Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

THEO CON SÓNG VƠI ĐẦY


THEO CON SÓNG VƠI ĐẦY


Biển với tôi tự bao giờ gần gũi và thân thương lắm, những chiều nồm nam lộng gió tha hồ ngụp lặn trong bể nước mênh mông mát mẻ vô cùng. Còn hôm nay buổi sáng cuối xuân, nắng ấm đang độ rây vàng, tôi bước lên tàu bộ đội biên phòng ở bến cảng Quy Nhơn cứ dạt dào theo con sóng. Gần hai tiếng đồng hồ lênh đênh trên mặt biển cùng với anh em văn nghệ sĩ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Binh đoàn 15,… trong chuyến đi thực tế ra đảo Nhơn Châu cách thành phố Quy Nhơn 18 hải lí([1]).
Biển trong mắt tôi đâu hề xa lạ.
Cái nắng gió cùng với sóng nước là sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất bức tôi rời khỏi buồng máy kín đáo an toàn dần ra trước mũi con tàu, độ bập bênh nhịp nhàng theo hơi thở biển khơi khiến tôi phải từng bước ngồi trên thùng cao trước buồng máy để giữ lại độ thăng bằng khi nhịp tim rộn ràng, rồi nhớ trước đây ba ngày đo điện tim với kết quả nhịp xoang chậm chỉ có 50 lần/ phút, huyết áp xuống thấp 90- 60, cộng với đêm hôm thao thức cho ngày mai chuyến ra đảo, tôi uống liền ba tách trà nóng, hương trà thơm dìu dịu lan tỏa vào khí quản, tôi tựa lưng an toàn và thiêm thiếp còn bên tai bao nhiêu là câu chuyện rôm rả của các anh chị trong đoàn. Rồi tôi không thể nhắm im đôi mắt còn há miệng cười theo khi có ai đó phát hiện cánh chim hải âu bay ngang. Ba chị em chúng tôi cùng lúc nhìn vào mênh mông hỏi: chim đâu? Được thể các anh cười rộ hả hê như chưa lúc nào sung sướng bằng, thích thú bảo chỉ có một con chim mà các cô phấn khởi!...
Có lẽ hơn tiếng đồng hồ rồi chăng. Tôi chắp cánh bay theo đề tài chim hải âu trên biển khi con tàu đã xa bờ lắm. Hải âu là giống chim lớn, cánh dài và hẹp, mỏ quặm, chỉ sống ở biển, là bạn người đi biển, màu áo xanh lính biên phòng càng thân thuộc gần gũi hơn. Lúc này chúng thèm nghe tiếng máy con tàu, tiếng nói cười của người, càng lúc chúng rủ rê nhau biểu diễn điệu múa nhịp nhàng đôi cánh lên xuống cho chúng tôi xem. Từng cặp ba, cặp đôi lần lượt vào tầm ngắm trong ống kính, tôi ấn nhanh nút chụp và chúng không thể lọt ra ngoài nữa rồi! Ơ kìa những con cá chuồn chẳng chịu nằm yên số phận, nghe tiếng máy chạy qua, ngước nhìn hải âu tung lượn giữa trời xanh, chuồn cũng phóng mình thi sức theo con tàu chừng hơn mười mét, thấy không đủ điều kiện tiếp sức nữa, lặn mình trong lòng biển. Trên những cái phao trắng vuông vắn bồng bềnh con sóng còn là trạm dừng chân quen thuộc của hải âu, nơi chim trời và cá nước bên nhau suốt đời gặp gỡ…
Nhơn Châu hiện ra sau gần một trăm phút trên mặt biển. Núi đảo sừng sững trước mặt, ngọn hải đăng hình khối tròn điềm tĩnh bên phải cao vút lên tầng mây, khoảng giữa phía dưới là nhà cửa san sát chen lẫn những vòm cây xanh mướt vươn lên giữa trời xanh thẳm. Có phải vì thế trước đây nhân dân ta thường gọi là Cù lao xanh hay không! Này, lá dừa xanh hiền hòa chịu đựng gió bão theo mùa in trên mặt đường bê tông che bóng người đi đường, cây sứ  khẳng khiu mà những chiếc lá thuyền cứ xanh còn màu hoa trắng ngà tỏa hương trộn lẫn mùi nồng mặn của biển chia đều cho người qua lại, những luống cải rổ lá to bằng bàn tay tươi mát cứ xòe ra đón nắng chẳng ngại chi, và kia là những vuông nhỏ lá răm thơm ngỡ như đôi mắt đa tình ngước nhìn lên theo từng bước chân người về đây. Tất cả màu xanh yêu thương ấy nằm trong khuôn viên các nhà dân ở hai bên đường. Điểm dừng lại là màu xanh lá bàng phủ bóng mặt đất từ ngoài cổng doanh trại vào tận trong cơ quan, nhà nghỉ, phòng ăn,… Cây bàng khiêm tốn nhường chỗ những luống rau xanh non của các đơn vị đại đội… ngay ngắn thẳng hàng hai bên lối gần khu nhà bếp phía sau. Và nhất là màu áo xanh tươi trẻ chân tình cộng với nụ cười cởi mở của các chiến sĩ bộ đội biên phòng đang từng ngày giờ canh giữ biển đảo quê hương, đón tiếp và bố trí chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt cho anh em văn nghệ sĩ rất chu đáo.
Hai giờ chiều, một số chúng tôi ngồi dưới tán cây bàng với những vần lục bát cho nhau. Sau khi tôi đọc xong bài thơ “Được mùa mua bán”, Phùng Văn Khai lại bảo theo em thì chị Phụng chỉ cần sửa lại từ “đã” là từ “ kia” trong câu bát: “Sầu riêng (đã) / kia chín thế nào cũng rơi ”… vì “kia” là một định từ được xác định, còn “đã” là phụ từ chỉ thời gian!... Ngẫm lại  có lí thật, nên cảm ơn nhà văn.
Sau một giờ đồng hồ, cái nắng bên ngoài cứ chực sẵn chờ người ra là lân la sờ sẫm quấn lấy ngay lên da thịt bất kể đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già,… cho đã thèm cơn khao khát. Tôi và Hà My không thể chịu nổi cảm giác tự nhiên ưu ái dành cho mình. Mắt kính, khẩu trang kín mặt, kín tay và kín luôn cả đôi bàn chân dù cho mồ hôi tha hồ tuôn chảy. Bởi luôn thực hiện phương châm nhất dáng nhì da. Đã là phụ nữ mà không xếp vào khung nào thì chỉ lo “ê sắc” thôi. Chứ chưa nghĩ sợ ung thư da!... Vậy mà, cuộc sống trên đảo với hơn 480 hộ dân và có khoảng hơn ngàn người, hầu hết sống bằng nghề đi biển. Trường học khang trang kiên cố nhất, dành cho tuổi thơ học tập và sinh hoạt ca hát vui chơi. Những con đường bê tông không rộng lắm chỉ đủ cho người đi bộ và một vài chiếc xe đạp, xe máy chạy qua lại. Một quán cà phê nằm sâu trong khuôn vườn nho nhỏ dành cho những phút tâm tình  sau những ngày ra khơi lộng gió. Một gian lều chợ rộng nằm cạnh bãi biển đón cá, tôm,… từ những thuyền thúng đưa vào bờ. Một số chị em ngồi quanh nhau bắt chuyện thăm hỏi những buồn vui cuộc sống mà bụng dạ luôn hướng ngoài khơi xa mong con tàu đầy ắp cá tôm trở về. Từng nhóm học sinh tan trường tung tăng trở về nhà khoe điểm mười còn nóng hổi trên trang vở. Và từng nhóm vui đùa trong biển nước gần bờ mát mẻ khỏe khoắn hơn. Nhưng tất cả đều tâm niệm kính cẩn gởi vào vị thành hoàng xã đảo Nhơn Châu cầu mưa thuận gió hòa cho cuộc sống mãi bình yên theo năm tháng.
Đêm giao lưu không chỉ có thơ lục bát với một Tình xa của Hà My: “ Tì tì một cốc phôi pha/ Hờ hờ say khóc tình ta cõi người”. Còn Du An ở Điện Biên lần đầu đến biển sáng tác ngay trên con tàu: “Biển khơi sóng lợp mái nhà/ Vừa bay nón trắng chắc là hải âu? Đường đi của những con tàu/ Bao nhiêu đàn cá ngẩng đầu trông theo” (28.4.2011). Còn tôi giật mình khi MC nhà văn Phùng Văn Khai bất ngờ giới thiệu chị Phụng sẽ đọc mười bài lục bát! Trời đất ơi, tôi cố gắng lắm mới được một bài tám câu thì trong bụng không còn chút thơ nào nữa… bởi quên đậy nắp nó bò hết trơn. Anh Thai Sắc ở tận Đồng Tháp với chất giọng Quảng Bình đã thành công bài hát “Thuyền và biển” giữa lúc này sao nặng nghĩa nặng tình lắng sâu nỗi nhớ người yêu đến thiệt nhiều như vậy! Ngọc Tuyết yêu đời sảng khoái: “Cười cho sóng sánh tháng ngày/ Cười cho tình đến đủ đầy nhớ mong/ Cười cho đời bớt gai chông/ Cười cho xuân lạc vào trong tiếng cười”. Bên cạnh vẫn là các đơn ca nữ của Binh đoàn 15 Đại đội Đ30, của Đoàn thanh niên xã đảo Nhơn Châu, nhưng khoái nhĩ nhất vẫn là chất giọng đặc trưng tự biên tự diễn bài chòi Bình Định của Trần Dự là hấp dẫn hơn,...
Kết thúc đêm giao lưu là tặng nhau những tập thơ văn ấm áp thân tình. Còn Ninh Đức Hậu ở Ninh Bình đã không quên lưu giữ những tấm hình kỉ niệm khá ngộ nghĩnh, độc đáo. Sau đó, các anh nuôi trong đơn vị cho chúng tôi thưởng thức món cháo cá thu lót dạ lúc chín giờ đêm thơm ngọt mặn mà đến giờ còn nhớ lắm. Tất cả đều thực hiện tác phong quân sự để còn ngày mai leo núi sờ lên ngọn hải đăng trước khi mặt trời mọc…
… Chia tay cầu cảng Nhơn Châu, con tàu lướt nhẹ trên sóng, bọt nước hình cánh quạt xòe ra xếp lại vỡ tan hai bên mạn tàu. Mặt biển sớm mai bình yên, độ chênh lệch tâm trạng và cảm xúc tôi có một cái gì đó chưa thật sự ngang bằng. Suốt cả đêm nơi đảo Nhơn Châu thao thức với màu nước xanh mát từ lúc chiều thả mình trong biển mặn, cát ven bờ hạt to trắng lắm cứ níu chân du khách đến lúc không nhìn thấy bóng người nhưng không phải là cát mịn như biển Quy Nhơn. Cả quần thể núi đảo nơi đây đẹp tựa vòm ngực căng đầy của một cô gái đương xuân. Tiếp giáp cầu cảng hai bên là tàu thuyền đánh cá tấp nập về đỗ bến bình yên, nhà cửa ngư dân san sát khi tối lửa tắt đèn có nhau, tiếng nói cười giòn tan đọng lại hòa với tiếng sóng yêu thương muôn đời làm nên bức tranh lung linh giữa biển. Nhưng còn đằng sau bờ cát trong cái eo biển nhỏ nằm phía sau Nhơn Châu, một chiếc dép đứt quai, một miếng xốp lót đồ điện tử, những bì nhựa rách,… lặng lẽ trăn trở dưới nắng mưa rồi chốc chốc phất phơ theo con gió trên mặt triền dốc cố mình cuốn đi nhưng chẳng biết về đâu!... Xin hãy giữ Nhơn Châu một màu xanh yêu thương tươi đẹp.
Biển trong mắt tôi đâu hề xa lạ. Tôi muốn hỏi thật biển có bị dị ứng vết dầu loang trên một diện tích nhỏ và vài bì nhựa còn nhãn hiệu nằm trơ ra trên con sóng gần đảo Nhơn Châu không?!...
Biển yêu ngàn đời của tôi!
 02.5.2011
Nguyễn Thị Phụng




[1]Hải lí: đơn vị đo độ dài trên mặt biển bằng 1,852 kilomet.

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

NỐI LẠI THƯƠNG YÊU Đọc Cú vẫn còn kêu, tập truyện ngắn Trần Quang Khanh


                                     NỐI LẠI THƯƠNG YÊU

(Đọc Cú vẫn còn kêu, tập truyện ngắn Trần Quang Khanh, NXB. HNV-2015).
       Nhớ hôm Chi hội Văn học tổng kết năm 2015, Trần Quang Khanh tranh thủ kí tặng sách “Thân quý tặng chị Nguyễn Thị Phụng”. Bao nhiêu ấy đủ làm ấm lòng người nhận như tôi. Cú vẫn còn kêu là những mẫu chuyện trong đời đi vào tác phẩm đã là người đồng hành sáng tạo nhà văn trong nhà báo như anh, phản ảnh hiện thực đời sống xã hội bao trùm từ nhận thức đến thái độ thông qua lời nói và hành động nhân vật trong tác phẩm.
      Quả thật Cú vẫn còn kêu hay chính là nối lại yêu thương của mọi người trong gia đình với xóm làng ý thức cảnh giác về sự bảo vệ và đoàn kết che chở, giữa cái thiện đã thắng được cái ác.
      Từ mạch truyện đầu tiên Cú vẫn còn kêu đã nhằm thức tỉnh sự ấu trĩ từ bao đời truyền tụng không văn bản về thanh âm một loài chim ăn thịt thường cất tiếng trong đêm khuya “Tiếng kêu đùng đục, loang ngân trong đêm tĩnh mịch. Tiếng kêu như phát ra từ cái cổ họng nén hơi làm người nghe nổi gai ốc… Cú kêu một giọng, ngắt quãng ba, đơn độc và hoang hoải,…” Chính tiếng kêu quá đặc trưng ấy lại là sự bất an ám ảnh “… hễ cú đến đậu nhà ai, kêu lên ba tiếng là điềm báo ở đó nếu không có người chết thì cũng có người đau ốm nặng sắp ra đi”. Phần nào ma hoặc đã làm dao động nhận thức giữa sự sống và cái chết. Thế nhưng muốn hủy diệt không phải dễ, nếu không chủ mưu hợp tác “… chính chú hàng xóm phía bên phải đã lân la đến gặp cô hiến kế và nhận lãnh sứ mệnh thực hiện một cách hoàn hảo kế hoạch tiêu diệt tổ cú”. Vậy là từ một loài chim đã bị con người cố tình sát hại “ném cả chai thuốc sâu vào tổ cú mà không cần nghĩ bên trong có gì”. Nếu không có phần kết “…vợ tôi đã nhận ra mình đã đồng lõa để làm một điều ác… chịu để cho các con tôi nuôi nấng con cú non mù” là duy trì sự sống của muôn loài.
       Và nếu như nhân vật “Cú cha, cú mẹ cứ lòng vòng réo gọi…” để cứu lấy con mình nhưng không được trong Cú vẫn còn kêu, thì ở truyện Con Bin và người hàng xóm lại hoàn toàn khác hẳn. Con Bin lại là con chó được nuôi dưỡng để giữ nhà, riêng một thân phận, khi lỡ bị ra ngoài biết sẻ chia cùng người hàng xóm, nhưng cuối cùng phải “… kiệt sức sau 5 vòng chạy dốc hết tốc lực và sức lực cho những cú lao người vào cánh cổng sắt”, nhưng không thoát được “Chiếc thòng lọng đã thít được vào cổ con Bin và kéo lê nó một đoạn dài trên đường trước khi nó được gỡ ra quẳng vào trong bao…” lại trong sự chứng kiến của những người hàng xóm!... Nguyên nhân có phải từ sức mạnh của bọn trộm chó, hay sự cách biệt, chưa thật sự quan tâm trong mối quan hệ xóm làng. Người ta tiếc thương con chó “kiên cường, dũng mãnh, đáng thương, đáng tiếc…”. Nhưng với bản thân họ thì sao? Chưa có câu trả lời. Phải chăng từ “đèn nhà ai nấy sáng” của chủ nhà mất chó, đã dẫn đến thái độ thờ ơ vô cảm của người láng giềng, luôn ở thế thủ sợ bị vạ lây. Tất cả điều đó dẫn đến cá nhân thiếu trách nhiệm với xóm làng, với cộng đồng và xã hội. Sẽ là cơ hội cho bọn “cướp” duy trì, nhưng đến lúc kẻ “đi đêm có ngày gặp ma”, phải dẫn đến cái chết: “Hai nạn nhân là kẻ trộm chó… bị một nhóm người đuổi đánh và đã đổ xăng đốt cháy họNhóm đốt người đã bị bắt, bị khởi tố chờ ngày ra tòa”.
        Từ câu kết truyện “Có điều không thấy ai tỏ một lời tiếc thương”(Con Bin và người hàng xóm) đến truyện Đàn chim của bố, là cái thú tao nhã của người về hưu nhân hậu, từ việc chăm sóc cây cảnh, yêu thích tiếng chim kể cả loài chuột cống phá hoại cũng “Không giết hết được đâu con ạ! Mình phải chấp nhận chung sống với lũ chuột. Có điều phải biết sự nguy hại của chúng để khắc chế”.
         Không là cái vòng luẩn quẩn trong sự móc xích giữa các truyện ngắn trên. Mạch văn giản dị mở ra cho người tiếp nhận vấn đề ý thức về mối quan hệ giữa con người với loài vật, nhất là con người với con người trong xã hội là một sự nan giải: Rõ ràng khi con người lỡ tay làm viêc ác nhỏ chỉ vì tiếng kêu của nó, mà phải trăn trở nuôi dưỡng nó (Cú vẫn còn kêu). Nhưng khi “sa chân” bằng vũ lực khống chế việc kiếm tiền dưới hình thức trộm cướp loài vật lại là việc ác lớn hơn, đến việc ác tày trời “lỡ tay” sát hại “con người” phải bị pháp luật truy tố (Con Bin và người hàng xóm). Còn có người lại quá ư lương thiện “…bỏ bã, chuột chết không biết đâu mà tìm, thối inh cả nhà thì nguy. Với lại hàng ngày bố quen mắt nhìn lũ chuột cống đi lại trong vườn rồi, thiếu nó bố cũng buồn lắm” (Đàn chim của bố).   
      Trong Cú vẫn còn kêu, cho ta thấy được giá trị sự chân tình thẳng thắn bảo vệ danh dự người yêu của nhân vật “em” và lòng tự trọng của con người, nhưng không có sự hàm ơn đáp lại (Kẻ lỡ tàu)*. Sự thủy chung trong tình yêu luôn được nâng niu gìn giữ (Khoảng trời màu xanh)* nhưng do hoàn cảnh xã hội và chiến tranh chính là ngã rẽ đau thương (Khúc hát biệt ly)*.
      Nếu như cốt lõi trong cuộc mưu sinh, con người đâu chỉ tự bươn chải kiếm cái ăn cái mặc thường ngày, mà giá trị cuộc sống chính là mối quan hệ giữa con người với  nhau, nếu biết xóa đi những ích kỉ nhỏ nhen, những ganh tị hơn thua, biết thông cảm sẻ chia thì sẽ không có những cái kết đau buồn (Láng giềng)*. Còn trong gia đình ruột rà máu mủ chưa hết những hơn thua, tị nạnh, đùn đẩy bổn phận làm con, mà người mẹ kể lúc đã mất còn hiện về nhắc nhở làm ăn chân chính(Bà ngoại)*.

      Chùm truyện ngắn viết về năm tháng chiến tranh đầy khách quan như Đêm trắng*và sự tồn tại từ nguyên nhân ấy: Bước qua bờ cách, Đường tơ chưa dứt* lại khẳng định thêm sự sáng tạo của một nhà văn trong cái nhìn từ nhà báo, không là tuyên truyền, thể như nhắc nhở có hạnh phúc ngày khải hoàn dẫu đã qua bốn mươi năm, đã phải đổi bằng sự hi sinh của lớp người đi trước. Tác giả đưa người đọc cảm nhận vẻ đẹp tình người chính là quy luật tất yếu xã hội, cần gắn kết nhau. Phải biết trân trọng và gìn giữ. Nhất là trách nhiệm của thế hệ tiếp nối hôm nay.
      Cú vẫn còn kêu là hình tượng đẹp trong văn học. Không cần giải thích. Bạn đọc đến với mỗi truyện ngắn của Trần Quang Khanh có thể sự lí giải khác nhau, nhưng chung quy người cầm bút hết lòng với nhân vật trong tác phẩm. Dẫu chỉ ít nhân vật là loài vật, anh vẫn dành hẳn tình yêu thương mình với nó. Huống chi là người. Cú vẫn còn kêu đánh thức cái nhìn lệch lạc trong sự định hướng về vấn đề xã hội và cuộc sống hôm nay./.
_______________                                                          10.02. 2016/ NTP.
*Tên các truyện ngắn trong tập

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

NGÀN NĂM MỘT TRÁI TIM YÊU(Trích Bến Xuân, 2016)Nguyễn Thị Phụng


46. NGÀN NĂM MỘT TRÁI TIM YÊU

Tình yêu Hà Nội đâu chỉ riêng ai ?!
Mặt trời phương đông có từ ngày ấy
Ơi quê tôi, Người Anh hùng áo vải*!
Phất cờ đào tung vó ngựa Thăng Long
Quý sao ôi bậc tiền nhân!
Góp lẵng hoa ngàn năm Đông Đô- Hà Nội

Chọn đất Rồng- Tiên, vua về mở cõi
Tiếng trống đồng vọng lại Hội thề xưa**
Vận nước hưng suy chẳng thể chần chừ
Tất cả đồng lòng làm nên lịch sử!
Tự hào thay Nhà Lí dựng xây gìn giữ
Văn miếu cơ đồ con cháu sáng soi
Những cổ thụ xưa nay sừng sững giữ trời
Gốc rễ bám sâu thân mình vững chãi
Lời hịch thời Trần
mà bao lần quân Nguyên thất bại!

Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi,
viết Đại Nghĩa - Chí Nhân

Minh quân quý trọng thần dân
Đối với nghịch thù thì ruột gan sôi sục...









  
Ơi tháng Tám Mùa Thu!
Một Tuyên ngôn Độc lập
trước quảng trường Người đọc

Hồ Chí Minh rạng danh dân tộc!
Nắng Ba Đình sáng trong đôi mắt
Chiếc áo hoa nhân cách,
bát cơm thanh bạch thường ngày

Viết được dòng chữ:
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc hôm nay

Đã phải hòa bao nước mắt,
 mồ hôi xương máu,...


Từng cuộc chiến đi qua
để lại vết thương đau đáu

Chất độc da cam di chứng cả đời…

Hà Nội ngàn năm Tổ quốc ta ơi!
Đường phố thênh thang, xe cộ dập dìu,
đèn xanh đèn đỏ,…











 Trường học tầng cao 
nâng niu trang sử…
Hàng cây bờ cỏ, lá to lá nhỏ xôn xao
thố lộ: chuột bọ rình mò khoét lâu làm tổ,
thiết tha van nài sát trùng đúng chỗ,
ngăn ngừa hậu quả, thật giả nên hư...


Ôi Việt Nam lạc nghiệp an cư,
Ngàn năm Đông Đô- Hà Nội

Hồ Gươm xanh mãi một màu!...
                                             10.10.2009/NTP
__________ 
*Vua Quang Trung
**-Hội thề Sông Hát thời Hai Bà Trưng(Trước CN)
 - Hội thề Đồng Cổ thời Lí, Trần, Hồ
 - Hội thề Đông Quan thời Lê.
Các Hội thề trên còn tổ chức tại Hà Nội.

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

HỒ TRÊN NÚI (Trích Hương thảo thất, NXB HNV 2017) Nguyễn Thị Phụng


HỒ TRÊN NÚI










Ao hồ là nơi đất trũng chứa nước, thường là nước ngọt, nằm trong đất liền. Hồ thì rộng sâu hơn ao. Có những ao hồ tự nhiên, nhưng cũng có những ao hồ nhân tạo. Hồ trên núi mà tôi muốn giới thiệu với các bạn là Hồ Núi Một nằm trong địa phận xã Nhơn Tân, An Nhơn Bình Định khởi công xây dựng từ năm 1978 đến năm 1981 đã đưa vào khai thác. Năm 1983 công trình thủy lợi Hồ Núi Một chính thức được xây dựng xong với 3000 ha trực thuộc Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi IV chi nhánh Công ty khai thác công trình thủy lợi Bình Định ở xã Nhơn Hòa An Nhơn. Hồ Núi Một trước đây không chỉ tưới tiêu cho cả địa bàn An Nhơn và Tuy Phước. Sau khi Hồ Định Bình ở Tây Sơn đưa vào sử dụng chung, thì Hồ Núi Một mới dành trọn đời mình cho cánh đồng An Nhơn màu mỡ hơn. Nơi đây còn là khu du lịch sinh thái khá hấp dẫn đối với những ai thích khám phá cảnh tự nhiên mà con người đã góp phần tôn tạo.
Tôi đến tham quan Hồ Núi Một từ những năm 90 thế kỉ trước, trong ngày 8.3 trên một chiếc ghe hơn nửa giờ tha hồ ngắm cảnh núi rừng nơi đây. Gió mênh mang thổi hơi nước pha sương sớm giữa mùa xuân còn đọng lại, một chút lành lạnh chạm thoáng bên ngoài, bao nhiêu đề tài tình yêu rộn rã ấm áp át đi tiếng ghe máy xình xịch nặng nề. Khi gần đến bờ leo lên Thác Đổ, thật lạ chưa núi rừng đâu chỉ có một màu xanh, những cây lá đỏ chao mình khoe sắc, đâu đây biết bao hoa dại tỏa hương như muốn níu giữ chúng tôi hãy chầm chậm tận hưởng và yêu hơn vẻ đẹp quê mình.


Rồi hơn hai mươi năm, tháng 8. 2011 lại có dịp về thăm Hồ Núi Một. Hồ Núi Một vẫn như xưa. Nhưng lúc này nước cạn hơn, nếu như anh Hùng – người điều khiển chiếc ca nô lệch tay lái một chút thì bị vướng vào những dây rế dây chồ kéo cá lồ lộ nằm dọc ngang mặt hồ. Và nếu như không có câu chuyện hôm tết năm ngoái, cùng lúc chiếc ca nô đang lao ra giữa hồ, con cá chép du xuân phóng khỏi mặt nước, phơi mình đưa mắt nhìn trời trước chân con trai tôi, làm quà tặng cho bữa tiệc trưa hôm ấy, thì tôi cũng chưa có chuyến đi câu cá cuối hè đầy bổ ích, thú vị. Bên cạnh tôi là anh Nguyễn Trọng Phủ trước đây là giám đốc Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi IV, nay là Phó giám đốc Công ty khai thác công trình thủy lợi Bình Định cho biết: Hồ Núi Một có dung tích thiết kế 110 triệu mét khối nước (diện tích mặt thoáng 110 km2), hai đập dâng nước trên sông: Đập Cây Bứa, đập Phú Sơn và hệ thống kênh mương có tổng chiều dài L = 76,3km, với diện tích phục vụ tưới 8.115,5 ha/ năm đất sản xuất nông nghiệp thuộc các xã Nhơn Tân, Nhơn Lộc, Nhơn Thọ, Nhơn Hòa, Nhơn Phúc huyện An Nhơn và một phần của xã Bình Nghi huyện Tây Sơn. Còn anh anh Trần Văn Cẩn, tổ trưởng tổ đầu mối Hồ Núi Một nói thêm: Xí nghiệp dịch vụ Thủy lợi đã phối hợp với Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư tỉnh và trạm khuyến nông An Nhơn thực hiện nuôi cá lồng đã đem lại hiệu quả kinh tế tốt. Công tác bảo vệ cá thịt luôn được chú trọng, trang bị đầy đủ các công cụ hỗ trợ, tổ bảo vệ của xí nghiệp có nhiều cố gắng và trách nhiệm trong việc tuần tra canh gác, quản lí nguồn cá, kịp thời ngăn chặn những trường hợp người dân khai thác trộm cá trong hồ. Tuy nhiên do diện tích hồ rộng nên hiệu quả công tác bảo vệ chưa đạt yêu cầu toàn diện.

Anh Hùng cho chiếc ca nô rẽ trái, đỗ gần bờ cát. Mấy anh em chúng tôi người mang ba lô, người cầm cần câu, túi xách tìm vị trí an toàn nhất cho mình, móc mồi thả câu. Cánh tay đưa ra đã mỏi, mà chiếc phao chẳng hề động đậy. Nhưng ngoài xa kia cách chúng tôi khoảng mười lăm mét trở lại, những con cá tung hứng bung mình trắng phếu trên không rồi lọt thỏm vào lòng nước cùng với họ hàng nhà nó, gởi lại âm thanh và lấp lánh ánh bạc trong sự tiếc nuối của chúng tôi. Hay là mồi trùn, mồi tôm mà anh tôi chuẩn bị từ hôm qua chưa ngon miệng. Hay những con cá chỉ thích ăn mồi công nghiệp hợp vệ sinh hơn. Hay chúng cảnh báo nhau đừng dùng mồi lạ dễ bị mắc lừa. Có lẽ vậy. Hay là chúng tôi không phải là dân chuyên nghiệp đi câu kiếm miếng cơm manh áo nuôi gia đình. Cũng đâu phải “Tựa gối ôm cần” như Nguyễn Khuyến thuở nào nữa, giờ đành chịu khi chưa nghĩ ra câu thứ tư để cho cái tứ thơ hoàn chỉnh. Rồi nhìn chừng sang phía trên hai cái cần tre dài mới mua còn cắm vào kẻ đá, bóng anh tôi đâu còn đổ dài trên mặt nước như lúc mới móc mồi. Chiếc mũ lưỡi trai không làm sao che khuất khuôn mặt rám nắng đỏ au, cũng như lưng áo đã đẫm mồ hôi, còn con gió biết điều cứ  hây hây thổi. Anh tôi lẩm bẩm lầm bầm mấy con cá dại quá không chịu ăn mồi, tôm đã rang thơm như thế mà chê! Câu cả buổi chẳng được con nào. Câu đời chứ câu gì đây! Nghe thích quá, chính anh đã cung cấp một từ “câu đời” cho bài thơ tôi hoàn chỉnh: “Móc mồi nhử cá cắn câu/ Gió vờn sóng nước vực sâu thâm trầm/ Mây bàng bạc bóng lâm râm/ Buông cần tay đợi lặng câm câu đời” (Buông câu).
Khi tất cả bước lên lại ca nô lúc này trời đã đứng bóng, những chiếc cần câu nằm im lìm say nắng  chẳng làm nên tích sự gì. Còn tôi chỉ tiếc có thể đây là “bất quá tam” (sau lần thứ nhất ở thắng cảnh Hầm Hô, lần thứ hai ở Cồn Chim đầm Thị Nại đều xếp cần câu cho vào túi), thế nào cũng tìm được cảm giác sung sướng khi con cá tham lam kéo mồi, rồi chính tay mình giựt mạnh nó lên khỏi mặt nước, nhìn tận mắt nó ra sao! Thế nhưng sự tưởng tượng ấy chẳng bao giờ đến được với mình. Nếu không có sự chuẩn bị chu đáo trước của các anh em trong tổ quản lí cụm công trình đầu mối Hồ Núi Một như anh Cẩn, anh Hùng, anh Hiền và chị Sâm phòng kĩ thuật Công ty khai thác công trình thủy lợi Bình Định đã cho chúng tôi thưởng thức bữa cá chép hấp cuốn bánh tráng rau sống ngay trên tảng đá dưới lùm cây lộc vừng đầy hấp dẫn. Bù lại lúc phải đứng ngồi chờ đợi trong nắng gió thả cần mong mỏi đến dài cái cổ cũng không làm sao có được một con bống nhỏ xíu nữa.

Áng mây trắng hình ba ngọn tháp bồng bềnh ở phía tây đã lọt vào ống kính cố định rồi, bầu trời lúc này xanh thẳm nhuốm màu vàng rót mật cho nước hồ biếc trong, chỉ có bãi cát ven bờ cùng với những tản đá lởm chởm trần mình dưới nắng gắt cuối hè. Có lẽ đây là mùa khô nên nó mới tha hồ hít thở khí trời no nê thỏa thích như thể bù những ngày mưa xối xả phải im lìm chịu đựng tù túng đến ngột ngạt làm sao. Nhưng chính nhờ những ngày mưa lụt ấy, Hồ Núi Một mới có cơ hội làm nhiệm vụ dự trữ lượng nước trời rơi xuống rồi theo từng đợt xả tưới theo mùa, theo vụ nuôi cây lúa dày bông trĩu hạt cho nhà nông được ấm no. Khi chiếc ca nô còn đang mạnh mẽ rẽ sóng, tôi đưa bàn tay ra ngoài vớt lấy những bọt nước tung trắng xóa một bên mạn. Ôi, thích thật, mát ngọt trong lành quá! Nguồn nước tự nhiên vô tận cứ luân lưu hết mùa này đến mùa khác nuôi sống con người, nuôi sống đất dai màu mỡ tiếp nối bản trường ca xuân bất tử cho cây đời mãi xanh tươi tốt.
Trở lại đề tài câu cá, tôi mới được biết thêm cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Hồ Núi Một ở mức độ đầu tư còn thấp, nên vấn đề liên doanh liên kết với các đơn vị bạn còn khó khăn chưa có sức thu hút cao. Hiện nay xí ngiệp đầu tư xây dựng kế hoạch tìm kiếm các tour du lịch cùng khách sạn nhà hàng và trung tâm dịch vụ lữ hành, có chế độ ưu đãi đối với những tập thể, cá nhân có vốn muốn đầu tư mở rộng dịch vụ du lịch sinh thái, vui chơi giải trí hấp dẫn nơi Hồ Núi Một này. Định hướng phát triển của xí nghiệp dịch vụ Thủy lợi là hết sức tiềm năng và phong phú, đa dạng cùng với tinh thần đoàn kết vượt khó của tập thể cán bộ, công nhân viên chức lao động của xí nghiệp trong những năm qua, chính là nguồn động lực và niềm tin sẽ đạt nhiều thành tích mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng xí nghiệp ngày càng phát triển, phong phú đa dạng cho các hoạt động của công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Định.
Hồ Núi Một là nguồn nước vô tận phục vụ sản xuất nông nghiệp làm nên những vựa lúa chín vàng cho các xã thuộc huyện An Nhơn, là nơi nuôi cá nước ngọt đa dạng phong phú cho bữa cơm thường ngày ngon miệng của mỗi gia đình, là khu du lịch sinh thái thư giãn cho những tập thể, cá nhân sau giờ phút lao động mệt mỏi. Các bạn chỉ cần ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ thả câu tâm tình sẻ chia vui buồn trong cuộc sống, bao nỗi vất vả bộn bề tan theo con gió lên ngàn xa xăm kia.
Hồ Núi Một không xa lắm, nằm về phía tây của quán Cây Ba (Nhơn Lộc) cách quốc lộ 19 khoảng chừng 6 kilomet trên tuyến đường từ Quy Nhơn đi Tây Sơn. Còn dọc đường từ quốc lộ vào hồ “trên núi ấy” hai bên là hàng bạch đàn thẳng tắp, nhà cửa san sát, những khuôn vườn trồng cây ăn quả tốt tươi, thu hút nhất vẫn là những ao súng tím đỏ thắm trên mặt nước đầy kiêu hãnh giữa trời đất. Nhưng có lẽ khi  sắp ngả chiều, chúng tự biết mình phải gìn giữ sắc hương không thể nhạt nhòa, nên dần khép kín từng cánh lại để cho sớm mai tiếp tục bung ra cuốn hút đôi mắt hiếu kì qua đây. Thời gian quả là phép nhiệm màu trong cuộc sống. Và thật sự bỡ ngỡ nhớ ba mươi lăm năm về trước, lúc ấy khối học sinh cuối cấp phổ thông An Nhơn I năm học 1975-1976, chúng tôi tự quản lí nhau đã từng có mặt nơi núi rừng An Trường (An Tượng) này cả tuần, cất vang tiếng hát nhịp nhàng hòa theo mỗi nhát rựa phát xuống san bằng cây cỏ dại làm nên nương rẫy, mở rộng đất đai trồng trọt đem lại bao nhiêu là niềm vui rạng rỡ trên từng gương mặt người yêu thương quá.
                         Tháng 9. 2011

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018

VỖ VỀ NHUNG NHỚ (Trích Cho anh xin lỗi, NXB HNV 2014) Nguyễn Thị Phụng.


VỖ VỀ NHUNG NHỚ
 
 Chuyến xuyên Việt dài ngày ngỡ vơi đi nỗi nhớ..., nhưng thật lạ cố quên lại hiện về.
 Hôm nay là ngày thứ ba, vẫn chiếc xe 16 chỗ ngồi bon nhanh, Lạng Sơn hun hút, bài ca dao thuở bé đã thuộc nằm lòng: "Đường lên xứ Lạng bao xa/ cách một trái núi với ba quãng đồng..." đến lúc này thấy mình còn khờ khạo đếm mãi, đếm mãi núi tiếp núi hiện ra như những bức tường thành sừng sững phía trước, đồng tiếp đồng trải dài một màu xanh ngút ngàn trong tầm mắt... và rồi Lạng Sơn đây: Động Tam Thanh huyền bí linh thiêng; Thành nhà Mạc dấu ấn rêu phong còn lại; phố chợ đêm Kì Lừa rộn ràng mặc cả bán mua, mà sao nàng Tô Thị cô lẻ lạnh lùng bế con mắt nhìn xa xăm u hoài đến vậy! Hay muốn giữ lại cái nghĩa trăm năm mặn nồng son sắt của một phụ nữ thuần phong Đông Á!... Tôi không là Tô Thị phải mòn mỏi thanh xuân.Yêu đời và yêu người là khúc ca bất tận từng giờ từng ngày trong tôi. Ai đó đã mãn vui quên hết lời em dặn dò... cũng không sao! Nói thế, mà sao trái tim tôi xôn xao nhịp đập khi đoạn đường dài tít tắp ngái xa...

3.2010





















Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2018

NHẮN ,(Trích Bến xuân, NXB HNV- 2016) thơ Nguyễn Thị Phụng


NHẮN




















Rồi có một ngày… ta mãi ra đi
Bởi hết hạn làm người dương thế
Phải xa cả vầng trăng vàng muôn thuở
Xa con đường chiều lộng gió thênh thang

Rồi có một ngày… ta mãi lang thang
Cùng rong ruổi về miền hoang dại
Có gặp được bạn bè xưa thân ái
Mà sẻ chia những vất vả dương trần…

Rồi một ngày… ta ngự đỉnh phù vân
Trên cao ấy ung dung còn ngoái lại
Tủm tỉm cười thường đời ta khờ dại
Gánh đa mang đâu chỉ mỗi riêng mình

Rồi một ngày… ta vĩnh viễn lặng thinh
Chỉ có biển khơi, dòng đời bất tận
Thương những ngày… những ngày lận đận
Trần gian ơi, ta đã sống là người!...
                                    18.01.2009



Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

ĐƯỜNG LÀNG SƠN MỸ NĂM XƯA, thơ Nguyễn Thị Phụng


Giờ còn lại dấu xưa.


ĐƯỜNG LÀNG SƠN MỸ NĂM XƯA
      Thăm chứng tích Sơn Mỹ Quảng Ngãi 28.7.2013

Hanh hanh nắng đổ sân hè
Ban trưa ve càng the thắt
Bước chân ta chùng nặng trịch
Lần theo dấu cũ mà đau…

Thấu chăng Sơn Mỹ ngày nào!
Đường làng thét gào máu lửa
Oan hồn bao năm khốn khổ
Đâu nguôi bám trụ trần gian

Trâng tráo “giày đinh” nhầy nhụa
Trời xanh xót xa thôn xóm
Nhức nhói chân quê vật lộn
Còn in năm ngón đường làng…

Từng nhà cột kèo cháy dở,…
Lối ngõ, bia mộ, … chứng nhân
Nén nhang sao nhòa ánh mắt
Đường làng ăm ắp nắng hanh…
                      02.9.2013