệm lớp 12 đó cô, em vừa thi xong đại học và chờ kết quả, thầy ưu ái cho bạn nào có khó khăn thay phiên nhau đến phụ giúp bưng bê dọn dẹp rồi bà trả tiền công lao động thường ngày như mọi người, xong rồi là về nhà học bài làm bài,… Ủa mà cô mới chuyển về dạy ở trường thầy à, gặp được thầy Sơn là quý lắm, chỉ có một điều… Cô học trò chưa nói hết câu, quay sang nhìn anh thanh niên, rồi cúi xuống lau kĩ lại cái bàn. Im lặng. Chỉ có tiếng gởi trả tiền đĩa cơm, tiếng chào thầy Sơn tôi về nghe thân thuộc lắm. Thì ra anh thanh niên kia chính là thầy Sơn. Chắc vai thầy giáo chững chạc và đạo mạo lắm. Cô mạnh dạn mở miệng:
             - Sao học trò thầy Sơn lại lấp lửng, còn nợ cô cái điều chưa nói hết đó nghen! Tự dưng Kim nói được câu này, cứ ngỡ mình đã quen biết là bạn hàng cơm thường ngày với cô bé học trò của thầy Sơn.
            - Dạ, nếu cô về trường dạy thì biết hết!
            - Nếu cô muốn biết, nhưng cô không phải cô giáo thì…
            - Thì cô mạnh dạn hỏi điều bí mật, em chắc 100% thầy Sơn cũng đâu muốn giấu giếm chi cho khổ!...
             Kim đứng lên đưa tờ năm chục ngàn trả tiền đĩa cơm, cô bé bước đến quầy tủ mở hộc bàn cầm ba chục thối lại cho Kim, Kim gởi riêng cho cô bé học trò mười ngàn, nhưng bị từ chối, cô chỉ nhận lời cảm ơn. Về nhà nghỉ, chưa kịp thay áo quần, cô nằm xuống gường, hai mắt nhắm khít lại, đến khi tỉnh giấc nhấn điện thoại đúng bốn giờ ba mươi. Kim đứng lên, đến gần cửa sổ, vén tấm mành vải nhìn ra ngoài xa biển đêm còn lấp lánh ánh đèn, hơi sương ùa vào phòng lành lạnh. Trời sang thu thật rồi, không khí mát mẻ trong lành quá. Kim nhớ đêm hôm qua còn say bờ, cứ làm Kim dật dờ, mệt mỏi không ngon giấc như đêm nay.

        Cô chọn chiếc quần jean đen và áo sơ mi màu xanh da trời để mặc rồi đi ăn sáng, tiện đường ghé mua vé về Sa Kì, đến chiều kịp về Gia Lai còn một ít việc phải làm. Kim mở dây kéo túi xách lấy sẵn tiền để trả cho người bán vé, cái bóng ai đó đã đứng trước mặt Kim, thì ra thầy Sơn đang cầm cặp vé tặng cho Kim một ghế ngồi, Kim lúng túng đưa khoản tiền có sẵn trong tay mình cho thầy Sơn, nhưng thầy Sơn nói chỉ vừa cho Kim nghe tiện tàu sang bên kia bờ để học chuyên môn, tôi tặng chị một kỉ niệm gọi là chút quà người miền biển ấy mà, khi nào có dịp gặp nhau nữa thì chị nhớ tặng lại tôi một vé bay trên cao, tôi khao khát mà chưa có cơ hội. Kim nhe răng cười khì: tàu bay giấy thì đảm bảo muốn lúc nào sẽ có ngay! Rồi từ câu chuyện cổ tích tàu bay giấy vỡ lòng đưa hai con người ngồi bên cạnh xóa tan khoảng cách về không gian, về địa lí. Họ tiếc chặng đường mười sáu hải lí không thể kéo dài nữa, rồi tuyến xe buýt ba mươi phút càng ngắn hơn, thầy Sơn tặng Kim tập truyện Nơi giữ lại tình yêu vừa mới xuất bản. Kim ngạc nhiên và mến phục thầy giáo dạy văn có lắm nghề tay trái. Nào là làm đất trồng hành, nào là chạy bàn phục vụ cơm bình dân, nào là hướng nghiệp cho học sinh yêu lao động, nào là viết văn,..

         Theo thói quen, Kim mở trang sách cuối cùng xem phần mục lục, bởi đầu đề gợi cho Kim tính tò mò, chiếc xe khách lên khỏi đường đèo Măng Giang là kết thúc truyện. Kim thương nhân vật người đàn ông có tên Hậu cặm cụi hơn hai mươi năm nuôi mẹ vợ mù lòa nằm một chỗ, nuôi con khôn lớn bằng cái nghề trồng hành trên đảo… Thường mỗi câu chuyện hay phim ảnh kể lại trong thời chiến, các chị nuôi dưỡng mẹ chồng khi anh ra trận, đến lúc chiến thắng trở về hay vĩnh viễn ra đi thì người phụ nữ vẫn một mực gánh vác “giang sơn” nhà chồng.
             Và đấy là lần đầu tiên trong đời Kim đồng hành cùng thầy giáo Sơn đi tàu cao tốc trên biển, nói chính xác là người bạn trai ở tuổi trung niên dễ mến trong giao tiếp, dễ nhìn trên gương mặt, là ánh mắt chân tình, là bờ vai rộng, là vòm ngực bể khơi, là vóc dáng cánh buồm, là hòa chung hơi thở mặn mà biển khơi, nhưng biết rõ về anh chỉ mới phần tư chặng đường. Có một điều ở người “thanh niên” chưa bao giờ nhắn tin hay gọi điện thoại cho Kim trong giờ hành chính. Khác với những đồng nghiệp của Kim cùng cơ quan cứ tủm tỉm cười khi sờ tay vào túi mở ra đọc tin nhắn. Kim muốn ganh tị với họ. Kim chỉ đọc được mail anh gởi kể chuyện thường ngày trên đảo khoảng sau tám giờ tối. Thầy giáo Sơn chưa bao giờ có một thông tin: Kim thương, Kim nhớ, Kim yêu dấu của anh! Mà sao Kim thương, Kim nhớ, Kim yêu dấu anh theo từng nhịp đập con tim của mình…
             Dân trên huyện đảo xôn xao cái quán cơm bình dân cho người lao động, cho khách “du lịch” thuở nào đề thông báo: Nghỉ bán một tuần từ ngày… đến ngày… tháng … năm… sẽ bán lại. Thì ra thầy giáo Sơn lấy vợ. Tin thầy Sơn lấy vợ, các cô giáo trong tổ văn, trong hội đồng sư phạm nhà trường không khỏi ngạc nhiên khi cầm thiệp cưới. Một cô gái thành phố lớn ở tây nguyên về làm dâu huyện đảo. Rồi công việc làm sao, người bàn ra kẻ nói vào phụ giúp mẹ rửa chén bát, đi chợ nấu ăn. Người thì thêm thắc lo thầy Sơn xin chuyển về quê vợ. Còn số học trò đã từng học thầy Sơn cứ tíu tít đến giúp một tay quét vôi, sơn lại vách tường, sắp xếp bàn ghế, chỗ ngồi cho họ nhà trai, nhà gái,… và dành số ghế cho đám học trò là nhiều nhất. Kim quên mất lời ông thầy bói thuở nào, chị hạnh phúc sánh bước bên anh đến bến cảng Sa Kì vừa kịp chuyến tàu ra đảo lúc bảy giờ ba mươi sáng chủ nhật cùng thời điểm mà trước đây ba năm cô chỉ đi một mình.

             Nàng Âu Cơ của mười năm đầu thế kỉ XXI tự nguyện theo chàng Long Quân nhập hộ khẩu miền biển, chị chuyển công tác về phòng Nông nghiệp huyện đảo. Cây hành muốn lên xanh cho “lá bằng đòn gánh củ bằng bình vôi” như trong truyện ngắn Nơi giữ lại tình yêu mà tác giả thầy Sơn đã kể về nhân vật anh Hậu từng chăm chút cây hành trong cảnh côi cút nhớ thương người vợ buôn hành sang biên giới mà không thấy trở về, chỉ nghe dư luận bàn tán cô vợ anh Hậu theo mấy ông lá, ông tàu gì đó xanh mượt lời rủ rê. Quả bụng đàn bà, dạ con nít. Còn lúc này… ông trời khắc nghiệt như thể ganh tị với con người cứ trộn lửa trong nắng đổ xuống cả ngàn hắc-ta ruộng hành, chỉ cần sờ lên cát đủ bỏng cả tay, nguồn nước bơm đã cạn, nước trên hồ dẫn về cũng chưa đủ sinh hoạt huống chi là cứu sống cây hành. Dù trăm hay cũng đâu bằng tay quen, việc áp dụng khâu kĩ thuật vào việc trồng hành ở Phan Thiết rất thành công, không lẽ ở quê chồng chẳng muốn cho chị vẻ vang hay sao, chị rươm rướm nước mắt nhận về mình những lời hằn học, nào là trăm hay cũng đâu bằng tay quen, từ cha sinh mẹ đẻ lớn lên đã trồng cây hành cây tỏi, còn nào là da trắng tóc dài tóc suông thì cái ngữ ấy chỉ đặt trong tủ kính cho thầy Sơn ngắm, chứ dân biển này đã từng đem cây hành chống gió chống bão ngàn đời nay rồi!... Một chồng sách dày cộm, một hệ thống thông tin mạng đang “bí mật” trước đôi mắt mở to của Kim, không lẽ bó tay. Kiến thức sách vở là một phần trợ giúp cho chị, nhưng thực tiễn cây hành trên đảo mới là chính. Kim lần dò đến những cụ già, bà lão đã từng chuyên trồng hành xưa nay, cuối cùng dẫn đến một kết luận. Bổng lộc cây hành đôi lúc còn là trời cho, chỉ có thể che chắn nắng phần nào với những đám hành mới vừa lên xanh. Cây hành trên đất dẫu thất thu thì vẫn còn thấy đó, chứ đâu như mấy người bạn của Kim đã từng kể việc nuôi tôm nước lợ, lúc trời đang nắng to lại đổ mưa xuống thì ngỡ như đang sấm sét trong ruột trong gan chứ sướng được gì.

          Kim lấy lại sự tự tin khi bên cạnh chị còn có một số cán bộ nông nghiệp ủng hộ, một số hộ nông dân trồng hành cùng sẻ chia, thông cảm. Diện tích đất trồng cho mùa hành năm nay được mở rộng, bón thêm phân đúng thời điểm cho củ hành từ dưới lớp đất nâu đen đã bung nở nhiều củ cho nhánh thêm xanh trên mặt cát trắng. Chỉ cần đi ngoài bìa hành mọi người đã tận hưởng hương vị đặc trưng của lá mỗi khi cơn gió thoảng qua. Lá vẫn giữ độ xanh trong tô canh chua mà trước đây dễ bị ngã màu. Và câu chuyện đầy hào hứng hơn về “cây hành” trong mỗi bữa cơm thân mật của từng hộ gia đình trên đất đảo Lí Sơn.
        Đã gần ba năm rồi, bây giờ nằm bên nhau Kim mới nghe rõ hơi thở của Sơn đều đặn hơn cùng với hạnh phúc đang từng giờ lớn lên trong bụng chị gần năm tháng rưỡi, khi  anh vừa đặt tay lên bụng vợ đã bị một cú nẩy đạp mạnh tấn công nhô cao bằng quả trứng gà làm bàn tay anh nhô lên theo, rồi như thể chuyển sang phía khác, cứ thế mà tiếp tục đến hai ba lần. Sơn nhịp nhịp bàn tay mình trên bụng vợ khe khẽ : “-Này anh gì kia ơi!.. -Này anh gì kia ơi!...” chịu khó “tù túng” ba tháng rưỡi cộng thêm mười ngày nữa ra hít thở hơi muối mặn nồng, phổng phao như Thánh Gióng lướt gió lượn sóng vẫy vùng, biển xanh đang chờ con tiếp sức. Sơn vừa nhắc lại đến lần thứ ba: “Này anh gì kia ơi!..” thì Kim quay lại nhéo vào bắp tay anh một cái nũng nịu nói nếu không có “ Này… chị … gì …kia…ơi!...” thì làm gì có cái cục cưng trong bụng này. Hích.
             Qua khung cửa sổ, gió ngoài khơi như muốn ganh tị ùa vào xua tan cái màu vàng trăng mười sáu đang soi rõ hai gương mặt mà bao nhiêu đêm họ hằng thao thức, giờ mới thực sự viên mãn. Trên cao xanh không một gợn mây. Còn họ gối đầu trong câu chuyện cổ tích thuở nào rồi cùng khúc khích cười muốn vỡ cả ánh trăng hồn nhiên nhân hậu.
                                                                                                                 15.8.2013


Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

KIẾN, thơ Nguyễn Thị Phụng


KIẾN
                      Kiến tha lâu đầy tổ















(ảnh sưu tầm trên net.)


Vẫn là đàn kiến ngày đêm
Tha bao nhiêu hạt cứng mềm đầy hang
Thể như cơ hội chuyển hàng
Của rơi cũng phải của làng chẳng sao!...
Sợ chi cửa đóng tầng cao
Vượt tường luồng lách ra vào yên tâm
Hội hè yến tiệc tràn mâm
Tha hồ bu kéo vào hầm nhỏ to
Phổng phao quên lúc ốm o
Giật mình nước lớn đâm lo vỡ bờ  ./.
23.10. 2018/ NTP


Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN, thơ Nguyễn Thị Phụng


















LÒNG HỒ VẪN BÌNH YÊN.
Xoay một vòng quay em lên thăm chị
mộ phần cạnh hồ nước trong veo.
Khói sương phả vào nắng thu 
man mác.
Ánh mắt tìm về
thuở xa xưa
đời chị...
Chỉ còn gió và gió
và mây trời đụn lại
ám ảnh chực mưa
Lòng hồ vẫn bình yên nơi ấy...
BMT,10.10.2018 / NTP